Tổng quan nghiên cứu

Trong hơn 50 năm qua tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình năm đã gia tăng từ 0,5°C đến 0,7°C và mực nước biển dâng khoảng 20 cm, tạo nên những áp lực môi trường chưa từng có đối với tài nguyên thiên nhiên. Nằm ở vị trí đầu nguồn lưu vực sông Hồng và sông Chảy với diện tích tự nhiên 638.389,59 ha cùng địa hình chia cắt phức tạp từ độ cao 80 m tại vùng trũng lên tới 3.143 m tại đỉnh Phan Xi Păng, tỉnh Lào Cai là địa bàn đặc biệt nhạy cảm trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Sự biến đổi của các yếu tố khí hậu không chỉ làm xáo trộn quy luật thủy văn tự nhiên mà còn trực tiếp đe dọa đến an ninh nguồn nước, sinh kế của hơn 25 dân tộc bản địa và sự phát triển bền vững của toàn vùng Tây Bắc.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Biến đổi khí hậu của tác giả Lê Mạnh An tập trung nghiên cứu, đánh giá định lượng tác động của biến đổi khí hậu đến chế độ thủy văn trên địa bàn tỉnh Lào Cai. Mục tiêu trọng tâm của đề tài là phân tích sự biến đổi của các yếu tố khí tượng, tính toán mức độ suy giảm dòng chảy mặt, dòng chảy mùa kiệt, sự gia tăng dòng chảy mùa lũ và lập bản đồ phân vùng rủi ro hạn hán theo các kịch bản phát thải. Phạm vi không gian nghiên cứu bao quát toàn bộ 9 đơn vị hành chính của tỉnh Lào Cai, dựa trên chuỗi số liệu quan trắc thực nghiệm giai đoạn 1980–2010 và dự báo xu thế thủy văn trong giai đoạn 2020–2039 cũng như tầm nhìn đến cuối thế kỷ 21.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quản lý tối ưu nguồn tài nguyên nước mặt khoảng 9,5 tỷ m³/năm của tỉnh. Kết quả nghiên cứu là luận cứ kỹ thuật quan trọng giúp chính quyền địa phương lồng ghép kịch bản biến đổi khí hậu vào quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ các lưu vực sông trước tình trạng thiếu hụt nước nghiêm trọng trong mùa khô khi lưu lượng dòng chảy kiệt giảm sâu xuống dưới 104 m³/s.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết hoàn lưu khí quyển và kịch bản phát thải khí nhà kính toàn cầu của Ban Liên chính phủ về Biến đổi Khí hậu kết hợp với kịch bản biến đổi khí hậu quốc gia do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành. Các kịch bản phát thải cao A2, kịch bản trung bình B2 và kịch bản thấp B1 được sử dụng làm khung tham chiếu nhằm xác định xu thế biến động của nhiệt độ và lượng mưa trong thế kỷ 21. Bên cạnh đó, luận văn áp dụng lý thuyết cân bằng nước lưu vực sông và nguyên lý hình thành dòng chảy mặt để mô phỏng tương tác giữa các yếu tố khí hậu và thủy văn vùng đồi núi.

Khung khái niệm chính của đề tài bao gồm bốn chỉ số cốt lõi:

  • Chỉ số khô khí tượng Kkhô: Đo lường mức độ mất cân bằng giữa lượng mưa thực tế và lượng bốc thoát hơi nước tiềm năng trong từng thời đoạn vụ mùa.
  • Chỉ số cạn kiệt dòng chảy sông Kcạn: Đánh giá tỷ lệ suy giảm của lưu lượng nước sông thực tế so với lưu lượng trung bình nhiều năm trên từng mặt cắt thủy văn.
  • Chỉ số hạn tổng hợp Khạn: Xác định mức độ hạn hán khi xuất hiện đồng thời trạng thái khô khí tượng và cạn kiệt thủy văn, với các ngưỡng phân cấp từ dấu hiệu sinh hạn (Khạn = 0,5) đến hạn đặc biệt nghiêm trọng (Khạn > 0,95).
  • Mô hình thủy văn thông số tập trung MIKE NAM: Công cụ mô phỏng quá trình mưa - dòng chảy, truyền lũ và cân bằng ẩm trong đất trên lưu vực sông.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đồng bộ từ chuỗi quan trắc liên tục 31 năm (1980–2010) tại 8 trạm khí tượng (tiêu biểu như trạm thành phố Lào Cai, Sa Pa, Bắc Hà, Phố Ràng) và 3 trạm thủy văn chiến lược trên các dòng chính (gồm trạm Lào Cai trên sông Hồng, trạm Tà Thàng và trạm Khe Lếch).

