CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về RNM Xuyên suốt từ thế kỷ 20, khái niệm “rừng ngập mặn” được các nhà khoa học, chuyên gia đưa ra thảo luận và nghiên cứu phổ biến. Rừng ngập mặn là quần xã được hợp thành từ thực vật ngập mặn phân bố ở vùng liên triều (the inter-tidal region) giữa biển và đất liền vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, trong khoảng vĩ độ từ từ 30 ° Bắc đến 30 ° Nam (C. Nhờ vị trí phân bố chủ yếu trong vùng tiếp giáp giữa biển và đất liền, cùng sự phát triển trong môi trường khắc nghiệt như độ mặn cao, nhiệt độ cao, thủy triều cực đoan, RNM là sinh cảnh quan trọng và quý giá về khả năng thích nghi, đồng thời có vai trò quyết định đối với hệ sinh thái ven biển.
Các nghiên cứu về RNM trên thế giới đều nhận định lợi ích từ RNM đối với tài nguyên, môi trường và kinh tế xã hội của cộng đồng ven biển không thể phủ nhận. Bên cạnh đó, trong các chiến lược PTBV vùng ven biển, các chương trình ứng phó và thích ứng với biến đổi khí hậu. Theo ước tính, trên thế giới có khoảng 110 loài thực vật ngập mặn (TVNM), theo nghĩa là một cây mọc ở vùng đầm lầy mặn ven biển [4]. Mặc dù chỉ có số ít thuộc chi thực vật ngập mặn, Rhizophora, tuy nhiên một khu vực đầm lầy ngập mặn thường có số ít các loài cây, trung bình từ 3 – 4 loài thực vật ngập mặn cùng sinh sống và phát triển.
So sánh với các quần xã rừng mưa nhiệt đới cùng vĩ độ (the tropical rainforest) với hàng ngàn loài thực vật, hệ thống các loài TVNM trong đầm lầy ngập mặn thường có số lượng loài ít hơn, tuy nhiên điều này không phản ánh sự thiếu đa dạng của HST RNM. Đa số các RNM trên thế giới là nơi cư trú và môi trường sống của nhiều loài sinh vật ven biển, hình thành nên một hệ sinh thái đa dạng và phong phú. TVNM phong phú nhất ở khu vực Đông Nam Á là Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Việt Nam vì nơi đây mưa lớn, nhiều phù sa, ít sóng gió (Hình 1. Ngoài ra, khu vực Nam Á bao gồm Ấn Độ và Banglandesh cũng được xem là khu vực có nhiều loài cây ngập mặn phong phú và có chất lượng.
Các cây gỗ quan trọng nhất là Mắm (hay Mấm), Đước, Vẹt, Bần, Dà (Ceriops). Mắm trắng (Mắm lưỡi đòng) (Avicemnia 4 z Alba) và Bần trắng (Sorineratia Alba) phát triển theo hướng biển, còn Mắm quăn (Avicennia Lanata) và Mắm đen (Avicennia Officinalis) hướng về phía đất liền. Chỉ riêng ở Việt Nam đã có khoảng 37 loài cây ngập mặn khác nhau trong đó Đồng bằng sông Cửu Long có số lượng và chủng loại cây ngập mặn đa dạng nhất, tiếp đến là khu vực đồng bằng ven biển Đông Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. RNM là HST ven biển nhạy cảm, thay đổi linh hoạt để ứng phó với các tác động tự nhiên như: thiên tai, biến động mực nước biển hay bồi lắng trầm tích, và tác động nhân sinh bao gồm các hoạt động duy trì sinh kế, phát triển KT-XH khu vực ven biển.
Các hoạt động phát triển và vận động của HST ven biển đã làm biến đổi, suy thoái hệ RNM, và cần các nỗ lực phục hồi và tái tạo lại các hệ rừng ven biển. Các phương thức phục hồi rừng phổ biến nhất bao gồm việc tái tạo và trồng mới các loài TVNM trên nền bãi bồi ven biển. Phương pháp phục hồi và trồng mới các hệ RNM thông qua các kỹ thuật ươm giống cây non yêu cầu các yếu tố sinh thái, tự nhiên như thổ nhưỡng, điều kiện địa hình, chế độ hải văn… đồng thời, các yếu tố nhân sinh như quan điểm xã hội, chính sách quy hoạch, văn hóa và con người cũng đóng góp vào sự thành công của dự án. Hệ quả khi các dự án phục hồi triển khai thành công, HST ven biển được bảo vệ bởi một hệ thống các lâm phần mới, đó là hệ “rừng trồng”.
