Chương 1: Tổng quan về Titan oxit và quang xúc tác. Chương 2: Tổng quan về hiệu ứng plasmon và mô hình tổ hợp nano Au:TiO2. Chương 3: Các phương pháp chế tạo tổ hợp nano Au:TiO2 và các kỹ thuật phân tích. Chương 4: Kết quả và thảo luận.
TỔNG QUAN VỀ TITAN OXIT VÀ QUANG XÚC TÁC 1.1 Tính chất chung của TiO2 Titan (Ti) là kim loại chuyển tiếp lớp 3d có màu trắng bạc với cấu trúc tinh thể lục giác, có trạng thái oxi hóa đặc trưng và bền nhất là Ti4+. TiO2 là oxit của Ti được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất. Từ lâu TiO2 được biết đến là một bán dẫn có vùng cấm nghiêng (hình 1.1), với độ rộng vùng cấm khoảng 3,2eV là vật liệu quan trọng sử dụng làm điện cực trong kỹ thuật quang điện hóa. TiO2 là một chất rắn màu trắng và tồn tại dưới một số dạng tinh thể khác nhau.
Trong tự nhiên thì TiO2 không tồn tại dưới dạng tinh khiết mà chỉ tồn tại dưới dạng khoáng chất. TiO2 là chất khá cứng và khó nóng chảy với nhiệt độ nóng chảy vào khoảng 18500C. TiO2 còn là một vật liệu khá trơ về mặt hóa học, nó không tác dụng với nước, dung dịch axit loãng (trừ HF) và kiềm, nó chỉ tác dụng với dung dịch axit khi đun nóng lâu và kiềm nóng chảy (bảng 1). TiO2 có chiết suất cao do đó chúng được sử dụng rộng rãi làm vỏ bọc chống phản xạ trong pin mặt trời silic và nhiều thiết bị quang màng mỏng khác.
Ngoài ra TiO2 còn được ứng dụng thành công trong việc chế tạo sensor khí nhờ sự phụ thuộc độ dẫn điện vào thành phần khí bao quanh. TiO2 cũng được sử dụng để xác định nồng độ CO, O2 ở nhiệt độ cao (khoảng trên 6000C). Nhờ khả năng tương thích với cơ thể người TiO2 còn được sử dụng làm vật liệu sinh học như thay thế xương hoặc làm tăng tính cơ học của các bộ phận trong cơ thể. TiO2 được dùng trong công nghệ thực phẩm (E171), thuốc đánh răng, trong công nghệ sơn.
TiO2 cũng được dùng trong các phản ứng quang xúc tác, có tác dụng như chất hoạt hóa, phân hủy các chất gây ô nhiễm môi trường như: forman-dehide, các chất hoạt động bề mặt, khử khuẩn khử mùi. Đặc tính quang hóa của TiO2 dựa trên việc chiếu ánh sáng có năng lượng photon tương ứng với độ rộng vùng cấm của nó sinh ra các phân tử có tính oxi hóa cao tại bề mặt chất bán dẫn. TiO2 còn có khả năng phân hủy các hợp chất hữu cơ thành CO2, H2O, các hợp chất an toàn khác, làm chống sương bám.1 Titan Oxit ở dạng bột z 4 Bảng 1.1 Một vài tính chất quan trọng của TiO2 ở pha anatase và rutile Tính chất Pha anatase Pha rutile Cấu trúc tinh thể Tetragola Tetragola Số nguyên tử trong ô cơ sở 4 2 (Z) Nhóm không gian I41/amd P42/mnm Thông số mạng (nm) a=0,3785 a= 0,4594 c=0,9514 c=0,2959 Thể tích ô cơ sở (nm3) 0,1363 0,0624 Khối lượng riêng (kgm-3) 3894 4250 Độ rộng vùng cấm (eV) 3,23 - 3,59 3,02 – 3.24 (nm) 345,4 – 383,9 382,7 – 410,1 Sự tan trong HF Tan Không tan Hệ số cứng Mohs 5,5 – 6,0 7,0 – 7,5 Khối lượng hiệu dụng của 1 me 9 – 13 me điện tử Điểm nóng chảy (0C) 1830 – 1850 1870 Điểm sôi (0C) - 2927 Độ linh động của điện tử µ ~10 ~1 (cm2/Vs) Hằng số điện môi / / c 48 / / c 178 c 31 c 89 Liên kết TiO2 là liên kết ion. Các nguyên tử Titanium và Oxy trao đổi hóa trị cho nhau để thành các cation và anion.
