Luận văn quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Phú Tân - ĐH Thủ Dầu Một

Luận văn đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Phú Tân theo mô hình thành phố không rác Thủ Dầu Một.

Chuyên ngành

Khoa học môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2025

119
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Phú Tân

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển đô thị bền vững. Quá trình đô thị hóa nhanh tại thành phố Thủ Dầu Một kéo theo lượng rác thải gia tăng đáng kể. Nghiên cứu tập trung đánh giá nguồn gốc, thành phần và khối lượng rác thải tại phường Phú Tân. Cơ sở lý luận bám sát các quy định pháp luật hiện hành, đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Rác thải sinh hoạt được chuẩn hóa phân loại thành ba nhóm chính. Nhóm một gồm chất thải có khả năng tái chế như nhựa, giấy, kim loại. Nhóm hai gồm chất thải thực phẩm dễ phân hủy. Nhóm ba gồm các loại rác thải còn lại cần xử lý kỹ thuật. Nghiên cứu làm rõ tác động qua lại giữa thói quen tiêu dùng và hiệu quả thu gom rác. Mục tiêu cốt lõi hướng đến việc tối ưu hóa chu trình tuần hoàn vật liệu đô thị. Kết quả khảo sát cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho các nhà hoạch định chính sách địa phương.

1.1. Khung pháp lý và cơ sở lý luận quản lý rác thải

Hệ thống pháp luật Việt Nam thiết lập khung quy định chặt chẽ về bảo vệ môi trường đô thị. Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định rõ nguyên tắc phân loại rác tại nguồn. Nhà nước khuyến khích áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn trong xử lý chất thải rắn. Các quy định phân định rõ trách nhiệm của hộ gia đình, cơ sở kinh doanh và đơn vị dịch vụ vệ sinh môi trường. Việc lưu giữ rác thải phải tuân thủ bao bì quy chuẩn theo từng mã màu riêng biệt. Khung pháp lý này tạo nền tảng vững chắc cho việc triển khai mô hình thành phố không rác tại địa phương.

1.2. Mục tiêu áp dụng mô hình thành phố không rác

Mô hình thành phố không rác đặt trọng tâm vào việc giảm thiểu phát thải ngay tại nguồn. Chiến lược này ưu tiên tối đa hóa tỷ lệ tái chế và tái sử dụng chất thải rắn sinh hoạt. Mục tiêu chính là giảm dần khối lượng rác đem đi chôn lấp trực tiếp. Thành phố Thủ Dầu Một hướng đến xây dựng môi trường sống xanh, văn minh và hiện đại. Việc triển khai mô hình tại phường Phú Tân đóng vai trò thử nghiệm thực tế then chốt. Sự chuyển biến trong nhận thức cộng đồng là chìa khóa then chốt quyết định thành công của đề tài.

II. Phân tích hiện trạng quản lý chất thải rắn tại phường Phú Tân

Thực trạng phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại phường Phú Tân phản ánh rõ đặc điểm phát triển đô thị mới. Lượng rác thải sinh hoạt tăng dần theo quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Hoạt động phân loại tại nguồn của các hộ dân vẫn còn nhiều điểm hạn chế. Tỷ lệ rác thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng khối lượng chất thải hàng ngày. Công tác thu gom rác hiện do đơn vị công ích cùng lực lượng thu gom dân lập phối hợp thực hiện. Phương tiện vận chuyển còn thiếu đồng bộ, dẫn đến nguy cơ rơi vãi và gây mùi hôi cục bộ. Điểm tập kết rác tạm thời chưa đáp ứng hoàn toàn các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt. Ý thức tuân thủ lịch đổ rác của một bộ phận người dân chưa thực sự đồng đều. Tình trạng vứt rác tại các khu đất trống vẫn diễn ra rải rác. Điều này gây khó khăn cho việc duy trì cảnh quan đô thị sạch đẹp và an toàn.

2.1. Đánh giá hệ thống thu gom và hạ tầng trung chuyển

Hạ tầng kỹ thuật phục vụ công tác thu gom tại địa bàn còn bộc lộ nhiều bất cập. Mạng lưới xe gom thô sơ vẫn chiếm tỷ lệ đáng kể trong các tuyến đường hẻm nhỏ. Tần suất thu gom chưa thực sự tối ưu trong những khung giờ cao điểm phát sinh rác. Trạm trung chuyển tạm thời đối mặt với tình trạng quá tải cục bộ vào các dịp lễ tết. Trang thiết bị bảo hộ và phương tiện chuyên dụng chưa đồng bộ trên toàn tuyến. Nguồn lực tài chính dành cho việc nâng cấp hạ tầng xử lý rác vẫn còn hạn chế. Công tác bảo trì trang thiết bị thu gom chưa được thực hiện định kỳ và đồng bộ.

