Chương 1 Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tác động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường 1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá và tác động của nó đến môi trường 1. Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp hoá, hiện đại (CNH, HĐH) hoá đã trở thành phương thức hữu hiệu cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Bất kể nước nào, để phát triển kinh tế - xã hội thì đều cần thiết thực hiện CNH, HĐH.
Tuy nhiên, ở những nước khác nhau, trong những điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau, CNH, HĐH cũng có những đặc điểm riêng biệt. Nếu tách riêng, thì công nghiệp hoá, theo nghĩa khái quát nhất, là quá trình biến đổi xã hội từ một xã hội nông nghiệp (hay tiền công nghiệp), lạc hậu lên xã hội công nghiệp. Quá trình biến đổi đó gắn liền với quá trình đổi mới kỹ thuật, công nghệ, chủ yếu là gắn với cuộc cách mạng kỹ thuật. Hay nói một cách khác, công nghiệp hoá là quá trình biến lao động thủ công thành lao động máy móc.
Đó là quá trình trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho nền kinh tế quốc dân. Hiện đại hoá là quá trình thường xuyên đưa trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất lên trình độ tiên tiến của thời đại. Công nghệ mới chính là nguồn gốc, là điều kiện tồn tại, đồng thời là yếu tố then chốt thúc đẩy hiện đại hoá. Với những công nghệ mới, con người sẽ nâng cao được năng lực của mình, phát triển những ý tưởng mới, thúc đẩy xã hội phát triển.
Đánh giá chung nhất, CNH, HĐH thực chất là sự thay thế kỹ thuật thủ công, lạc hậu thành kỹ thuật máy móc hiện đại, trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế, nhằm đạt tới năng suất lao động cao. Đó còn là quá trình thay đổi căn bản, toàn diện cách thức tổ chức sản xuất, kinh doanh, hoạt động quản lý trong nền kinh tế, dựa trên sự ứng dụng cao về công nghệ hiện đại. Trên cơ sở đó, sẽ tạo điều kiện để thay thế nền văn minh nông nghiệp bằng văn minh công nghiệp, xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, tạo nền tảng cho phát triển nhanh và bền vững. Như vậy, thực hiện CNH, HĐH sẽ tạo điều kiện để nâng cao năng suất lao động xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân… Tuy nhiên, hiệu quả kinh tế - xã hội của CNH, HĐH mang lại đạt đến mức độ nào, còn phụ thuộc vào tính ưu việt trong mục tiêu và cách thức tiến hành CNH, HĐH của mỗi nước.
Nhưng, dù đạt được đến đâu đi nữa thì tính ưu việt của CNH, HĐH cũng đã được khẳng định. Một nền kinh tế tiến hành CNH, HĐH sẽ có bước phát triển hơn nhiều so với nền kinh tế chưa thực hiện CNH, HĐH. Trên thế giới, CNH, HĐH là hai quá trình vừa nối tiếp, vừa đan xen nhau. Những nước đi sau không nhất thiết chỉ thực hiện những bước đi tuần tự, mà có thể áp dụng chiến lược phát triển “rút ngắn”, tranh thủ cơ hội đi tắt đón đầu, để đón những công nghệ tiên tiến nhất của thế giới.
Thực chất của CNH, HĐH rút ngắn trong giai đoạn hiện nay là tận dụng tri thức của nhân loại, lấy công nghệ cao làm cốt lõi, trên cơ sở nguồn nhân lực thích hợp, để phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên không phải nước nào cũng thành công trong chiến lược này. Trong quá trình thực hiện, căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể và đặc điểm kinh tế - xã hội của từng quốc gia, sự nghiệp CNH, HĐH của các nước sẽ được tiến hành với những cách thức, bước đi khác nhau cho phù hợp. ở những nước phát triển, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch từ xã hội dựa trên kinh tế công nghiệp, sang xã hội tri thức.