Liên kết xuất hiện giữa các ion trái dấu thông qua lực hút tĩnh điện. Khi các nguyên tử Ti và O tiến gần nhau để tạo nên tinh thể, do tương tác giữa chúng mà có sự phân bố lại điện tử trong các nguyên tử. Quá trình phân bố lại điện tử thỏa mãn điều kiện bảo toàn điện tích trong toàn hệ và có xu hướng sao cho các nguyên tử có lớp vỏ ngoài cùng lấp đầy điện tử.2 Sơ đồ năng lượng của vùng dẫn và vùng hóa trị của TiO2 (pha anatase) Cấu hình điện tử của Ti : 1s22s22p63s23p63d24s2 Ti4+: 1s22s22p63s23p63d04s0 O: 1s22s22p4 O2-: 1s22s22p6 Khi tạo thành tinh thể, mỗi nguyên tử Ti cho hai nguyên tử O bốn điện tử và trở thành cation Ti4+, mỗi nguyên tử O nhận hai điện tử và trở thành anion O2-. Anion O2- khi đó có phân lớp 2p lấp đầy điện tử.
Vì vậy, trong tinh thể cùng 2p trở thành vùng đầy điện tử. Cation Ti4+ không có điện tử nào ở phân lớp 4s nên khi tạo thành vùng 4s trong tinh thể thì vùng này không chứa điện tử nào. Khoảng cách giữa vùng 4s và 2p lớn hơn 3eV. Các chất mà các vùng cho phép lấp đầy hoàn toàn điện tử hoặc lỗ trống hoàn toàn ở nhiệt độ thấp hầu như là các chất không dẫn điện.
Đó là các chất điện môi hoặc là bán dẫn. TiO2 có bốn loại cấu trúc tinh thể: anatase (cấu trúc dạng tứ giác), rutile (cấu trúc dạng tứ giác), brookite (cấu trúc dạng thoi) và TiO2 (B) (có cấu trúc đơn tà). TiO2 còn có thêm hai cấu trúc được tổng hợp ở áp suất cao bắt nguồn từ rutile đó là TiO2 (II) và TiO2 (H). Trong các pha trên thì rutile là bền nhất[1], [2], [14].2 Các dạng thù hình của TiO2 Cấu trúc tinh thể của rutile và anatase và brookite khác nhau do sự biến dạng của mỗi mặt bát diện và tập hợp mỗi dãy bát diện.
Tuy nhiên, dù ở cấu trúc nào thì ion Ti4+ cũng được sáu ion O2- bao quanh tạo thành khối bát diện. Ô cơ sở của pha rutile gồm hai nguyên tử Ti nằm ở vị trí (0, 0, 0) và (1/2, 1/2, 1/2) và bốn nguyên tử O. Nguyên tử oxy tạo thành bát diện bao quanh mỗi cation Ti. Ô cơ sở của pha anatase gồm bốn nguyên tử Ti nằm ở vị trí (0, 0, 0), (1/2, 1/2, 1/2), (0, 1/2, 1/4), (-1/2, 0, -1/4) và tám nguyên tử oxy.
Bát diện TiO6 là khối đơn vị cơ sở cho các cấu trúc đa dạng của TiO2. Các cấu trúc khác nhau bởi cách sắp xếp và độ méo của khối bát diện. Trong pha rutile mỗi bát diện tiếp xúc với mười bát diện bên cạnh, (trong đó hai bát diện chung nhau một cạnh và tám bát diện chung nhau một góc). Các cạnh chung nằm dọc theo hướng (001).
Anatase là mạng tinh thể đối xứng tứ giác, mỗi bát diện tiếp giáp với tám bát diện bên cạnh (bốn chung nhau cạnh và bốn chung nhau góc). Cạnh chung nằm dọc theo hướng (100) và (010) tạo thành chuỗi đường zic zắc đúp vuông góc với trục c. Khoảng cách Ti – Ti trong pha anatase lớn hơn (3,79Å và 3,04Å so với 3,57Å và 2,96Å ở pha rutile). Trong khi đó khoảng cách Ti – O trong pha anatase ngắn hơn pha rutile (1,937Å và 1,966Å so với 1,946Å và 1,983Å ở pha rutile).