2.2. Khảo sát ý thức phân loại rác thải của người dân

Khảo sát thực tế cho thấy sự chênh lệch rõ rệt về nhận thức môi trường trong các nhóm dân cư. Đa số hộ dân có thói quen gom chung tất cả các loại rác vào một túi duy nhất. Hoạt động tái chế chủ yếu dừng lại ở việc bán phế liệu có giá trị kinh tế cao. Tỷ lệ phân loại rác hữu cơ để làm phân bón compost tại hộ gia đình rất thấp. Người dân thiếu hướng dẫn chi tiết về quy chuẩn đóng gói bao bì rác theo màu sắc. Công tác tuyên truyền tại khu phố chưa duy trì được tính liên tục và chuyên sâu. Ý thức tự giác bảo vệ cảnh quan chung cần được bồi dưỡng qua các phong trào cộng đồng thiết thực.

III. Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt toàn diện

Hệ thống giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt cần kết hợp đồng bộ giữa kỹ thuật và quản lý xã hội. Giải pháp cốt lõi là chuẩn hóa quy trình phân loại rác tại nguồn ở từng hộ gia đình. Chính quyền địa phương cần phát miễn phí hoặc trợ giá túi đựng rác theo quy định màu sắc chuẩn. Địa phương cần đầu tư nâng cấp phương tiện thu gom chuyên dụng có ngăn phân loại riêng biệt. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý lộ trình xe rác giúp tiết kiệm chi phí vận hành. Đồng thời, mô hình xử lý rác hữu cơ quy mô hộ gia đình và cụm dân cư cần được nhân rộng. Công nghệ ủ vi sinh compost biến rác thực phẩm thành phân bón chất lượng cao phục vụ cây xanh. Ngoài ra, việc thiết lập các trạm thu hồi rác tái chế có thưởng sẽ kích thích người dân tham gia tích cực. Sự phối hợp giữa ban ngành, đoàn thể và doanh nghiệp đóng vai trò quyết định.

3.1. Hoàn thiện quy trình phân loại và công nghệ xử lý

Quy trình kỹ thuật cần phân tách rõ luồng rác tái chế, rác hữu cơ và rác còn lại. Các trạm trung chuyển phải bố trí dây chuyền ép rác kín chống phát tán mùi hôi. Công nghệ ủ sinh học yếm khí và hiếu khí cần được chuyển giao trực tiếp cho cộng đồng dân cư. Doanh nghiệp xử lý rác phải hiện đại hóa dây chuyền phân loại tự động kết hợp đốt rác phát điện. Việc kiểm soát chặt chẽ nước rỉ rác tại bãi xử lý là yêu cầu kỹ thuật bắt buộc. Chu trình khép kín này giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường đất và nguồn nước ngầm xung quanh.

3.2. Nâng cao vai trò giám sát và tuyên truyền cộng đồng

Tuyên truyền môi trường cần gắn liền với các buổi sinh hoạt tổ dân phố định kỳ. Đội ngũ cộng tác viên môi trường hỗ trợ hướng dẫn trực tiếp từng gia đình cách phân loại. Hệ thống camera giám sát thông minh hỗ trợ phát hiện các điểm đổ trộm rác thải sinh hoạt. Chế tài xử phạt hành chính đối với hành vi xả rác bừa bãi cần được thực thi nghiêm minh. Các phong trào đổi rác lấy quà tặng gia dụng tạo động lực thi đua sôi nổi trong nhân dân. Trường học trên địa bàn đưa nội dung phân loại rác vào chương trình ngoại khóa. Đây là giải pháp căn cơ để hình thành nếp sống văn minh lâu dài cho thế hệ trẻ.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng mô hình thành phố không rác

Luận văn đã làm rõ bức tranh toàn cảnh về quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Phú Tân. Việc áp dụng tiêu chuẩn của mô hình thành phố không rác là hướng đi tất yếu và mang tính thực tiễn cao. Các giải pháp đề xuất mang tính khả thi, phù hợp với năng lực quản lý và điều kiện tài chính địa phương. Khi triển khai đồng bộ, lượng rác chôn lấp có thể giảm thiểu đáng kể qua từng giai đoạn cụ thể. Chất lượng cảnh quan đô thị và sức khỏe cộng đồng dân cư được bảo vệ vững chắc. Nghiên cứu mở ra hướng đi mới trong việc xây dựng đô thị thông minh gắn liền bảo vệ môi trường. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các phường lân cận trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một. Việc duy trì tính kỷ cương và sự đồng thuận của người dân là yếu tố then chốt bảo đảm hiệu quả lâu dài.

