Luận văn thạc sĩ về báo chí và biến đổi khí hậu của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Luận văn Thạc sĩ Báo chí nghiên cứu vai trò báo in Bộ Tài nguyên & Môi trường trong truyền thông biến đổi khí hậu. Đánh giá hiệu quả, đề xuất giải pháp nâng cao tác động.

Chuyên ngành

Báo Chí Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2016

51
13
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về biến đổi khí hậu và vai trò của báo chí

Biến đổi khí hậu (biến đổi khí hậu) là một trong những vấn đề cấp bách nhất mà thế giới đang phải đối mặt. Theo các nghiên cứu, tác động của biến đổi khí hậu không chỉ ảnh hưởng đến môi trường mà còn tác động mạnh mẽ đến kinh tế và xã hội. Việt Nam, với vị trí địa lý đặc thù, là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất. Báo chí, đặc biệt là các ấn phẩm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức và tuyên truyền về các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu. Các ấn phẩm này không chỉ phản ánh thông tin mà còn đưa ra các giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

1.1. Đặc điểm của báo chí trong việc thông tin về biến đổi khí hậu

Báo chí là một công cụ truyền thông mạnh mẽ, có khả năng tiếp cận rộng rãi với công chúng. Các ấn phẩm báo in của Bộ Tài nguyên và Môi trường thường xuyên cập nhật thông tin về tình hình biến đổi khí hậu, các chính sách ứng phó và các mô hình phát triển bền vững. Đặc biệt, việc phản ánh các hiện tượng thời tiết cực đoan và tác động của chúng đến đời sống người dân là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của báo chí. Điều này giúp nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu.

II. Thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu trên báo in của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu trên các ấn phẩm báo in của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy sự quan tâm ngày càng tăng từ phía báo chí đối với vấn đề này. Các bài viết không chỉ cung cấp thông tin về diễn biến khí hậu mà còn phân tích tác động của chúng đến các lĩnh vực khác nhau như nông nghiệp, thủy sản và đời sống xã hội. Hơn nữa, các báo cáo môi trường định kỳ được công bố cũng góp phần quan trọng trong việc nâng cao nhận thức cộng đồng về các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc truyền tải thông tin một cách đầy đủ và hiệu quả đến với công chúng.

2.1. Nội dung chính của thông tin về biến đổi khí hậu

Nội dung thông tin về biến đổi khí hậu trên các ấn phẩm báo in chủ yếu tập trung vào việc phản ánh diễn biến khí hậu, các hiện tượng thời tiết cực đoan và tác động của chúng đến đời sống kinh tế - xã hội. Các bài viết thường đi kèm với các số liệu thống kê và hình ảnh minh họa, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận và hiểu rõ hơn về tình hình biến đổi khí hậu. Ngoài ra, các bài viết cũng thường xuyên cập nhật các chính sách và chiến lược của Chính phủ trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, từ đó tạo ra một bức tranh tổng thể về tình hình môi trường hiện nay.

III. Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng thông tin về biến đổi khí hậu

Để nâng cao chất lượng thông tin về biến đổi khí hậu trên báo in của Bộ Tài nguyên và Môi trường, cần thiết phải cải thiện nội dung và hình thức của các bài viết. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường tính chính xác và độ tin cậy của thông tin bằng cách hợp tác chặt chẽ với các chuyên gia và nhà khoa học trong lĩnh vực khí hậu. Hơn nữa, cần sử dụng các hình thức truyền thông đa dạng hơn như video, infographic để thu hút sự chú ý của độc giả. Việc tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm cũng sẽ giúp nâng cao nhận thức và tạo cơ hội cho công chúng tham gia vào các vấn đề liên quan đến biến đổi khí hậu.