Đối với khái niệm “rừng phục hồi” (restoring mangrove forests), là rừng thứ sinh được hình thành bằng tái sinh tự nhiên trên đất đã mất rừng do chịu các tác động từ hệ thống tự nhiên hoặc nhân sinh. Điểm khác biệt giữa “rừng trồng” từ hoạt động phục hồi RNM và “rừng phục hồi” thể hiện bởi đặc điểm tái sinh. Dựa trên phương pháp luận tiếp cận liên ngành, HST rừng trồng từ các hoạt động phục hồi, các dự án tái sinh rừng nhân tạo trên các bãi bồi bị suy thoái là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhằm đánh giá đầy đủ các tính bền vững của HST ven biển thông qua các hệ thống lợi ích tự nhiên và nhân sinh. Tại Việt Nam, theo Công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, tổng diện tích RNM của Việt Nam là 203.
Trong đó diện tích RNM phục vụ mục đích phòng hộ là 115.948 ha (chiếm 56,98%); diện tích rừng đặc dụng là 33.046 ha (chiếm 16,24%); diện tích rừng sản xuất là 44.918 ha (22,08%); và diện tích rừng ngoài quy hoạch 3 loại rừng trên là 9. So với kết quả kiểm kê rừng toàn quốc (Viện Ðiều tra Quy 5 z hoạch rừng (FIPI), 2001), diện tích RNM Việt Nam tính dến ngày 21/12/1999 là 156.608 ha, như vậy sau 17 năm, diện tích RNM của Việt Nam tăng khoảng 29,93%, chủ yếu tăng do các dự án trồng và phục hồi rừng của các tổ chức trong và ngoài nước.1: Bản đồ phân bố RNM tại Việt Nam (Nguồn: vietnam.net) Dựa vào sự khác nhau về các điệu kiện địa lý tự nhiên có thể phân chia thảm thực vật rừng ngập mặn và đất ngập mặn ven biển nước ta theo 3 miền Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ thành 6 vùng và 12 tiểu vùng. Bảng 1-1: Phân vùng RNM ven biển Việt Nam (nguồn: Phan Nguyên Hồng, 1999) Miền Vùng Tiểu vùng Ghi chú Móng Cái – Cửa Ông Đông Bắc (Quảng Cửa Ông – Cửa Lục Ninh) Ven biển Bắc Bộ Cửa Lục – Đồ Sơn Đồ Sơn – Văn Úc Hệ sông Thái Bình Đồng bằng Bắc bộ Văn Úc – Lạch Trường Hệ sông Hồng Lạch Trường - Ròn Bắc Trung Bộ Ven biển Trung Bộ Ròn – Hải Vân Nam Trung Bộ Hải Vân – Vũng Tàu 6 z Miền Vùng Tiểu vùng Ghi chú Đông Nam Bộ Vũng Tàu – Soài Rạp Soài Rạp – Mỹ Thạnh Đồng bằng sông Cửu Ven biển Nam Bộ Long , Tây bán đảo Cà Đồng bằng Nam Bộ Mỹ Thạnh – Bản Háp Mau Bản Háp – Hà Tiên 1. Tổng quan về các lợi ích của RNM RNM là nơi có tài nguyên sống đa dạng và phong phú, phát triển trải rộng theo dọc vùng bờ biển, cửa sông, đầm phá được bảo vệ.
