Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hà Nội sở hữu tổng diện tích rừng và đất quy hoạch lâm nghiệp đạt 27.756 ha, trong đó có 7.580 ha rừng tự nhiên và 12.495 ha rừng trồng phân bố trọng điểm tại các khu vực Ba Vì, Sóc Sơn và Mỹ Đức. Tại huyện Mỹ Đức, khu rừng đặc dụng Hương Sơn với quy mô 3.320,41 ha và độ tàn che phủ đạt 48,6% đóng vai trò là lá phổi xanh, đồng thời là trung tâm bảo tồn đa dạng sinh học núi đá vôi đặc sắc của vùng đồng bằng Bắc Bộ. Tuy nhiên, hoạt động khai thác du lịch tại quần thể di tích và danh thắng chùa Hương từ trước đến nay chủ yếu tập trung vào loại hình du lịch văn hóa tâm linh trong 3 tháng lễ hội đầu năm, tạo áp lực quá tải cục bộ lên môi trường sinh thái và để trống tiềm năng tài nguyên rừng trong 9 tháng còn lại.

Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải đánh giá toàn diện tiềm năng sinh thái để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ khai thác tâm linh mùa vụ sang du lịch sinh thái rừng bền vững. Luận văn Thạc sĩ Khoa học Môi trường của tác giả Đào Xuân Việt hướng đến mục tiêu khảo sát thực trạng quản lý, kiểm kê nguồn tài nguyên động thực vật, phân tích các nhân tố thuận lợi cùng trở ngại, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản lý và khai thác bền vững các sản phẩm du lịch từ rừng đặc dụng Hương Sơn. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi không gian toàn bộ xã Hương Sơn, với dữ liệu theo dõi giai đoạn 2014 - 2018 và khảo sát thực địa từ tháng 9/2018 đến tháng 2/2019. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện qua việc định hình giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cho địa phương, nơi cơ cấu ngành du lịch - thương mại - dịch vụ chiếm tới 69,13% tổng giá trị thu nhập (đạt 728 tỷ đồng năm 2017) với mức thu nhập bình quân 31 triệu đồng/người/năm, đồng thời bảo đảm tính nguyên vẹn của hệ sinh thái rừng đặc dụng quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết phát triển du lịch bền vững dựa trên 10 nguyên tắc của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN, 1998), nhấn mạnh sự cân bằng giữa khai thác kinh tế, trách nhiệm xã hội và bảo tồn đa dạng sinh học. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp quan điểm chuẩn mực của Hector Ceballos-Lascurain (1987) và định hướng Chiến lược phát triển du lịch sinh thái Việt Nam (1999), xác định du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, gắn liền với văn hóa bản địa, nâng cao nhận thức cộng đồng và giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến môi trường.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa theo Luật Du lịch 2017 và Luật Lâm nghiệp 2017 bao gồm:

  • Rừng đặc dụng: Hệ sinh thái rừng tự nhiên được xác lập nhằm bảo tồn nguồn gen sinh vật, bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa và cung ứng dịch vụ môi trường rừng gắn với du lịch sinh thái có kiểm soát.
  • Sức chứa du lịch: Ngưỡng giới hạn tối đa về lượng du khách tại một không gian và thời điểm nhất định nhằm đảm bảo không phá vỡ cân bằng sinh thái tự nhiên và giữ vững chất lượng trải nghiệm của du khách.
  • Khai thác bền vững tài nguyên du lịch: Phương thức khai thác các giá trị dịch vụ hệ sinh thái vừa thỏa mãn nhu cầu trải nghiệm hiện tại, vừa duy trì nguồn vốn tự nhiên ổn định cho các thế hệ tương lai.
  • Sản phẩm du lịch sinh thái: Tập hợp các dịch vụ trải nghiệm thiên nhiên, khám phá cảnh quan và đa dạng sinh học trên cơ sở bảo tồn nguyên vẹn tài nguyên rừng.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo kiểm kê tài nguyên của Chi cục Kiểm lâm Hà Nội, Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn giai đoạn 2014 - 2018, kết hợp các văn bản quản lý của Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua điều tra thực địa từ tháng 9/2018 đến tháng 2/2019 với cỡ mẫu nghiên cứu gồm 90 đối tượng: 50 khách du lịch trong nước, 20 hộ kinh doanh dịch vụ và 20 cán bộ quản lý thuộc Ban Quản lý và chính quyền địa phương. Phương pháp chọn mẫu phi xác suất kết hợp thuận tiện và chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tiếp cận trực tiếp các nhóm tác nhân chủ chốt tại các điểm nút giao thông suối Yến, bến Trò và khu vực động Hương Tích.