3.1. Tăng cường hợp tác với các chuyên gia

Việc hợp tác với các chuyên gia trong lĩnh vực khí hậu sẽ giúp đảm bảo thông tin được cung cấp là chính xác và cập nhật. Các chuyên gia có thể đóng góp ý kiến, phân tích và dự báo về các xu hướng biến đổi khí hậu, từ đó cung cấp cho báo chí những thông tin có giá trị. Hơn nữa, việc tổ chức các buổi phỏng vấn với chuyên gia cũng sẽ tạo cơ hội cho độc giả tiếp cận thông tin từ những người có chuyên môn cao, góp phần nâng cao chất lượng bài viết.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1, Luật báo chí (sửa đổi năm 2016) quy định: “ Báo in là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in để phát hành đến bạn đọc, gồm: báo in và tạp chí in”. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng Khái niệm Báo in theo Luật Báo chí (sửa đổi năm 2016) b. Đặc điểm của báo in: Báo in chuyển tải nội dung thông tin thông qua văn bản bao gồm chữ viết, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ,…Tất cả nội dung thông tin của báo in xuất hiện đồng thời ngay trước mắt độc giả. Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in sẽ thông qua thị giác, đây chính là giác quan quan trọng nhất của con người trong mối quan hệ với thế giới xung quanh.

Vì vậy, báo in có những đặc điểm sau: 8 Thứ nhất, người đọc sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tiếp nhận thông tin từ báo in, thông qua việc bố trí thời điểm đọc, cách đọc, tốc độ đọc. Tùy vào thời gian rảnh rỗi của mỗi người mà có thể đọc báo bất cứ lúc nào, khác với phát thanh và truyền hình, người nghe có thể nghe bất cứ lúc nào nhưng thông tin không được rõ vì có thể nghe đoạn cuối nói nhưng không nghe đoạn đầu nên rất dễ gây hiểu lầm cho người nghe. Mặt khác, người đọc có thể đọc tùy hứng, đọc chậm rãi hay lướt qua, hoặc chú tâm vào các chi tiết, còn với phát thanh, truyền hình tùy vào việc đưa thông tin và cách đọc của biên tập viên. Nghĩa là người nghe - xem phụ thuộc vào biên tập viên.

Bên cạnh đó, người đọc có thể lướt nhanh để nắm bắt thông tin, lựa chọn thông tin nào mình nên đọc trước và người đọc cũng có thể đọc theo sở thích của mình. Đây là điều mà báo mạng điện tử đang kế thừa và phát huy ưu việt hơn. Điều này tạo cho báo in có khả năng thông tin những nội dung phức tạp và sâu sắc hơn. Thứ hai, sự tiếp nhận thông tin từ báo in là hoàn toàn chủ động, vì vậy đòi hỏi người đọc phải tập trung cao độ, phải huy động sự làm việc tích cực của trí não nếu không thì sẽ không lưu lại được thông tin.

Đồng thời nguồn thông tin từ báo in đảm bảo sự chính xác và độ xác định cao. Dù thông tin chậm hơn so với các loại hình báo chí khác nhưng đảm bảo sự chính xác về thông tin vì đã được kiểm định kỹ. Báo in trở thành nguồn tài liệu quý giá đối với người đọc vì những thông tin mà người đọc lưu trữ trong trí não. Báo in có thể làm tài liệu lưu trữ lâu dài, minh chứng cho các công trình nghiên cứu khoa học.

Khái niệm khí hậu và biến đổi khí hậu a. Khái niệm khí hậu: Theo Ths. Bùi Thu Vân, Khoa Việt Nam học, Đại Học Sư Phạm Hà Nội: Khí hậu là mức độ trung bình của thời tiết trong một khoảng thời gian và không gian nhất định [1, tr. 9 Khí hậu bao gồm các yếu tố nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, áp suất khí quyển, gió, các hiện tượng xảy ra trong khí quyển và nhiều yếu tố khí tượng khác trong khoảng thời gian dài ở một vùng, miền xác định.

Khí hậu là trung bình theo thời gian của thời tiết, trung bình thời gian chuẩn thường được tính là 30 năm trở lên, nghĩa là, thời tiết ở tại một vùng, miền trong một khoảng thời gian 30 năm trở lên thì được gọi là khí hậu [25, tr.8] Khái niệm: Khí hậu là sự tổng hợp các yếu tố của thời tiết bao gồm các hiện tượng nhiệt độ, độ ẩm, gió, lượng mưa, sương mù, nắng…. Khí hậu bao gồm cả hệ thống khí quyển, thủy quyển, băng quyển, sinh quyển, thạch quyển và bề mặt của trái đất. Khái niệm biến đổi khí hậu Thuật ngữ BĐKH được nhắc đến nhiều trên các phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là sau thảm họa động đất sóng thần ở Nhật Bản năm 2011. Trong Điều 1 của Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (UNFCCC) định nghĩa: BĐKH là sự biến đổi của khí hậu do hoạt động của con người trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra làm thay đổi cấu tạo của khí quyển toàn cầu và là một trong các nhân tố gây ra những biến động khí hậu tự nhiên trong các giai đoạn nhất định [35, tr.