Phương pháp chọn mẫu chuỗi thời gian được thực hiện có chủ đích nhằm đại diện đầy đủ cho 7 đai độ cao địa hình đặc thù của Lào Cai, từ các vùng núi cao trên 1.500 m có lượng mưa lớn đến các thung lũng đồi thoải dưới 500 m chịu ảnh hưởng khô nóng. Cỡ mẫu số liệu kéo dài hơn 3 thập kỷ đảm bảo tính ổn định thống kê và loại trừ các sai số ngẫu nhiên của khí hậu cục bộ.

Phương pháp phân tích chính là sự kết hợp giữa thống kê toán học thủy văn, mô hình hóa toán học bằng mô hình MIKE NAM và công nghệ thông tin địa lý GIS. Lý do lựa chọn mô hình MIKE NAM kết hợp GIS là vì công cụ này có khả năng tái hiện chính xác động thái thủy văn trên các lưu vực miền núi dốc mạnh, tính toán chi tiết sự biến thiên dòng chảy mặt theo từng tiểu lưu vực và trực quan hóa không gian các vùng ngập lụt, hạn hán. Tiến trình nghiên cứu được triển khai từ việc phân tích hiện trạng giai đoạn 1980–2010, hiệu chỉnh thông số mô hình và tiến hành mô phỏng dự báo cho giai đoạn 2020–2039.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nền nhiệt độ và lượng bốc hơi tại Lào Cai có sự gia tăng rõ rệt nhưng phân hóa mạnh theo độ cao. Nhiệt độ trung bình năm dao động từ 15,3°C tại Sa Pa (vùng núi cao trên 1.500 m) đến 23,0°C tại Phố Ràng và tốc độ tăng nhiệt ghi nhận từ 0,05°C đến 0,15°C/thập kỷ. Tổng lượng bốc hơi trung bình năm biến thiên từ 567,4 mm tại Bắc Hà đến 894,4 mm tại thành phố Lào Cai. Lượng mưa trung bình năm phân bổ không đều khi trạm Sa Pa đạt tới 2.729,0 mm/năm, cao hơn trạm Phố Ràng (1.606,3 mm/năm) khoảng 69,8%. Đáng chú ý, lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm tới 79% tổng lượng mưa cả năm.

Thứ hai, chế độ dòng chảy sông ngòi biến động cực đoan giữa hai mùa lũ và cạn. Tổng lượng dòng chảy mặt toàn tỉnh đạt khoảng 9,5 tỷ m³/năm với mô đun dòng chảy từ 30 đến 70 l/s/km². Mùa lũ (tháng 6 đến tháng 10) chiếm trên 70% tổng lượng nước năm, trong đó đỉnh lũ lịch sử tại trạm Lào Cai từng ghi nhận lưu lượng lên tới 8.430 m³/s và tại Tà Thàng là 2.440 m³/s. Ngược lại, mùa kiệt (tháng 11 đến tháng 5 năm sau) chỉ chiếm dưới 30% lượng nước. Lưu lượng dòng chảy kiệt nhỏ nhất ghi nhận tại trạm Lào Cai tụt giảm còn 104 m³/s (thậm chí vào mùa khô sông Hồng giảm xuống 70 m³/s), trạm Tà Thàng còn 5,73 m³/s và trạm Khe Lếch chỉ còn 4,90 m³/s.

Thứ ba, nguy cơ hạn hán gia tăng nghiêm trọng trong tương lai theo các kịch bản biến đổi khí hậu. Kết quả tính toán chỉ số Khạn giai đoạn 2020–2039 chỉ ra rằng hạn hán xuất hiện chủ yếu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Tháng 1 là thời điểm hạn hán đạt mức độ khốc liệt nhất trong năm khi toàn bộ tỉnh có nguy cơ hạn vừa và có tới hơn 66% diện tích tỉnh (khoảng 2/3 diện tích) đối mặt với hạn nặng theo kịch bản A2. Trị số Khạn tháng 1 phổ biến ở mức 0,7 đến 0,8, tập trung nặng nề nhất tại các huyện Bát Xát và Mường Khương.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự biến động thủy văn tại Lào Cai là sự kết hợp giữa biến đổi hoàn lưu khí quyển quy mô khu vực và đặc điểm địa hình chia cắt hiểm trở. Với hơn 300.000 ha đất có độ dốc trên 25 độ, khi mưa lớn tập trung vào mùa hạ sẽ hình thành dòng chảy xiết gây lũ quét và sạt lở đất ven sông Hồng, sông Chảy. Ngược lại, vào mùa đông, lượng mưa suy giảm từ 4% đến 9% kết hợp với gió khô khiến nguồn bổ cập cho nước ngầm (có trữ lượng động khoảng 4.448 triệu m³) bị suy kiệt, dẫn đến tình trạng thiếu nước cục bộ.