Phương pháp phân tích chủ đạo là đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) kết hợp thống kê mô tả và so sánh đối chiếu. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là vì hệ sinh thái du lịch Hương Sơn mang tính chất đan xen phức tạp giữa quản lý nhà nước, quyền lợi sinh kế của 1.178 hộ vận chuyển đò, 318 hộ kinh doanh dịch vụ và tính đa dạng sinh học nhạy cảm của 3.320,41 ha rừng đặc dụng. Cách tiếp cận PRA cho phép lượng hóa trải nghiệm của du khách và nhận diện các xung đột lợi ích tài nguyên một cách khách quan, toàn diện.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, khu rừng đặc dụng Hương Sơn sở hữu nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú phân bố trên 8 hệ sinh thái rừng núi đá vôi và ngập nước. Thống kê ghi nhận 873 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 577 chi, 185 họ của 6 ngành thực vật, trong đó có 24 loài quý hiếm như trầm hương, sưa, chò chỉ, nghiến, lan kim tuyến và rau sắng. Về khu hệ động vật, nghiên cứu ghi nhận 288 loài động vật có xương sống trên cạn thuộc 84 họ, 26 bộ cùng 374 loài côn trùng; trong đó có 40 loài nguy cấp quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen quốc tế và 208 loài có vai trò bảo vệ rừng tự nhiên.

Thứ hai, cơ cấu kinh tế địa phương phụ thuộc sâu sắc vào hoạt động du lịch dịch vụ nhưng chịu tính mùa vụ nặng nề. Doanh thu ngành du lịch - thương mại chiếm 69,13% tổng giá trị kinh tế xã Hương Sơn (năm 2017 đạt 728 tỷ đồng), tạo sinh kế cho 1.178 hộ dân chèo đò với 3.289 xuồng đò tay và 318 hộ kinh doanh mặt bằng. Tuy nhiên, hơn 90% lượng khách và doanh thu chỉ tập trung dồn dập vào 3 tháng lễ hội đầu năm âm lịch, dẫn đến tình trạng suy giảm thu nhập của người dân trong 9 tháng mùa kiệt.

Thứ ba, cơ cấu sản phẩm du lịch đơn điệu và cơ sở hạ tầng lưu trú chưa tương xứng với tiềm năng. Toàn khu vực chỉ có 5 khách sạn đạt chuẩn từ 1 đến 3 sao với quy mô 133 phòng và 95 nhà nghỉ (trong đó 89 cơ sở hoạt động thời vụ). Trong số 318 cơ sở dịch vụ, các hàng quán bán nước giải khát chiếm tỷ trọng áp đảo với 181 cơ sở (chiếm 56,9%), hàng ăn uống có 14 cơ sở, trong khi các sản phẩm trải nghiệm sinh thái rừng chỉ chiếm dưới 10% doanh thu.

Thứ tư, áp lực quá tải cục bộ vào mùa lễ hội tạo ra nguy cơ lớn đối với môi trường nước suối Yến và thảm thực vật ven các lối mòn leo núi. Hệ thống cấp nước sạch Thiên Trù - Hương Tích công suất 750 m3/ngày đêm và các trạm cấp nước tập trung 6.000 m3 của xã thường xuyên phải hoạt động hết công suất trong những ngày cao điểm đón hàng chục vạn lượt khách.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa tiềm năng sinh thái đồ sộ và thực trạng khai thác đơn điệu bắt nguồn từ việc thiếu vắng quy hoạch bài bản cho các tuyến du lịch sinh thái chuyên đề. Hoạt động quản lý hiện tại chủ yếu tập trung điều tiết an ninh trật tự lễ hội tâm linh mà chưa phát huy được giá trị của 8 hệ sinh thái rừng tự nhiên. Tình trạng này tương đồng với nhận định của các nghiên cứu tại Vườn Quốc gia Cát Bà và Ba Vì, nơi cộng đồng địa phương dù phụ thuộc vào du lịch nhưng tỷ lệ hưởng lợi trực tiếp từ các dịch vụ sinh thái còn phân tán và chưa có cơ chế tái đầu tư bền vững cho bảo tồn.