Còn theo Ủy ban Liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC): BĐKH là do thay đổi theo thời gian của khí hậu, trong đó bao gồm những biến đổi tự nhiên và những biến đổi do các hoạt động của con người gây ra [35, tr. Theo chương trình Mục tiêu Quốc gia năm 2008 của Bộ TN&MT đã giải thích: BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình/ hoặc giao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỷ hoặc dài hơn. BĐKH có thể là do các quá trình tự nhiên bên trong, hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển. Theo Công ước Khung của Liên hiệp quốc về BĐKH : BĐKH là biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp do con 10 người gây ra sự thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và nó được thêm vào sự BĐKH tự nhiên quan sát được trong các thời kỳ có thể so sánh được.

Bùi Thu Vân, Khoa Việt Nam học, ĐHSP Hà Nội: BĐKH là sự thay đổi đáng kể về trị số trung bình nhiều năm của các yếu tố khí hậu ở một khu vực cụ thể. BĐKH cũng phản ánh những sự biến đổi khác thường của điều kiện khí hậu trong bầu khí quyển trên Trái Đất và kéo theo đó là những tác động tiêu cực lên nhiều phần của Trái Đất, như các tảng băng (trên đỉnh núi cao) trong khoảng thời gian dài từ hàng chục năm cho đến hàng triệu năm [1, tr. Như vậy, có thể hiểu, BĐKH là thay đổi từ yếu tố môi trường, thời tiết tác động xấu đến con người. Có thể là mưa bão kéo dài, tình trạng nắng nóng, lũ lụt, sạt lở, lốc xoáy, dịch bệnh.

thiên tai xảy ra nhiều hơn, hạn hán, xâm mặn do phá rừng mà con người đã gián tiếp, trực tiếp làm tác động gây ra BĐKH, từ đó làm đảo lộn cuộc sống nhân loại trên toàn thế giới và khó có thể lường trước được. THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU HIỆN NAY 1. Trên thế giới Công ước của Liên Hiệp Quốc về BĐKH là công ước khí hậu được hơn 150 nước ký tại Hội nghị Thượng đỉnh trái đất ở Rio De Janeiro năm 1992. Mục tiêu cuối cùng của công ước này là: “Ổn định nồng độ khí nhà kính trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con người vào hệ thống khí hậu”.

Công ước có hiệu lực từ tháng 3/ 1994 với sự phê chuẩn của hơn 50 nước, nay đã có hơn 180 nước phê chuẩn. Tháng 3/1995, Hội nghị các bên tham gia công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP), cơ quan tối cao của Công ước họp khóa đầu tiên ở Berlin, Ban thư ký có trụ sở tại Bonn, Đức [33, Tr. Trước hết, cần hiểu rõ khái niệm Hội nghị các bên tham gia công ước khung của Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu (COP). COP là chữ viết tắt 11 của Conference of parties, tức là hội nghị giữa các bên.

Các bên ở đây là các quốc gia tham gia Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (CCNUCC ). Từ năm 1995 đến nay, đại diện các quốc gia này vẫn họp lại mỗi năm và hội nghị năm nay, năm 2016 là hội nghị lần thứ 21, chính vì vậy được gọi tắt là COP21. Hội nghị thế giới về khí hậu đầu tiên diễn ra vào năm 1979 tại Genève (Thụy Sĩ ). Vào năm đó, một Chương trình nghiên cứu khí hậu thế giới đã được khởi động, dưới trách nhiệm của Tổ chức Khí tượng Thế giới (OMM), Chương trình Liên hiệp quốc về môi trường (PNUE) và Hội đồng Quốc tế các Liên hiệp Khoa học (CIUS).