So sánh với các công bố của Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường cũng như các báo cáo của ngành tài nguyên nước, kết quả của luận văn phản ánh tính đồng nhất cao về quy luật suy giảm dòng chảy mùa cạn từ 5% đến 12% và gia tăng dòng chảy mùa mưa từ 10% đến 19% ở khu vực miền núi phía Bắc. Mức độ hạn hán tháng 1 trùng khớp hoàn toàn với thời kỳ đổ ải chuẩn bị vụ đông xuân trong thực tế canh tác nông nghiệp tại địa phương.

Để minh họa trực quan, các chuỗi dữ liệu này có thể được trình bày thông qua biểu đồ đường kép kết hợp cột thể hiện tương quan giữa mức tăng nhiệt độ (1,2°C đến 3,6°C) và sự chênh lệch lưu lượng nước sông (từ 70 m³/s lên 4.830 m³/s) qua 12 tháng. Đồng thời, một bảng ma trận đa tiêu chí kết hợp bản đồ GIS phân vùng hạn hán với các thang màu cảnh báo từ mức dấu hiệu (Khạn = 0,5) đến hạn đặc biệt (Khạn = 0,95) sẽ giúp các nhà quản lý nhận diện nhanh chóng các điểm nóng thiếu nước tại từng xã, huyện.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Xây dựng và nâng cấp hệ sinh thái hồ chứa, đập điều tiết thủy lợi đa mục tiêu nhằm nâng công suất tích trữ nước mặt mùa kiệt từ 60 triệu m³ hiện tại lên mức 0,9 tỷ m³ vào năm 2030, đáp ứng 100% nhu cầu nước sinh hoạt và tưới tiêu nông nghiệp trong các tháng cao điểm khô hạn. Chủ thể thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp cùng Sở Xây dựng tỉnh Lào Cai.
  • Thiết lập hệ thống trạm quan trắc tự động và mô hình cảnh báo sớm lũ quét, ngập lụt theo thời gian thực trên lưu vực sông Hồng và sông Chảy, hướng tới mục tiêu giảm thiểu từ 35% đến 45% thiệt hại về người và tài sản do thiên tai trước năm 2027. Chủ thể thực hiện: Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh Lào Cai kết hợp cùng Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Tây Bắc.
  • Đẩy mạnh chương trình trồng rừng phòng hộ đầu nguồn và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên, duy trì độ che phủ rừng bền vững từ mức 49,9% lên trên 55% vào giai đoạn 2025–2035, đặc biệt tại khu vực đầu nguồn dãy Hoàng Liên Sơn và các huyện Mường Khương, Si Ma Cai nhằm tăng khả năng giữ nước và chống sa mạc hóa. Chủ thể thực hiện: Chi cục Kiểm lâm phối hợp cùng Ủy ban nhân dân các huyện vùng cao.
  • Chuyển đổi cơ cấu cây trồng và áp dụng kỹ thuật tưới tiết kiệm nước trên diện tích hơn 40.000 ha đất canh tác nông nghiệp trong mùa khô từ tháng 12 đến tháng 3, cắt giảm từ 15% đến 20% lượng nước tưới ngả ải truyền thống trước năm 2028. Chủ thể thực hiện: Trung tâm Khuyến nông tỉnh Lào Cai và Hợp tác xã nông nghiệp tại các địa phương.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Lào Cai): Sử dụng các kịch bản định lượng dòng chảy và bản đồ phân vùng hạn hán để tích hợp vào Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh tầm nhìn 2030–2050.
  • Ban quản lý dự án thủy điện và các đơn vị vận hành hồ chứa thủy lợi: Ứng dụng số liệu dòng chảy lũ cực đại 8.430 m³/s và dòng chảy kiệt 70 m³/s để xây dựng quy trình vận hành liên hồ chứa an toàn, tối ưu hóa phát điện cho hơn 110 vị trí quy hoạch thủy điện trên địa bàn tỉnh.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Biến đổi khí hậu, Thủy văn học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tích hợp mô hình MIKE NAM, chỉ số cán cân nước Kkhô, Kcạn, Khạn và công nghệ GIS trong đánh giá thủy văn lưu vực miền núi.
  • Doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và phát triển du lịch sinh thái: Khai thác dữ liệu phân bố lượng mưa từ 1.606 mm đến 2.729 mm và biên độ nhiệt độ từng mùa để lựa chọn vị trí trồng cây dược liệu, rau ôn đới và xây dựng các tour du lịch thích ứng thời tiết tại Sa Pa, Bắc Hà.

Câu hỏi thường gặp

Biến đổi khí hậu làm thay đổi lượng mưa tại tỉnh Lào Cai như thế nào? Theo chuỗi quan trắc 1980–2010 và kịch bản phát thải B2, lượng mưa tại Lào Cai phân hóa ngày càng sâu sắc. Mùa mưa (chiếm 79% lượng mưa năm) có xu hướng gia tăng từ 10% đến 15% lượng mưa gây lũ quét nghiêm trọng, trong khi lượng mưa các tháng mùa khô (tháng 3 đến tháng 5) suy giảm từ 4% đến 7%, làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu nước cục bộ.

