CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ SINH KẾ CỦA NGƯ DÂN VEN BIỂN 1. Cơ sở lý luận về sinh kế của ngư dân ven biển 1. Một số khái niệm cơ bản về sinh kế 1. Khái niệm sinh kế Từ giữa những năm 80, ý tưởng về sinh kế đã được đề cập trong các tác phẩm của Robert Chambers.
Về sau, khái niệm này xuất hiện nhiều hơn trong các nghiên cứu của Barrett và Reardon, F. Ellis, Conway và những người khác đầu những năm 90. Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản (bao gồm cả nguồn lực tinh thần và nguồn lực xã hội) và các hoạt động cần thiết đề mưu sinh. Theo Ủy ban phát triển Quốc tế vương quốc Anh (DFID) “Sinh kế có thể được miêu tả như là sự tập hợp các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ” [29].
Theo Chamber và Conways “Sinh kế bao gồm khả năng, nguồn lực và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người” [28]. Theo Bùi Đình Toái ,[15] khái niệm sinh kế của hộ hay của một cộng đồng là một tập hợp của các nguồn lực và khả năng của con người kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện để không những kiếm sống mà còn đạt đến mục tiêu đa dạng hơn. Hay nói cách khác, sinh kế của một hộ gia đình hay một cộng đồng còn được gọi là kế sinh nhai hay phương tiện kiếm sống của hộ gia đình hay cộng đồng đó. Tóm lại, có thể hiểu sinh kế như là một tập hợp các nguồn lực và khả năng của con người có được, kết hợp với những quyết định và những hoạt động mà họ sẽ thực hiện nhằm để kiếm sống và những mục tiêu và ước nguyện của hộ.
Khái niệm sinh kế có thể diễn đạt bằng sơ đồ như sau: 9 Kiếm sống Nguồn lực và Các quyết Các hoạt khả năng định động Mục tiêu và ước nguyện Nguồn lực Chiến lược sinh kế Mục tiêu sinh kế sinh kế Sơ đồ 1. Sơ đồ hóa khái niệm sinh kế 1. Sinh kế bền vững Khái niệm Theo Chambers và Conway [28], định nghĩa về sinh kế bề vững bao gồm: con người, năng lực, kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ, trong đó tài sản của họ là tài nguyên, dự trữ và tài sản vô hình. Sinh kế sẽ bền vững hơn khi nó bao gồm, hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào và lợi ích dòng tác động đến sinh kế khác.
Về mặt xã hội, sinh kế được cho là bền vững khi nó có thể chống chịu hoặc làm hồi sinh từ những thay đổi lớn, từ đó có thể cung cấp cho tương lai khả năng phát triển mới. Theo quan điềm của DFID [29] thì sinh kế của một cá nhân, một hộ gia đình, một cộng đồng được xem là bền vững khi: Cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng đó có thể vượt qua những biến động trong cuộc sống do thiên tai, dịch bệnh, hoặc khủng hoảng kinh tế gây ra. Phát triển hơn nguồn tài sản hiện tại mà không làm ảnh hưởng đến nguồn tài nguyên thiên nhiên. Tóm lại, một sinh kế được gọi là bền vững khi con người, hộ gia đình, cộng đồng với khả năng của mình có thể đối phó, phục hồi lại được sinh kế sau những áp lực, những tổn thương (các cú sốc, thiên tai, dịch bệnh, khủng hoảng.) và đồng thời có thể duy trì hay nâng cao khả năng nguồn lực con người và thiên nhiên.
Các yếu tố cấu thành khung sinh kế bền vững Khung sinh kế bền vững phân tích mối quan hệ tác động qua lại giữa 5 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế: (i) nguồn lực sinh kế; (ii) hoạt động sinh kế; (iii) kết quả sinh kế; (iv) thể chế và chính sách; (v) bối cảnh bên ngoài [8]. 10 - Nguồn lực sinh kế: Có 5 loại nguồn lực sinh kế: nguồn lực tự nhiên, nguồn lực vật chất, nguồn lực tài chính, nguồn lực con người và nguồn lực xã hội. Khả năng tiếp cận của con người đối với các nguồn lực sinh kế được coi là yếu tố trọng tâm trong cách tiếp cận sinh kế bền vững. Nguồn lực con người Nguồn lực xã hội Nguồn lực tự nhiên Nguồn lực vật chất Nguồn lực tài chính Sơ đồ 1.2: Tài sản sinh kế của người dân (1) Nguồn lực con người: Nguồn vốn con người bao gồm các kỹ năng, kỹ xảo, kiến thức, năng lực lao động và sức khỏe con người, có vai trò quan trọng, giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược sinh kế khác nhau.