Do đó, bát diện của pha rutile là không đồng đều vì có sự biến dạng yếu của hệ thoi (orthorhobic). Bát diện của pha anatase bị biến dạng mạnh (hình 1.3 Ô cơ sở và các thông số cấu trúc của pha anatase và pha rutile z 7 Sự khác nhau trong cấu trúc mạng TiO2 này là nguyên nhân dẫn tới những khác nhau về mật độ và cấu trúc điện tử giữa hai pha anatase và rutile. Màng mỏng TiO2 vô đinh hình có thể được lắng đọng ở nhiệt độ 100-1500C. TiO2 vô định hình không có cấu trúc tinh thể, thường có các khoảng trống trong vật liệu và khối lượng riêng tương đối thấp.
Cần chú ý rằng pha anatase là pha giả bền của TiO2 và sự chuyển pha rutile liên quan đến sự biến hình cấu trúc anatase mà không có chiều ngược lại. Mặc dù cả rutile và anatase đều có cấu trúc tinh thể hình tứ giác nhưng pha rutile có cấu trúc đặc hơn và vì thế nó có khối lượng riêng lớn hơn. Nhiệt độ chuyển pha từ anatase sang rutile biến đổi từ 600 – 9000C, tùy theo nồng độ và kích thước của nguyên tử pha tạp. Tuy nhiên có những công bố cho thấy tại 1500C TiO2 ở dạng vô định hình, trên 3500C pha anatase bắt đầu hình thành và chuyển hoàn toàn tại 4500C, pha rutile xuất hiện tại 5000C.
Nung ở nhiệt độ cao thì oxit titan trở thành hợp chất cực kỳ bền (trơ) hóa học. Nó có tính chất lưỡng tính, tan chậm trong axit sunphuric hoặc trong hidroxit kiềm nóng chảy. Các tính toán nhiệt động lực học dựa trên phép đo nhiệt lượng cho thấy pha rutile là pha ổn định nhất ở tất cả các nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ nóng chảy của nó với áp suất thường. Sự khác nhau về cấu trúc thì hiển nhiên dẫn đến sự khác nhau về các tính chất cơ học.
Do mật độ thấp hơn của pha anatase so với pha rutile nên pha này có cấu trúc mở, các cation nhỏ có thể xen kẽ vào, trong khi đó ở pha rutile thì không. Pha anatase mềm hơn rutile. Hệ số cứng Mohs pha anatase là 5,5 – 6,0, pha rutile là 7 -7,5 tương đương độ cứng của kính và thạch anh. Cấu trúc mạng tinh thể tứ giác của pha anatase và rutile làm tăng tính dị hướng trong các tính chất quang và tính chất điện (ví dụ tính lưỡng chiết).
Pha anatase thiếu tâm nghịch chuyển (lack of a center of inversion) nên nó có tính chất áp điện. Pha rutile không có tính chất này. Pha rutile là dạng bền nhiệt động học nhất của TiO2, vào khoảng 1,2 – 2,8kcal/mol lớn hơn pha anatase. Trong khi đó pha anatase bền hơn đối với hạt có kích thước nhỏ hơn kích thước tới hạn vì khi đó năng lượng bề mặt thấp hơn.
Nhiệt lượng cần thiết để chuyển pha sang rutile là 944,5kcal/mol [1].1 Tính chất điện của pha anatase và rutile Do tính phân cực cao của các anion oxy trong phân tử TiO2 nên hằng số điện môi của TiO2 là không đẳng hướng. Pha anatase có hằng số điện môi theo các hướng song song và vuông góc với trục C là : || c 48; c 31 , của pha rutile là: || c 178; c 89. Điện môi của pha anatase nhỏ hơn là do có thể tích phân tử lớn vì mật độ của pha này thấp hơn pha rutile. Thể tích ô cơ sở của pha rutile là 62,07Å3 trong khi của pha anatase là 136,25Å3.
Do cấu trúc vùng khác nhau của pha anatase và pha rutile nên sự vận chuyển điện tử trong hai pha khác nhau nhiều. Khối lượng hiệu dụng của điện tử trong vùng dẫn của pha anatase gần bằng khối lượng của điện tử tự do.