Tại sao tháng 1 được xác định là thời điểm có nguy cơ hạn hán cao nhất tại Lào Cai? Tháng 1 là giai đoạn cao điểm của mùa khô khi lượng mưa tự nhiên xuống mức rất thấp và lưu lượng nước sông Hồng giảm sâu chỉ còn khoảng 70 đến 104 m³/s. Đồng thời, đây là thời điểm nông dân đổ ải tập trung cho vụ lúa đông xuân khiến nhu cầu nước tăng vọt, đẩy chỉ số hạn Khạn lên mức 0,7 đến 0,8 trên phần lớn diện tích tỉnh.

Chỉ số Khạn trong nghiên cứu được tính toán và phân cấp như thế nào? Chỉ số Khạn là tích số giữa hệ số khô khí tượng Kkhô (tính từ lượng mưa và bốc hơi tiềm năng) và hệ số cạn kiệt thủy văn Kcạn (tính từ lưu lượng dòng chảy sông). Nghiên cứu phân cấp hạn thành 5 mức độ: Khạn = 0,5 là dấu hiệu sinh hạn; 0,5 đến 0,6 là hạn nhẹ; 0,6 đến 0,8 là hạn vừa; 0,8 đến 0,95 là hạn nặng và trên 0,95 là hạn đặc biệt.

Nguồn tài nguyên nước mặt của Lào Cai có đáp ứng đủ nhu cầu phát triển trong tương lai không? Tổng lượng dòng chảy mặt của tỉnh đạt khoảng 9,5 tỷ m³/năm nhưng phân bố rất bất hợp lý theo thời gian. Vào mùa kiệt, khả năng khai thác an toàn chỉ đạt tối đa 0,9 tỷ m³ trong khi hiện tại mới sử dụng khoảng 60 triệu m³ (tương đương 2% đến 3% lượng nước đến). Dù tiềm năng tổng thể dồi dào, nguy cơ thiếu nước nghiêm trọng vẫn xảy ra cục bộ tại Mường Khương, Si Ma Cai nếu thiếu công trình tích trữ.

Mô hình thủy văn nào được áp dụng để mô phỏng dòng chảy trong luận văn? Nghiên cứu ứng dụng mô hình mưa - dòng chảy MIKE NAM kết hợp công nghệ GIS và dữ liệu quan trắc tại 8 trạm khí tượng cùng 3 trạm thủy văn. Mô hình cho phép mô phỏng chính xác quá trình hình thành dòng chảy mùa lũ, dòng chảy kiệt và cân bằng nước lưu vực theo các kịch bản biến đổi khí hậu A2, B2 và B1.

Kết luận

  • Luận văn đã chứng minh xu thế ấm lên rõ rệt tại Lào Cai với mức tăng nhiệt độ 0,05°C đến 0,15°C/thập kỷ và tổng lượng dòng chảy mặt 9,5 tỷ m³/năm bị phân hóa mất cân đối nghiêm trọng.
  • Xác định rõ sự tương phản thủy văn sâu sắc giữa mùa lũ chiếm trên 70% tổng lượng nước (lưu lượng đỉnh lũ đạt 8.430 m³/s) và mùa kiệt chiếm dưới 30% (lưu lượng kiệt giảm sâu còn 70 m³/s đến 104 m³/s).
  • Dự báo chính xác nguy cơ hạn hán giai đoạn 2020–2039, chỉ ra tháng 1 là tâm điểm hạn nặng trên hơn 66% diện tích toàn tỉnh theo kịch bản phát thải cao A2 với chỉ số Khạn đạt 0,7 đến 0,8.
  • Đóng góp bộ cơ sở dữ liệu định lượng và hệ thống bản đồ GIS phân vùng rủi ro thiên tai, phục vụ trực tiếp cho việc quy hoạch tài nguyên nước và phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại địa phương.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp công trình và phi công trình đồng bộ, trọng tâm là nâng khả năng tích trữ nước mặt lên 0,9 tỷ m³ và nâng độ che phủ rừng lên trên 55% trong giai đoạn 2025–2035.

Trong giai đoạn 2024–2030, việc hiện thực hóa các giải pháp quản lý lưu vực sông liên vùng và nâng cấp hệ thống cảnh báo sớm là nhiệm vụ cấp bách của tỉnh Lào Cai. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý hãy khai thác toàn văn công trình nghiên cứu này để làm chủ phương pháp luận đánh giá tác động biến đổi khí hậu và xây dựng các chiến lược thích ứng hiệu quả cho khu vực miền núi phía Bắc.