(2) Nguồn lực vật chất: Nguồn vốn vật chất bao gồm cơ sở hạ tầng, dịch vụ xã hội cơ bản và các tài sản, công cụ sản xuất của hộ gia đình như: Giao thông, cấp thoát nước, năng lượng, nhà ở, các phương tiện sản xuất, đi lại, thông tin. (3) Vốn xã hội: Là những nguồn lực xã hội (các mạng lưới, thành viên của các nhóm, mối quan hệ tin cậy, khả năng tiếp cận với các tổ chức thể chế rộng lớn của xã hội) để trên cơ sở đó con người theo đuổi các mục tiêu sinh kế của mình. (4) Nguồn vốn tài chính: Bao gồm các nguồn vốn khác nhau mà con người sử dụng để đạt được mục tiêu sinh kế bao gồm các khoản tiền tiết kiệm, tiền mặt, trang sức, các khoản vay, các khoản thu nhập… (5) Vốn tự nhiên: Bao gồm các nguồn tài nguyên có trong môi trường tự nhiên mà con người có thể sử dụng để thực hiện các hoạt động sinh kế, ví dụ như đất đai, rừng, tài nguyên biển, nước, không khí, đang dạng sinh học… 11 - Hoạt động sinh kế: Hoạt động sinh kế là cách mà hộ gia đình sử dụng các nguồn lực sinh kế sẳn có để kiếm sống và đáp ứng các nhu cầu trong cuộc sống. Các nhóm dân cư khác nhau trong cộng đồng có những đặc điểm kinh tế xã hội và các nguồn lực sinh kế khác nhau nên có những lựa chọn về hoạt động sinh kế khác nhau.
Các hoạt động sinh kế có thể thực hiện là: sản xuất nông nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng thủy sản, sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ, buôn bán, du lịch, di dân. - Kết quả sinh kế: Là những thành quả hộ đạt được khi kết hợp các nguồn lực sinh kế khác nhau để thực hiện các hoạt động sinh kế. Kết quả sinh kế có thể là: hưng thịnh hơn, đời sống được nâng cao, khả năng tổn thương giảm, an ninh lương thực được cũng cố. - Thể chế, chính sách: Các thể chế và luật pháp, chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện thành công các sinh kế.
Các thể chế và chính sách được xây dựng và hoạt động từ cấp hộ gia đình đến cấp vừng, quốc gia, quốc tế. Các thể chế chính sách quyết định khả năng tiếp cận các nguồn lực sinh kế và việc thực hiện các hoạt động sinh kế của các cá nhân, hộ gia đình và nhóm đối tượng khác nhau. - Bối cảnh bên ngoài: 3 yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến sinh kế đó là: (i) các xu hướng về dân số, nguồn lực sinh kế, sự thay đổi công nghệ. (ii) các cú sốc như về sức khỏe do dịch bệnh, cú sốc về tự nhiên do thời tiết và thiên tai, về kinh tế do khủng hoảng, về mùa màng/vật nuôi; (iii) tính mùa vụ như sự thay đổi về giá cả, hoạt động sản xuất, các cơ hội việc làm có tính thời vụ.
Một số khung sinh kế bền vững Scoones (1998) là người đầu tiên đưa ra khung phân tích về sinh kế nông thôn bền vững. Vấn đề đặt ra là trong một bối cảnh bên ngoài thì sự kết hợp giữa các nguồn lực sinh kế nào sẽ tạo ra khả năng thực hiện các hoạt động sinh kế nhằm đạt các kết quả sinh kế nhất định. Trong khung phân tích này, thể chế và chính sách đóng vai trò quan trọng trong việc giúp thực hiện các hoạt động sinh kế và đạt được các kết quả sinh kế mong muốn. 12 BỐI CẢNH, ĐIỀU NGUỒN QUY KIỆN VÀ CÁC LỰC SINH TRÌNH, CHIẾN KẾT KHUYNH HƯỚNG KẾ THỂ CHẾ LƯỢC QUẢ VÀ CƠ SINH KẾ SINH KẾ CẤU TỔ CHỨC Chính sách Sinh kế Nguồn lực 1.
Tăng số ngày làm Lịch sử tự nhiên việc Chính trị Thâm canh 2.Giảm nghèo đói Điều kiện Nguồn lực trong nông 3. Cải thiện phúc lợi tài chính nghiệp và năng lực kinh tế vi mô Thương mại Các thể Nguồn lực chế và Nhân khẩu con người Tính bền vững chính Đa dạng hóa học sách Nguồn lực sinh kế Sinh thái xã hội 4. Tăng khả năng nông nghiệp thích ứng của sinh kế Các loại và giảm khả năng bị Phân tầng xã nguồn lực Di dân tổn thương hội khác 5. Đảm bả tính bền vững của tài nguyên thiên nhiên Phân tích các Phân tích các nguồn Phân tích ảnh hưởng Phân tích các loại Phân tích các kết điều kiện, lực sinh kế: sự đánh của thể chế chính chiến lược sinh kế quả sinh kế và sự khuynh hướng đổi, kết hợp, xu sách đến việc tiếp khác nhau được đánh đổi và bối cảnh hướng cận nguồn lực sinh thực hiện chính sách kế và thực iện chiến lược sinh kế Hình 1.1: Khung sinh kế nông thôn bền vững của Scoones (1998) Nguồn: Scoones, 1998 Năm 2001, Cơ quan phát triển quốc tế Vương quốc Anh (DFID) đưa ra khung sinh kế bền vững.
Theo DFID, các hộ gia đình đều có các hoạt động sinh kế dựa vào các nguồn lực sinh kế sẵn có trong một bối cảnh chính sách và thể chế nhất định ở địa phương. Những nhân tố này cũng chịu ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài như bão lụt và các tác động mang tính thời vụ.