Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VỚI TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ PHÁT THẢI CO2 1. CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TIÊU THỤ NĂNG LƯỢNG TÁI TẠO VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Theo Omri [141] gồm có bốn giả thuyết trong các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế: - Giả thuyết tăng trưởng kinh tế: là giả thuyết có sự tác động một chiều từ tiêu thụ năng lượng tái tạo đến tăng trưởng kinh tế, khoảng 20% số lượng các nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ giả thuyết này. Giả thuyết này hàm ý rằng việc tăng tiêu thụ năng lượng tái tạo sẽ có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, tiêu thụ năng lượng tái tạo có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế trong quá trình sản xuất.
- Giả thuyết bảo toàn: là giả thuyết có sự tác động một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ năng lượng tái tạo, có khoảng 40% số lượng các nghiên cứu ủng hộ giả thuyết này. Giả thuyết này cho rằng việc giảm tiêu thụ năng lượng tái tạo sẽ có ít hoặc không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế. Do đó, các chính sách tác động đến môi trường nhằm giảm tỷ lệ phát thải, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng,… có thể sẽ chỉ có ảnh hưởng nhỏ đến tăng trưởng kinh tế vì nền kinh tế tương đối ít phụ thuộc vào nguồn năng lượng. Ngoài ra, cũng có ý kiến cho rằng sự gia tăng GDP thực tế làm tăng mức tiêu thụ năng lượng tái tạo.
- Giả thuyết phản hồi: là giả thuyết có mối liên hệ hai chiều giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế. Giả thuyết này cho rằng có một tác động chung giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế. Chẳng 10 hạn, tiết kiệm năng lượng sẽ làm giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế dẫn đến giảm tiêu thụ năng lượng. Trong giả thuyết này, chính sách năng lượng cần được đưa ra rất thận trọng vì việc thực hiện chính sách có thể ảnh hưởng không tốt đến các hoạt động kinh tế.
- Giả thuyết trung lập: là giả thuyết không tìm thấy mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế, có nghĩa là tiêu thụ năng lượng tái tạo tăng hoặc giảm không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại, khoảng 40% nghiên cứu thực nghiệm ủng hộ giả thuyết này. Các nghiên cứu ủng hộ giả thuyết tăng trưởng Một số nghiên cứu ủng hộ giả thuyết tăng trưởng được kể đến như: Lee [112] tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả từ việc sử dụng năng lượng đến GDP ở 18 quốc gia đang phát triển từ giai đoạn 1975-2001 trong cả ngắn hạn và dài hạn; tuy nhiên, nghiên cứu này không tìm thấy bằng chứng cho mối quan hệ nhân quả ngược lại. Soytas và Sari [168] đã phân tích mối quan hệ giữa việc sử dụng năng lượng và GDP của 16 quốc gia. Kết quả chỉ ra rằng quan hệ nhân quả tăng trưởng tồn tại ở Nhật Bản và Đức.
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu của Tang và các cộng sự [194] đã thấy rằng giả thuyết tăng trưởng đối với trường hợp của Việt Nam từ năm 1971 đến năm 2011 bằng cách sử dụng mô hình tăng trưởng Solow tân cổ điển, do đó, bất kỳ chính sách liên quan đến năng lượng hay môi trường đều sẽ có ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế tại Việt Nam. Chontanawat và cộng sự [60] đã phân tích mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế của 100 quốc gia bằng phương pháp đồng liên kết và kiểm định nhân quả Granger. Đối với trường hợp của Việt Nam, nghiên cứu cho thấy có bằng chứng về mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ tiêu thụ năng lượng đến tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu của Phùng Thanh Bình [51] 11 nghiên cứu trường hợp tại Việt Nam từ năm 1976-2010 và cũng giống với kết quả nghiên cứu giống của Chontanawat và cộng sự [60].
Các nghiên cứu ủng hộ giả thuyết bảo toàn Các nghiên cứu ủng hộ giả thuyết bảo toàn như: Nghiên cứu của Lê Quang Cảnh [55] nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng, GDP trong giai đoạn 1975-2010 tại Việt Nam, Nguyễn Duy Lợi [117] đã cho thấy mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ điện, tăng trưởng kinh tế, thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn từ 1986-2006. Cả hai nghiên cứu này đều tìm thấy có mối liên hệ một chiều từ tăng trưởng kinh tế đến tiêu thụ điện trong dài hạn, có nghĩa là tăng trưởng kinh tế sẽ cần nhiều năng lượng vì điện là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng đối với các ngành công nghiệp tại Việt Nam. Hồ Thúy Ngọc và cộng sự [134] cũng nghiên cứu mối liên hệ giữa tiêu thụ điện và tăng trưởng kinh tế, giá dầu và dân số của Việt Nam, nghiên cứu cũng ủng hộ giả thuyết bảo tồn. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đều chưa nghiên cứu đến từng loại tiêu thụ năng lượng cụ thể như tiêu thụ điện năng lượng tái tạo, điện sinh khối, điện than,….Trong giai đoạn từ 1994–2003 tại 18 quốc gia mới nổi, Sadorsky [169] sử dụng mô hình sửa lỗi (panel error correction model) để kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng tái tạo, và giả thuyết bảo toàn đã được tìm thấy trong nghiên cứu này.
