Chương 1, Luật báo chí (sửa đổi năm 2016) quy định: “ Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm: báo in và tạp chí in”. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng Khái niệm Báo in theo Luật Báo chí (sửa đổi năm 2016) b. Đặc điểm của báo in: Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản bao gồm chữ viết, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,…Tất cả nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả. Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in sẽ thông qua thị giác, đây chính là giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh.
Vì vậy, báo in có những đặc điểm sau: 8 Thứ nhất, người đọc sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in, thông qua việc bố trí thời điểm đọc, cách đọc, tốc độ đọc. Tùy vào thời gian rảnh rỗi của mỗi người mà có thể đọc báo bất cứ lúc nào, khác với phát thanh và truyền hình, người nghe có thể nghe bất cứ lúc nào nhưng thông tin không được rõ vì có thể nghe đoạn cuối nói nhưng không nghe đoạn đầu nên rất dễ gây hiểu lầm cho người nghe. Mặt khác, người đọc có thể đọc tùy hứng, đọc chậm rãi hay lướt qua, hoặc chú tâm vào các chi tiết, còn với phát thanh, truyền hình tùy vào việc đưa thông tin và cách đọc của biên tập viên. Nghĩa là người nghe - xem phụ thuộc vào biên tập viên.
Bên cạnh đó, người đọc có thể lướt nhanh để nắm bắt thông tin, lựa chọn thông tin nào mình nên đọc trước và người đọc cũng có thể đọc theo sở thích của mình. Đây là điều mà báo mạng điện tử đang kế thừa và phát huy ưu việt hơn. Điều này tạo cho báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn. Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in là hoàn toàn chủ động, vì vậy đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não nếu không thì sẽ không lưu lại được thông tin.
Đồng thời nguồn thông tin từ báo in đảm bảo sự chính xác và độ xác định cao. Dù thông tin chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đảm bảo sự chính xác về thông tin vì đã được kiểm định kỹ. Báo in trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với người đọc vì những thông tin mà người đọc lưu trữ trong trí não. Báo in có thể làm tài liệu lưu trữ lâu dài, minh chứng cho các công trình nghiên cứu khoa học.
Khái niệm khí hậu và biến đổi khí hậu a. Khái niệm khí hậu: Theo Ths. Bùi Thu Vân, Khoa Việt Nam học, Đại Học Sư Phạm Hà Nội: Khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định [1, tr. 9 Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định.
Khí hậu là trung bình theo thời gian của thời tiết, trung bình thời gian chuẩn thường được tính là 30 năm trở lên, nghĩa là, thời tiết ở tại một vùng, miền trong một khoảng thời gian 30 năm trở lên thì được gọi là khí hậu [25, tr.8] Khái niệm: Khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố của thời tiết bao gồm các hiện tượng nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa, sương mù, nắng…. Khí hậu bao gồm cả hệ thống khí quyển, thủy quyển, băng quyển, sinh quyển, thạch quyển và bề mặt của trái đất. Khái niệm biến đổi khí hậu Thuật ngữ BĐKH được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là sau thảm họa động đất sóng thần ở Nhật Bản năm 2011. Trong Điều 1 của Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (UNFCCC) định nghĩa: BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra làm thay đổi cấu tạo của khí quyển toàn cầu và là một trong các nhân tố gây ra những biến động khí hậu tự nhiên trong các giai đoạn nhất định [35, tr.
Còn theo Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC): BĐKH là do thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra [35, tr. Theo chương trình Mục tiêu Quốc gia năm 2008 của Bộ TN&MT đã giải thích: BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình/ hoặc giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong, hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển. Theo Công ước Khung của Liên hiệp quốc về BĐKH : BĐKH là biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp do con 10 người gây ra sự thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và nó được thêm vào sự BĐKH tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ có thể so sánh được.
Bùi Thu Vân, Khoa Việt Nam học, ĐHSP Hà Nội: BĐKH là sự thay đổi đáng kể về trị số trung bình nhiều năm của các yếu tố khí hậu ở một khu vực cụ thể. BĐKH cũng phản ánh những sự biến đổi khác thường của điều kiện khí hậu trong bầu khí quyển trên Trái Đất và kéo theo đó là những tác động tiêu cực lên nhiều phần của Trái Đất, như các tảng băng (trên đỉnh núi cao) trong khoảng thời gian dài từ hàng chục năm cho đến hàng triệu năm [1, tr. Như vậy, có thể hiểu, BĐKH là thay đổi từ yếu tố môi trường, thời tiết tác động xấu đến con người. Có thể là mưa bão kéo dài, tình trạng nắng nóng, lũ lụt, sạt lở, lốc xoáy, dịch bệnh.
thiên tai xảy ra nhiều hơn, hạn hán, xâm mặn do phá rừng mà con người đã gián tiếp, trực tiếp làm tác động gây ra BĐKH, từ đó làm đảo lộn cuộc sống nhân loại trên toàn thế giới và khó có thể lường trước được. THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY 1. Trên thế giới Công ước của Liên Hiệp Quốc về BĐKH là công ước khí hậu được hơn 150 nước ký tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất ở Rio De Janeiro năm 1992. Mục tiêu cuối cùng của công ước này là: “Ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu”.