Đến năm 1988, Nhóm chuyên gia liên chính phủ về biến đổi khí hậu (GIEC) đã được hai cơ quan OMM và PNUE thành lập, với nhiệm vụ là đánh giá theo định kỳ hiện trạng những kiến thức của nhân loại về biến đổi khí hậu. Trong bản báo cáo đầu tiên vào năm 1990, nhóm GIEC đã nhìn nhận trách nhiệm của con người trong việc làm cho bầu khí quyển Trái đất nóng lên. Dựa trên báo cáo này mà người ta đã soạn ra Công ước Khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu (CCNUCC). Hội nghị thượng đỉnh Trái đất ở Rio de Janeiro năm 1992 có thể nói là một bước có tính chất quyết định trong các cuộc thương thuyết quốc tế về khí hậu với việc ký kết hiệp định CCNUCC.

Công ước này, có hiệu lực kể từ ngày 21/03/1994, đã được 195 quốc gia phê chuẩn cùng với Liên hiệp châu Âu. Mục tiêu của Công ước là giữ lượng khí thải gây hiệu ứng lồng kính ở mức ổn định để không làm đảo lộn một cách nguy hiểm hệ thống khí hậu của Trái đất. Nhưng đến năm 1997, nghị định thư Kyoto lần đầu tiên mới ấn định cụ thể các chỉ tiêu cho những nước phát triển về giảm khí thải gây hiệu ứng lồng 12 kính. Có hiệu lực từ năm 2005, nghị định thư Kyoto có giá trị cho thời kỳ 2008-2012.

Vào năm 2007, kế hoạch Bali đã đề ra lịch trình thương thuyết nhằm đạt đến một thỏa thuận tiếp nối nghị định thư Kyoto, mà như đã nói ở trên sẽ hết hạn vào năm 2012. Thỏa thuận này trên nguyên tắc phải được thông qua trễ nhất là vào tháng 12/2009. Đến nay, Hội nghị đã trải qua 21 kỳ hội nghị. Tuy nhiên, cũng đã có 1 kỳ COP thất bại ê chề, đó là COP15 năm 2009 tại Copenhague (Đan Mạch).

Tuy vậy, hội nghị này đã thông qua được mục tiêu chung là giữ mức tăng nhiệt độ không quá 2°C. Các nước phát triển lúc ấy cũng đã cam kết từ đây đến năm 2020 sẽ huy động tổng cộng 100 tỷ đôla mỗi năm để giúp các nước nghèo thích ứng với biến đổi khí hậu. Sau đó, hội nghị Cancun (Mehicô) năm 2010 đã cụ thể hóa mục tiêu hạn chế mức tăng nhiệt độ ở 2° C với việc thành lập các định chế như Quỹ xanh về khí hậu. Chính hội nghị Durban (Nam Phi) năm 2011 đã đề ra mục tiêu là đến năm 2015 tất cả các bên tham gia Công ước LHQ về khí hậu phải thông qua một thỏa thuận sẽ được thực hiện kể từ năm 2020.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ "Luận văn thạc sĩ báo chí báo in của bộ tài nguyên và môi trường với vấn đề biến đổi khí hậu" của tác giả Quách Thị Hà, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thoa, thuộc Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn - Đại Học Quốc Gia Hà Nội, tập trung vào vai trò của báo in trong việc truyền tải thông tin về biến đổi khí hậu hiện nay. Bài viết không chỉ phân tích các vấn đề môi trường mà còn đề xuất những giải pháp truyền thông hiệu quả để nâng cao nhận thức cộng đồng về vấn đề này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin giá trị giúp mở rộng hiểu biết về mối liên hệ giữa truyền thông và biến đổi khí hậu.

Để mở rộng thêm kiến thức về tác động của các yếu tố môi trường, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn tác động của công nghiệp hoá hiện đại hoá đến môi trường ở tỉnh Phú Thọ, nơi phân tích tác động của công nghiệp hóa đến môi trường. Ngoài ra, bài viết Báo cáo đánh giá tác động môi trường của dự án nhà máy sản xuất tấm tế bào quang điện năng lượng mặt trời Boviet Hải Dương cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động môi trường của các dự án năng lượng tái tạo. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu xử lý nước thải giàu cacbon và nitơ bằng công nghệ MBBR sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về công nghệ xử lý nước thải, một vấn đề quan trọng trong quản lý môi trường hiện nay. Những tài liệu này không chỉ bổ sung kiến thức mà còn mở ra nhiều góc nhìn mới về các vấn đề môi trường liên quan.