4.1. Hiệu quả kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường

Mô hình mới mang lại lợi ích kép về mặt kinh tế và bảo vệ môi trường tự nhiên. Chi phí vận chuyển và chôn lấp rác thải đô thị giảm rõ rệt nhờ hoạt động tái chế hiệu quả. Các sản phẩm phân bón hữu cơ tạo ra nguồn dinh dưỡng sạch phục vụ chăm sóc cây xanh công cộng. Sức khỏe người dân được cải thiện rõ rệt nhờ môi trường không khí và nguồn nước trong lành. Hình ảnh đô thị văn minh thu hút thêm các nguồn lực đầu tư phát triển bền vững vào địa phương. Sự thành công của dự án khẳng định tính đúng đắn của chiến lược phát triển kinh tế xanh.

4.2. Khả năng nhân rộng mô hình ra toàn khu vực

Kinh nghiệm quản lý tại phường Phú Tân tạo tiền đề nhân rộng cho toàn thành phố Thủ Dầu Một. Quy trình vận hành đã được chuẩn hóa, dễ dàng chuyển giao cho các đơn vị hành chính cơ sở khác. Sự liên kết giữa các địa phương giúp hình thành mạng lưới thu gom và tái chế rác thải tập trung. Các cơ quan quản lý cấp tỉnh có thể tham khảo mô hình để ban hành hướng dẫn kỹ thuật chung. Định hướng phát triển kinh tế tuần hoàn sẽ từng bước lan tỏa mạnh mẽ trong toàn khu vực đô thị. Đây là bước đệm quan trọng để xây dựng một tỉnh Bình Dương phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

14/06/2026
Luận văn đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường phú tân theo mô hình thành phố không rác của thành phố thủ dầu một

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Chất thải rắn Chất thải rắn (CTR) là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng…).

Trong đó quan trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống (Nguyễn Thị Mỵ và cs, 2023). Hay chất thải rắn (CTR) là toàn bộ các loại vật chất ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn thải) được con người thải bỏ khi chúng không còn hữu ích hay khi con người không muốn sử dụng nữa trong các hoạt động kinh tế - văn hóa xã hội (bao gồm các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng, hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,…) (UBND Đà Nẵng, 2019). Chất thải rắn sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn sinh ra từ cơ quan (trường học, viện nghiên cứu, trung tâm, bệnh viện, nhà tù, khu thương mại (cửa hàng, nhà hàng, chợ, siêu thị, văn phòng, khách sạn, nhà nghỉ, trạm dịch vụ, của hàng sử xe,.), các khu nhà ở (biệt thự, hộ gia đình riêng lẻ, chung cư,.),( Trần Thị Mỹ Diệu, 2010) các trung tâm hành chính nhà nước,.) khu dịch vụ công cộng (quét đường, công viên, giải trí, tỉa cây xanh,.) và từ công tác nạo vét cống rãnh thoát nước. Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm cả chất thải nguy hại sinh ra từ các nguồn trên (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010).

Quản lý chất thải rắn sinh hoạt QLCTRSH là các hoạt động kiểm soát chất thải trong suốt quá trình phát sinh đến thu gom, vận chuyển, lưu trữ, xử lý, thải bỏ, tiêu hủy chất thải theo phương thức tốt nhất nhằm đảm bảo không ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, thỏa mãn các yếu tố về kinh tế, kỹ thuật, bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn cảnh quan đô thị và hạn chế tất cả các vấn đề môi trường liên quan (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010). 11 Lưu trữ chất thải rắn là hoạt động lưu trữ CTR trong một thời gian nhất định ở nơi được cơ quan có thẩm quyền chấp nhận trước khi vận chuyển đến nơi xử lý (Nghị định 38/20415/NĐ-CP). Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu trữ tạm thời CTR tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận (Nghị định 38/20415/NĐ-CP). Phân loại chất thải là hoạt động phân tách chất thải (đã được phân định) trên thực tế nhằm chia thành các loại hoặc nhóm chất thải để có các quy trình quản lý khác nhau (Nghị định 38/20415/NĐ-CP).