Nhưng đối với các nước đang phát triển, hiện đại hoá ở mức độ thấp hơn, là đồng thời vừa công nghiệp hoá, vừa tiếp cận với công nghệ hiện đại, đẩy nhanh quá trình phát triển, để đuổi kịp các nước phát triển. Trong điều kiện bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học- công nghệ hiện đại và xu thế phát triển nhanh chóng của quá trình toàn cầu hoá, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những nhận thức của nhân loại về CNH, HĐH, xuất phát từ tình hình thực tế của nền kinh tế, Đảng ta đã đưa ra quan niệm về CNH, HĐH: Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động, cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao [16]. Trên cơ sở kinh nghiệm của thế giới, vận dụng vào thực tiễn của Việt Nam, Đảng ta đã xác định CNH, HĐH là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ Đại hội Đảng lần thứ III, khi đất nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, Đảng ta đã khẳng định, cần chuyển sang thời kỳ mới đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Mục tiêu của CNH, HĐH ở nước ta hiện nay là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, có cơ cấu kinh tế hợp lý, với quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với quá trình phát triển của lực lượng sản xuất, có đời sống vật chất, tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Phấn đấu đến năm 2020, Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Trước những biến đổi của nền kinh tế toàn cầu và điều kiện cụ thể của đất nước, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng ta đã xác định: “đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với kinh tế tri thức, chúng ta tranh thủ các cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và tiềm năng, lợi thế của nước ta, để rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với phát triển kinh tế tri thức"[18, tr. CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức ở nước ta, thực chất đó là công nghiệp hoá rút ngắn, có mục đích là kết hợp nguồn vốn tri thức tiên tiến của nhân loại, với nguồn vốn tri thức của dân tộc. Trên cơ sở đó, một mặt sử dụng tri thức để đổi mới, nâng cao hiệu quả các ngành truyền thống, mặt khác tập trung phát triển mạnh các ngành, sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao, dựa nhiều vào tri thức, tạo ra những bước đột phá mới, những bước tăng trưởng cao.
Như vậy CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức, đó là bước đi đúng, phù hợp với thực tiễn nước ta và phù hợp với thế giới trong giai đoạn hiện nay. Quá trình CNH, HĐH đã có tác động, ảnh hưởng lớn đến những nhân tố quyết định sự phát triển bền vững của các quốc gia và các vùng, miền trong lãnh thổ. Một trong những yếu tố chịu sự tác động lớn, đó là môi trường. Môi trường được coi là khách thể chịu sự tác động trực tiếp và gián tiếp từ quá trình công nghiệp hoá.
Đồng thời môi trường cũng được coi là nhân tố quan trọng, tác động đến quá trình CNH, HĐH. Nếu biết cách xử lý mối quan hệ này, thì sẽ phát huy được tác động tích cực, và khắc phục những tác động tiêu cực của CNH, HĐH đến môi trường. Trong việc bảo vệ và cải thiện môi trường, nếu không có cách xử lý hiệu quả thì hậu quả môi trường gánh chịu là rất lớn. Môi trường và tác động hai mặt của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đến môi trường 1.
Khái niệm, chức năng của môi trường * Khái niệm môi trường: Để định nghĩa về môi trường, người ta đưa ra nhiều khái niệm khác nhau. Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) đưa ra định nghĩa về môi trường: "Môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội- nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ” [56, tr. Liên minh châu Âu định nghĩa "môi trường (environment) là sự kết hợp các yếu tố có mối quan hệ phụ thuộc phức tạp, tạo nên những khuôn khổ, những môi trường xung quanh (surroundings) và những điều kiện sống cho các cá nhân và xã hội, tồn tại trong thực tế hay trong ý nghĩ” [55, tr. Như vậy, môi trường theo cách hiểu ở đây là tất cả những gì ảnh hưởng đến con người, xung quanh con người, tạo nên những điều kiện sống cho con người.
Đó là các yếu tố tự nhiên, các yếu tố xã hội, các yếu tố do con người tạo ra, hình thành nên môi trường tự nhiên, môi trường xã hội, môi trường nhân tạo. Một khái niệm khác về môi trường - Theo tác giả Lê Văn Khoa, (1995): Môi trường theo nghĩa rộng nhất là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới một vật thể hoặc một sự kiện. Bất cứ một vật thể, hay một sự kiện nào cũng tồn tại và diễn biến trong một môi trường. Đối với cơ thể sống, thì môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng tới đời sống và sự phát triển của cơ thể [54, tr.
Như vậy, khái niệm môi trường rất rộng, phức tạp và thực tế đã có nhiều quan niệm khác nhau về môi trường. Tuy nhiên ở những khái niệm trên đều đi đến sự thống nhất: môi trường không chỉ là những yếu tố tự nhiên tác động trực tiếp đến con người, mà còn là những yếu tố xã hội, ở bên ngoài luôn ảnh hưởng dần dần đến cuộc sống con người, góp phần hình thành nên ý thức, nhân cách con người. Đó thực chất chỉ tất cả những gì xung quanh con người, ảnh hưởng đến sự sinh tồn và phát triển của con người, cho con người cơ sở sống và phát triển. Gần đây, theo Luật Bảo vệ Môi trường Việt Nam năm 2006 đã đưa ra định nghĩa sau về môi trường: "Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.