Công ước có hiệu lực từ tháng 3/ 1994 với sự phê chuẩn của hơn 50 nước, nay đã có hơn 180 nước phê chuẩn. Tháng 3/1995, Hội nghị các bên tham gia công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP), cơ quan tối cao của Công ước họp khóa đầu tiên ở Berlin, Ban thư ký có trụ sở tại Bonn, Đức [33, Tr. Trước hết, cần hiểu rõ khái niệm Hội nghị các bên tham gia công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP). COP là chữ viết tắt 11 của Conference of parties, tức là hội nghị giữa các bên.
Các bên ở đây là các quốc gia tham gia Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (CCNUCC ). Từ năm 1995 đến nay, đại diện các quốc gia này vẫn họp lại mỗi năm và hội nghị năm nay, năm 2016 là hội nghị lần thứ 21, chính vì vậy được gọi tắt là COP21. Hội nghị thế giới về khí hậu đầu tiên diễn ra vào năm 1979 tại Genève (Thụy Sĩ ). Vào năm đó, một Chương trình nghiên cứu khí hậu thế giới đã được khởi động, dưới trách nhiệm của Tổ chức Khí tượng Thế giới (OMM), Chương trình Liên hiệp quốc về môi trường (PNUE) và Hội đồng Quốc tế các Liên hiệp Khoa học (CIUS).
Đến năm 1988, Nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu (GIEC) đã được hai cơ quan OMM và PNUE thành lập, với nhiệm vụ là đánh giá theo định kỳ hiện trạng những kiến thức của nhân loại về biến đổi khí hậu. Trong bản báo cáo đầu tiên vào năm 1990, nhóm GIEC đã nhìn nhận trách nhiệm của con người trong việc làm cho bầu khí quyển Trái đất nóng lên. Dựa trên báo cáo này mà người ta đã soạn ra Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (CCNUCC). Hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro năm 1992 có thể nói là một bước có tính chất quyết định trong các cuộc thương thuyết quốc tế về khí hậu với việc ký kết hiệp định CCNUCC.
Công ước này, có hiệu lực kể từ ngày 21/03/1994, đã được 195 quốc gia phê chuẩn cùng với Liên hiệp châu Âu. Mục tiêu của Công ước là giữ lượng khí thải gây hiệu ứng lồng kính ở mức ổn định để không làm đảo lộn một cách nguy hiểm hệ thống khí hậu của Trái đất. Nhưng đến năm 1997, nghị định thư Kyoto lần đầu tiên mới ấn định cụ thể các chỉ tiêu cho những nước phát triển về giảm khí thải gây hiệu ứng lồng 12 kính. Có hiệu lực từ năm 2005, nghị định thư Kyoto có giá trị cho thời kỳ 2008-2012.
Vào năm 2007, kế hoạch Bali đã đề ra lịch trình thương thuyết nhằm đạt đến một thỏa thuận tiếp nối nghị định thư Kyoto, mà như đã nói ở trên sẽ hết hạn vào năm 2012. Thỏa thuận này trên nguyên tắc phải được thông qua trễ nhất là vào tháng 12/2009. Đến nay, Hội nghị đã trải qua 21 kỳ hội nghị. Tuy nhiên, cũng đã có 1 kỳ COP thất bại ê chề, đó là COP15 năm 2009 tại Copenhague (Đan Mạch).
Tuy vậy, hội nghị này đã thông qua được mục tiêu chung là giữ mức tăng nhiệt độ không quá 2°C. Các nước phát triển lúc ấy cũng đã cam kết từ đây đến năm 2020 sẽ huy động tổng cộng 100 tỷ đôla mỗi năm để giúp các nước nghèo thích ứng với biến đổi khí hậu. Sau đó, hội nghị Cancun (Mehicô) năm 2010 đã cụ thể hóa mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ ở 2° C với việc thành lập các định chế như Quỹ xanh về khí hậu. Chính hội nghị Durban (Nam Phi) năm 2011 đã đề ra mục tiêu là đến năm 2015 tất cả các bên tham gia Công ước LHQ về khí hậu phải thông qua một thỏa thuận sẽ được thực hiện kể từ năm 2020.