Tái chế chất thải là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để thu lại các thành phần có giá trị từ chất thải để chế biến các sản phẩm mới sử dụng lại cho các hoạt động sinh hoạt và sản xuất (Nghị định 08/2022/NĐ-CP) Mục đích của việc này là nhằm ngăn chặn sự lãng phí nguồn tài nguyên, giảm tiêu thụ nguyên liệu thô cũng như nguyên liệu sử dụng so với quá trình sản xuất cơ bản từ nguyên liệu thô, giảm đáng kể khối lượng CTR phải chôn lấp. Hiện nay tái chế được chia thành hai dạng gồm tái chế nguyên liệu từ sản phẩm thải, tái chế ngay tại nguồn từ quy trình sản xuất. Nếu như tái sử dụng theo nghĩa truyền thống chỉ để sản phẩm được sử dụng nhiều lần đến khi hết tuổi thọ và theo cùng chức năng gốc thì ngày nay, có thể hiểu thêm việc tái sử dụng sản phẩm là việc sử dụng lại chất thải một cách trực tiếp hoặc sau khi sơ chế mà không làm thay đổi tính chất của chất thải. Quản lý thống nhất chất thải rắn là việc lựa chọn và áp dụng kỹ thuật, công nghệ và chương trình quản lý thích hợp nhằm hoàn thành mục tiêu đặc biệt quản lý chất thải rắn sinh hoạt (Bộ TNMT, 2019a).

Do vậy quản lý CTRSH là bảo vệ sức khỏe của cộng đồng, bảo vệ mô trường, giảm thiểu CTRSH, tận dụng tối đa nguyên liệu, tiết kiệm tài nguyên năng lượng, tái chế và sử dụng tối đa các thành phần còn hữu ích (hữu cơ, vô cơ có thể tái chế). Nguồn phát thải và thành phần CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt xuất phát từ nhiều nguồn gốc khác nhau nhưng chung quy do hoạt động của con người (JICA, 2011). Rác thải sinh hoạt phát sinh chủ yếu từ các nguồn như chợ, khu thương mại, các cơ quan công sở, trường học, trạm y tế, các hàng quán, các cơ sở sản xuất, dịch vụ vệ sinh,… Bảng 1. Các nguồn phát sinh CTRSH (Tchobanoglous et al.,1993) Nguồn phát sinh Nơi phát sinh Các dạng chất thải rắn Thực phẩm dư thừa, bao bì hàng hóa (bằng giấy, gỗ, vải, da, cao su, PE, PP, thiếc, nhôm, thủy tinh…), tro, đồ dùng Hộ gia đình, biệt điện tử, vật dụng hư hỏng (đồ gia dụng, Khu dân cư thự, chung cư bóng đèn, đồ nhựa, thủy tinh…), chất thải độc hại như chất tẩy rửa (bột giặt, chất tẩy trắng…), thuốc diệt côn trùng, nước xịt phòng bám trên rác thải Nhà kho, nhà hàng, chợ, khách sạn, nhà trọ, các Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, Khu thương mại trạm sửa chữa, kim loại, chất thải nguy hại.

bảo hành và dịch vụ. Trường học, trạm y tế, bệnh Giấy, nhựa, thực phẩm thừa, thủy tinh, Cơ quan, công sở viện, văn phòng kim loại, chất thải nguy hại cơ quan chính phủ. Công trình Khu nhà xây Xà bần, sắt thép vụn, vôi vữa, gạch vỡ, xây dựng dựng mới, sửa bê tông, gỗ, ống dẫn 13 chữa nâng cấp mở rộng đường phố, cao ốc, san nền xây dựng Hoạt động dọn rác vệ sinh Dịch vụ công cộng Giấy, nilon, vỏ bao gói, thực phẩm thừa, đường phố, công đô thị lá cây, cành cây, bùn cống rãnh. viên, khu vui chơi, giải trí.

Khu vui chơi giải trí, công Các sản phẩm từ nhựa, giấy, thực phẩm, Khu công cộng viên, hoa viên, bao bì nilon,… bến xe, trạm xe, ga tàu Lá cây, cành cây, xác gia súc, thức ăn Đồng cỏ, đồng gia súc thừa hay hư hỏng, rơm rạ, chất Khu nông nghiệp ruộng, vườn cây thải nguy hại như thuốc sát trùng, phân ăn trái, nông trại bón, thuốc trừ sâu được thải ra cùng với bao bì đựng hóa chất đó. Ngoài ra còn có một số lượng CTRSH được thải ra trong hoạt động giao thông đó là các loại túi nilon, rác thực phẩm, các loại hộp…được thải bỏ trên các tuyến đường, sông ngòi, kênh rạch của một số người dân. Thành phần vật lý và hóa học của chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) sẽ thay đổi đáng kể tùy theo điều kiện kinh tế, đặc điểm văn hóa, xã hội và đặc điểm hệ thống quản lý chất thải rắn hiện tại của mỗi địa phương (Trần Thị Mỹ Diệu, 2010). Mỗi khu vực có tỷ lệ các thành phần CTRSH khác nhau, nhưng nhìn chung, rác thực phẩm chiếm một tỷ lệ không cao trong tổng thể chất thải sinh hoạt ở nước ta (Khuyết danh, 2020).