Để trực quan hóa các phát hiện này, số liệu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột kép phản ánh xu hướng biến thiên giữa lượng khách và doanh thu giai đoạn 2014 - 2018, giúp minh chứng rõ nét mức độ tập trung đỉnh điểm vào mùa xuân. Đồng thời, một bảng ma trận phân loại diện tích của 8 hệ sinh thái trên tổng diện tích 3.320,41 ha kết hợp tỷ lệ phân bổ 873 loài thực vật và 288 loài động vật sẽ làm nổi bật tiềm năng phát triển các tour du lịch sinh thái học tập, nghiên cứu và dã ngoại trải nghiệm.

Đề xuất và khuyến nghị

Một là, hoàn thiện quy hoạch phân vùng chức năng và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước: Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức cùng Ban Quản lý Di tích Thắng cảnh Hương Sơn cần rà soát, cắm mốc ranh giới 3.320,41 ha rừng đặc dụng, phân định rõ phân khu bảo vệ nghiêm ngặt và phân khu dịch vụ - hành chính. Mục tiêu đặt ra là kiểm soát 100% các dự án hạ tầng du lịch không xâm phạm vùng lõi sinh thái, hoàn thành phê duyệt đề án quy hoạch tổng thể trong giai đoạn 2020 - 2022.

Hai là, đa dạng hóa các sản phẩm du lịch sinh thái rừng chất lượng cao: Ban Quản lý phối hợp với các doanh nghiệp lữ hành chuyên nghiệp xây dựng 3 tuyến du lịch sinh thái mới bao gồm tuyến khám phá thảm thực vật núi đá vôi - rau sắng, tuyến thám hiểm hang động tự nhiên Long Vân - Tuyết Sơn và tuyến dã ngoại ngắm cảnh dọc suối Yến ngoài mùa lễ hội. Mục tiêu thu hút thêm 25% lượng khách tham quan trong giai đoạn từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, thực hiện từ năm 2021 đến 2025.

Ba là, đào tạo phát triển nguồn nhân lực du lịch sinh thái gắn với cộng đồng: Sở Du lịch Hà Nội và chính quyền xã Hương Sơn tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng hướng dẫn viên sinh thái, văn hóa giao tiếp và bảo vệ môi trường cho 100% các hộ kinh doanh (318 cơ sở) và 1.178 hộ vận chuyển đò. Chương trình đặt mục tiêu nâng cao nhận thức bảo tồn đạt trên 95% số hộ dân tham gia dịch vụ trong lộ trình 2021 - 2024.

Bốn là, thiết lập cơ chế tài chính bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học: Trích lập tối thiểu 15% đến 20% tổng nguồn thu từ phí tham quan thắng cảnh hàng năm để tái đầu tư trực tiếp cho công tác tuần tra bảo vệ rừng, phục hồi các loài cây đặc hữu quý hiếm như rau sắng, sưa, chò chỉ và hỗ trợ sinh kế chuyển đổi cho người dân địa phương giai đoạn 2021 - 2030 do Huyện ủy và Ban Quản lý chủ trì thực hiện.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Các nhà quản lý di tích, ban quản lý rừng đặc dụng và chuyên gia quy hoạch du lịch: Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu khoa học về hiện trạng 3.320,41 ha rừng đặc dụng và khung giải pháp giảm tải cho các di tích danh thắng chịu áp lực du lịch tâm linh mùa vụ cao điểm.
  • Doanh nghiệp lữ hành và nhà đầu tư phát triển du lịch sinh thái: Cung cấp thông tin chi tiết về 8 hệ sinh thái, danh lục 873 loài thực vật và 288 loài động vật để xây dựng các gói tour trekking, dã ngoại, khám phá thiên nhiên mới lạ ngoài mùa lễ hội truyền thống.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên ngành Khoa học Môi trường, Lâm nghiệp và Quản lý Tài nguyên: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp tiếp cận PRA, mô hình đánh giá sức chứa du lịch và các chỉ số thống kê thực nghiệm trong hệ sinh thái núi đá vôi.
  • Chính quyền địa phương xã Hương Sơn và các huyện ngoại thành có rừng: Nắm bắt các định hướng chuyển dịch sinh kế bền vững cho 1.178 hộ lái đò và 318 hộ kinh doanh, dung hòa giữa mục tiêu tăng trưởng kinh tế xã hội và nhiệm vụ bảo vệ môi trường rừng.