Kết quả thực nghiệm trong nghiên cứu này cho thấy tăng trưởng kinh tế tăng có tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đến mức tiêu thụ năng lượng tái tạo bình quân đầu người. Tuy nhiên, đối với các nước G7, Sadorsky [170] chỉ ra rằng việc tăng giá dầu có tác động tiêu cực và nhỏ đến tiêu thụ năng lượng tái tạo. Theo Bowden và Payne [36], Armeanu và cộng sự [14] đều ủng hộ giả thuyết bảo toàn về nghiên cứu mối liên hệ tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng tái tạo. Nghiên cứu thực nghiệm của Ocal và Aslan [143] đã ủng hộ giả 12 thuyết bảo toàn và tiêu thụ năng lượng tái tạo có mối quan hệ ngược chiều với tăng trưởng kinh tế tại Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ 1990-2010.
Các nghiên cứu ủng hộ giả thuyết phản hồi Nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà và cộng sự [136] đã sử dụng mô hình ARDL để phân tích mối quan hệ dài hạn và mối quan hệ nhân quả giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam sử dụng điểm gãy cấu trúc, nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ hai chiều giữa các biến. Muhammad Shabaz và cộng sự [126] phân tích mối liên hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và GDP tại Pakistan bằng cách bổ sung các nhân tố lực lượng lao động và vốn. Kết quả cho thấy có mối quan hệ dài hạn giữa các biến và tiêu thụ năng lượng tái tạo, lao động và vốn với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kahia và cộng sự [105] phân tích mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế bằng việc tách việc tiêu thụ năng lượng thành hai loại năng lượng là năng lượng tái tạo và năng lượng không tái tạo tại 11 quốc gia nhập khẩu ròng về dầu trong giai đoạn từ 1980-2012.
Nghiên cứu đã tìm thấy mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế, tiêu thụ năng lượng không tái tạo và tăng trưởng kinh tế, ngoài ra còn tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nhân quả hai chiều trong cả ngắn hạn và dài hạn giữa việc tiêu thụ hai loại năng lượng này, chứng minh khả năng thay thế và phụ thuộc lẫn nhau của hai loại năng lượng. Ngoài ra, cũng có nhiều nghiên cứu khác ủng hộ giả thuyết phản hồi như Inglesi-Lotz [96], Rafindadi and Ozturk [163], Gyimah [81], and Apergis and Payne [2]. Các nghiên cứu ủng hộ giả thuyết trung lập Ngược lại, có nhiều nghiên cứu tìm thấy không có mối liên hệ giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và GDP như Ozcan and Ozturk [144], Ozturk and Acaravci [145], nghiên cứu của Payne [150] đã tìm thấy không có mối liên hệ đối với trường hợp tại Mỹ, nghiên cứu của Menegaki [121] sử dụng mô hình 13 tác động ngẫu nhiên đối với 27 nước châu Âu1, Mahmoodi và Mahmoodi [119] tìm thấy không có mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiêu thụ năng lượng tái tạo đối với trường hợp của Banglades, giả thuyết bảo toàn đối với các nước Ấn Độ, Iran, Pakistan và Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống Nhất và giả thuyết trung lập đối với Sri Lanka. Dựa trên phân tích của một khối các nước Châu Phi trong những năm 1980- 2008, Abanda và các cộng sự [12] quan sát thấy rằng GDP và tiêu thụ năng lượng từ các nguồn tài nguyên tái tạo có mối quan hệ tích cực với nhau.
Khoshnevis Yazdi và Shakhouri [104] cũng tìm thấy bằng chứng tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng đến lĩnh vực năng lượng tái tạo ở Iran. Theo Gan và Smith [82], các nước cùng với GDP cao hơn thường hướng tới tìm kiếm các nguồn cung năng lượng thay thế, chính vì vậy, chính sách của các nước này thường tập trung vào phát triển năng lượng tái tạo. Các nghiên cứu cho kết quả hỗn hợp Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu như Al-mulali và cộng sự [17] sử dụng mô hình OLS để điều tra mối quan hệ nhân quả hai chiều trong dài hạn giữa mức tiêu thụ năng lượng tái tạo của các nước có thu nhập cao, thu nhập trên trung bình, thu nhập trung bình thấp và tăng trưởng GDP trong giai đoạn 1980–2009. Kết quả cho thấy giả thuyết phản hồi được tìm thấy trong số 79% quốc gia nghiên cứu, giả thuyết trung lập được tìm thấy trong số 19% các quốc gia, giả thuyết bảo tồn và giả thuyết tăng trưởng ủng hộ bởi 2% các quốc gia.
Tugcu và cộng sự [196] phân tích các mối quan hệ nhân quả trong dài hạn giữa tiêu thụ năng lượng tái tạo và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng các phép thử nhân quả Hatemi-J cho các nước G7 trong giai đoạn 1980– 1 Bỉ, Bulgari, Cộng hòa Séc, Đan Mạch, Đức, Estonia, Ireland, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Pháp, Ý, Cộng hòa Síp, Latvia, Lithuania, Luxemburg, Hungary, Hà Lan, Áo, Ba Lan, Bồ Đào Nha, Romania, Slovenia, Slovakia, Phần Lan, Thụy Điển, Anh, Na Uy 14 2009.