Lợi ích của RNM mang lại đối với hệ tư nhiên va con người khu vực ven biển rất quan trọng, bao gồm duy trì ĐDSH và lưới thức ăn, lưu trữ carbon cho sinh vật sống, cung cấp các nguồn lợi THS cho người dân địa phương. Sinh khối RNM là nguồn thức ăn cho các loài sinh vật ở cửa sông và gần bờ. Một số đặc trưng sinh học phát triển như thân, rễ của TVNM giúp làm giảm năng lượng, cường độ sóng, đồng thời giảm xói mòn ven biển và bảo vệ bờ biển khỏi lũ lụt.2: Vai trò của RNM đối với môi trường ven biển Thái Lan (S. Aksornkoae, 2007) RNM đóng vai trò quan trọng đối với môi trường ven biển và đối với các HST liền kề, bao gồm vùng đất ngập nước trên cạn, đầm lầy than bùn, thảm cỏ biển và các rạng san hô.
Lợi ích của RNM đối với môi trường, hệ tự nhiên có tầm quan trọng hơn cả trong việc hỗ trợ các quá trình sinh thái (S. Aksornkoae, 2007, Macintosh & Ashton, 2002). Bên cạnh đó, các lợi ích về môi trường và sinh thái, các lợi ích khác 7 z liên quan đến phát triển KT – XH, các lợi ích liên ngành cũng được quan tâm tới. Dựa theo các chức năng của RNM và khuôn khổ của đề tài, tác giả đề xuất các lợi ích tiêu biểu của RNM tương ứng với các hệ thống khoa học bền vững, đồng thời từ đó đánh giá các mối tương quan lợi ích – thiệt hại giữa RNM với các nhóm hệ thống (bảng 1.
Bảng 1-2: Các lợi ích của RNM tương ứng với các hệ thống bền vững Nhóm hệ thống Lợi ích của RNM liên quan Lưu trữ Carbon hữu cơ Hệ thống tự nhiên - sinh thái Duy trì Đa dạng sinh học và lưới thức ăn Duy trì sinh kế và nguồn lợi thủy hải sản Hệ thống kinh tế - xã hội Du lịch sinh thái và giáo dục nhận thức Bảo vệ đê điều và giảm thiểu tác động của thiên tai Bảo vệ các hệ sinh thái lân cận Hệ thống toàn cầu Ứng phó với BĐKH và chương trình Giảm phát thải khí nhà kính thông qua nỗ lực hạn chế mất rừng và suy thoái rừng 1. Tính bền vững của hệ sinh thái ven biển Phát triển bền vững là nguyên tắc tổ chức nhằm đáp ứng các mục tiêu phát triển của con người đồng thời duy trì khả năng của các hệ thống tự nhiên, cung cấp các dịch vụ tài nguyên và hệ sinh thái cho nền kinh tế và xã hội phụ thuộc. Theo Liên Hiệp Quốc (2014), PTBV bao gồm ba trụ cột chính: môi trường (tính bền vững môi trường nhằm đảm bảo các yếu tố tự nhiên, sinh thái, các nguồn tài nguyên vẫn đảm bảo sự tồn tại, đồng thời đạt năng suất và đa dạng); kinh tế (sự phát triển kinh tế theo hướng bền vững bao hàm các vấn đề phát triển năng lượng sạch, kinh tế xanh, kỹ thuật công nghệ cao… ít tác động tới môi trường và các vấn đề tự nhiên, tiêu thụ tài nguyên ít hơn đồng nghĩa với việc xả thải ra môi trường cũng ít hơn) và xã hội (xã hội bền vững khi các yếu tố liên quan đến sức khỏe cộng đồng, phát triển con người được đảm bảo, các chính sách và văn hóa không có tác động tiêu cực tới các trụ cột còn lại của sự phát triển). Tính bền vững (sustainability) có thể định nghĩa là sự phát triển hài hòa giữa các yếu tố con người và tự nhiên, trong đó các yếu tố môi trường, sinh thái, tự nhiên, kinh tế, xã hội, thể chế - chính sách, văn hóa… được lồng ghép thành các hệ thống liên ngành.
Tính bền vững cũng được biểu hiện từ góc nhìn của sự phát triển xã hội 8 z (góc nhìn từ phía tự nhiên) theo hướng thuận theo tự nhiên, đồng thời, với góc nhìn từ phía con người, tính bền vững được thể hiện bởi sự tồn tại và phát triển của các yếu tố tự nhiên, môi trường, sinh thái không gây phương hại tới các hoạt động sống của con người.