Một phần rác này được thu gom và phân loại để tái sinh và tái chế. Các thành phần và tính chất của CTRSH đóng vai trò 14 then chốt trong việc quản lý và xử lý rác thải hiệu quả. Việc phân tích và hiểu rõ các thành phần này không chỉ giúp xác định phương pháp xử lý tối ưu mà còn ảnh hưởng đến các quyết định về tái chế và bảo vệ môi trường. Theo một số nghiên cứu, CTRSH tại Việt Nam hầu hết có độ ẩm cao (dao động trong khoảng 65 - 95%), tổng hàm lượng chất rắn bay hơi (TVS - Total Volatile Solid) dao động trong khoảng 70 - 75% (khối lượng khô), độ tro khoảng 25 - 30% (khối lượng khô), nhiệt lượng thấp (dao động trong khoảng 900 - 1.100 Kcal/kg khối lượng ướt.

Rác sinh hoạt của hộ gia đình chứa hàm lượng cao thành phần hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học tuy nhiên thành phần đang thay đổi theo chiều hướng giảm dần cụ thể là từ năm 1995, thành phần chất thải thực phẩm chiếm tỷ lệ rất cao (80 - 96%) nhưng đến năm 2017 thành phần này giảm xuống còn khoảng 50 - 70%; điều này thể hiện sự thay đổi lối sống của cư dân đô thị là nhanh và tiện lợi (Nguyễn Trung Việt, 2012; CENTEMA, 2017). Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính chất tiêu dùng, điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác (Khuyết danh, 2020). Thông thường thành phần của rác thải bao gồm các hợp chất sau: Chất dễ phân hủy sinh học: Đây là những thành phần dễ phân hủy trong môi trường, bao gồm thực phẩm thừa, lá rau, lá cây, xác động vật chết và vỏ trái cây. Những chất này thường là nguồn gốc chính của khí metan trong các bãi chôn lấp (Hội luật gia Việt Nam, 2023).

Chất khó phân hủy sinh học: Gồm gỗ, cành cây, cao su và túi nilon. Những vật liệu này cần thời gian dài để phân hủy và thường gây khó khăn trong việc xử lý rác thải. Chất không phân hủy sinh học: Bao gồm kim loại, thủy tinh, mảnh sành sứ, gạch ngói, vôi vữa khô và sỏi cát. Những vật liệu này không phân hủy và có thể tồn tại lâu dài trong môi trường, thường yêu cầu các phương pháp xử lý đặc biệt như tái chế hoặc chôn lấp an toàn (Nguyễn Trung Việt, 2012).

15  Tính chất vật lý của CTRSH Tính chất vật lý của CTRSH bao gồm khối lượng riêng, độ ẩm, khả năng giữ nước và độ thẩm thấu. Những đặc điểm này ảnh hưởng đến cách xử lý và lưu trữ rác thải: Khối lượng riêng: Đây là khối lượng của CTRSH trên một đơn vị thể tích, tính bằng kg/m³. Khối lượng riêng của rác có thể dao động từ 415 đến 1778 kg/m³, với giá trị trung bình khoảng 297 kg/m³. Sự thay đổi này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ nén, loại rác, và trạng thái chứa.

Khối lượng riêng thấp hơn cho thấy rác có ít chất rắn hơn, trong khi khối lượng riêng cao cho thấy rác chứa nhiều chất rắn hơn. Độ ẩm: Độ ẩm của CTRSH được tính dựa trên phần trăm khối lượng ướt hoặc khô của rác thải. Độ ẩm ảnh hưởng đến tốc độ phân hủy sinh học và khả năng tạo nước rò rỉ trong bãi chôn lấp. Độ ẩm cao có thể dẫn đến sự phân hủy nhanh chóng nhưng cũng có thể tạo ra các vấn đề về mùi và nước rò rỉ.

Khả năng giữ nước: Đây là tổng lượng nước mà CTRSH có thể giữ lại. Thông số này rất quan trọng trong việc xác định lượng nước rò rỉ từ bãi chôn lấp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