Câu hỏi thường gặp

  • Rừng đặc dụng chùa Hương có quy mô diện tích và đặc trưng sinh thái nổi bật như thế nào? Rừng đặc dụng Hương Sơn có tổng diện tích 3.320,41 ha với độ tàn che phủ đạt 48,6%. Hệ sinh thái mang tính chất đặc trưng của vùng núi đá vôi nhiệt đới ngập nước và đồi đất thấp, bao gồm 8 kiểu hệ sinh thái phụ trợ, lưu giữ 873 loài thực vật bậc cao và 288 loài động vật có xương sống quý hiếm.

  • Thực trạng cơ cấu kinh tế tại xã Hương Sơn phụ thuộc vào hoạt động du lịch ra sao? Theo số liệu năm 2017, tỷ trọng ngành du lịch - thương mại - vận tải chiếm tới 69,13% cơ cấu kinh tế xã Hương Sơn, mang lại tổng giá trị 728 tỷ đồng và mức thu nhập bình quân 31 triệu đồng/người/năm. Hoạt động này tạo sinh kế trực tiếp cho 1.178 hộ đăng ký vận chuyển đò và 318 cơ sở dịch vụ.

  • Những loài động, thực vật quý hiếm nào có giá trị cao nhất tại khu bảo tồn Hương Sơn? Rừng ghi nhận 24 loài thực vật quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam như sưa, trầm hương, chò chỉ, nghiến, lan kim tuyến và đặc sản rau sắng. Về động vật, có 40 loài quý hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen, cùng 208 loài đóng vai trò bảo vệ cân bằng sinh thái rừng tự nhiên.

  • Hạn chế lớn nhất trong khai thác du lịch tại thắng cảnh chùa Hương hiện nay là gì? Hạn chế cốt lõi là tính mùa vụ cực đoan khi lượng khách tập trung dồn dập vào 3 tháng lễ hội đầu năm, gây quá tải cục bộ cho dòng suối Yến và các điểm di tích. Trong khi đó, các sản phẩm du lịch sinh thái rừng đặc sắc trong 9 tháng còn lại chưa được quy hoạch và khai thác hiệu quả.

  • Giải pháp trọng tâm nào giúp cân bằng giữa bảo tồn rừng đặc dụng và phát triển kinh tế du lịch? Luận văn đề xuất tái cơ cấu sản phẩm du lịch bằng cách mở các tour sinh thái trải nghiệm thảm thực vật núi đá vôi ngoài mùa hội, kết hợp trích lập 15% đến 20% phí tham quan để tái đầu tư bảo tồn 3.320,41 ha rừng và tập huấn kỹ năng sinh thái cho 1.178 hộ lái đò.

Kết luận

  • Rừng đặc dụng chùa Hương sở hữu tiềm năng sinh thái to lớn với 3.320,41 ha diện tích, 8 hệ sinh thái, 873 loài thực vật và 288 loài động vật cần được bảo tồn nghiêm ngặt.
  • Hoạt động kinh tế địa phương phụ thuộc lớn vào dịch vụ du lịch (chiếm 69,13% cơ cấu kinh tế), tạo việc làm cho 1.178 hộ lái đò và 318 hộ kinh doanh nhưng đang đối mặt với sự quá tải mùa vụ.
  • Hệ thống hạ tầng lưu trú với 5 khách sạn đạt chuẩn và các sản phẩm du lịch sinh thái hiện chỉ chiếm tỷ trọng dưới 10%, đòi hỏi phải đa dạng hóa các tuyến trải nghiệm thiên nhiên quanh năm.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp bao gồm hoàn thiện quy hoạch phân khu, mở 3 tuyến du lịch sinh thái mới, đào tạo nguồn nhân lực bản địa và trích 15% đến 20% doanh thu cho quỹ bảo tồn đa dạng sinh học.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là cung cấp khung đánh giá thực nghiệm toàn diện về tài nguyên rừng đặc dụng, mở ra định hướng phát triển du lịch sinh thái bền vững cho Thủ đô Hà Nội.

Kế hoạch triển khai tiếp theo cần được cụ thể hóa trong giai đoạn 2021 - 2025 thông qua sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, các viện nghiên cứu lâm nghiệp và các đơn vị lữ hành. Các nhà quản lý và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng hành động để biến tiềm năng rừng Hương Sơn thành sản phẩm du lịch xanh bền vững.