Luận án tiến sĩ chế tạo các cấu trúc nano vàng bạc dạng hoa lá trên silic để sử dụng trong nhận biết một số phân tử hữu cơ bằng tán xạ raman tăng cường bề mặt

Nghiên cứu cấu trúc nano vàng bạc trên silic giúp nhận biết phân tử hữu cơ hiệu quả qua tán xạ Raman, mở ra ứng dụng mới trong khoa học.

Chuyên ngành

Vật Liệu Điện Tử

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

163
16
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÁN XẠ RAMAN TĂNG CƯỜNG BỀ MẶT (SERS)

1.1. Tán xạ Raman tăng cường bề mặt

1.2. Cơ chế tăng cường điện từ

1.3. Cơ chế tăng cường hóa học

1.4. Hệ số tăng cường SERS

1.5. Hệ số tăng cường đơn phân tử (SMEF)

1.6. Hệ số tăng cường đế SERS (SSEF)

1.7. Hệ số tăng cường phân tích (AEF)

1.8. Hệ số tăng cường được ước tính dựa trên phép đo mặt cắt ngang

1.9. Sự phụ thuộc của SERS vào hình thái cấu trúc nano kim loại

1.9.1. Ảnh hưởng của hình dạng cấu trúc nano kim loại

1.9.2. Ảnh hưởng của kích thước của cấu trúc nano kim loại

1.10. Ứng dụng của SERS

1.10.1. Ứng dụng của SERS trong phân tích môi trường

1.10.2. Ứng dụng của SERS trong phân tích y học, sinh học, pháp y

1.11. Tình hình nghiên cứu SERS tại Việt Nam

1.12. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÁC PHƯƠNG PHÁP CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT ĐẾ SERS

2.1. Giới thiệu chung về các loại đế SERS

2.2. Các phương pháp chế tạo đế SERS

2.2.1. Cách tiếp cận từ trên xuống (top-down)

2.2.2. Phương pháp chế tạo các cấu trúc nano kim loại quý dạng huyền phù

2.2.3. Phương pháp chế tạo các cấu trúc nano kim loại quý trên đế rắn

2.2.4. Cách tiếp cận từ dưới lên (bottom-up)

2.2.5. Chế tạo các cấu trúc nano kim loại quý dạng huyền phù

2.2.6. Chế tạo các cấu trúc nano kim loại quý trên đế rắn

2.2.7. Một số phương pháp khác

2.2.7.1. Phương pháp ăn mòn
2.2.7.2. Phương pháp tạo khuôn

2.3. Các phương pháp khảo sát cấu trúc và tính chất của đế SERS

2.3.1. Phương pháp khảo sát hình thái và cấu trúc

2.3.1.1. Khảo sát hình thái bằng kính hiển vi điện tử quét
2.3.1.2. Khảo sát thành phần và cấu trúc bằng nhiễu xạ tia X

2.3.2. Phương pháp khảo sát tính chất của đế SERS

2.3.2.1. Phổ hấp thụ UV-Vis
2.3.2.2. Phổ tán xạ Raman

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: CHẾ TẠO VÀ KHẢO SÁT CÁC TÍNH CHẤT CỦA CÁC CẤU TRÚC NANO BẠC VÀ NANO VÀNG TRÊN SI

3.1. Quy trình chế tạo cấu trúc nano bạc trên Si bằng phương pháp lắng đọng hóa học

3.2. Các bước chế tạo cấu trúc nano bạc trên Si phẳng bằng phương pháp lắng đọng hóa học

3.3. Quy trình chế tạo các cấu trúc nano bạc, vàng trên Si phẳng bằng phương pháp lắng đọng điện hóa

3.4. Các bước chế tạo các cấu trúc nano Ag và Au trên Si phẳng bằng phương pháp lắng đọng điện hóa

3.5. Chế tạo các hạt nano bạc trên Si bằng phương pháp lắng đọng hóa học

3.6. Kết quả chế tạo

3.7. Cơ chế hình thành các hạt nano bạc trên đế Si được chế tạo bằng phương pháp lắng đọng hóa học

3.8. Nghiên cứu chế tạo các cấu trúc cành lá nano bạc trên Si

3.8.1. Chế tạo các cành lá nano Ag trên Si bằng phương pháp lắng đọng hóa học

3.8.2. Chế tạo các cành lá nano Ag trên Si bằng phương pháp lắng đọng điện hóa

3.9. Cơ chế hình thành cành lá nano bạc

3.10. Chế tạo các cấu trúc hoa nano bạc trên Si

3.10.1. Kết quả chế tạo

3.10.2. Cơ chế hình thành các hoa nano bạc

3.11. Chế tạo hoa nano vàng bằng phương pháp lắng đọng điện hóa

3.11.1. Chế tạo hoa nano vàng trên mầm bạc

3.11.2. Cơ chế hình thành hoa nano vàng

3.12. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: SỬ DỤNG CÁC CẤU TRÚC NANO VÀNG, BẠC DẠNG HOA, LÁ LÀM ĐẾ SERS ĐỂ PHÁT HIỆN VẾT CỦA MỘT SỐ PHÂN TỬ HỮU CƠ

4.1. Các hóa chất được dùng để phân tích SERS và các bước chuẩn bị đế SERS trước khi đo

4.1.1. Chuẩn bị mẫu trước khi ghi phổ SERS

4.1.2. Các chất dùng để phân tích SERS

4.2. Nghiên cứu các yêu cầu của một đế SERS tốt

4.2.1. Tính đồng đều của các cấu trúc cành lá và hoa nano vàng, bạc

4.2.2. Tính đồng đều của cấu trúc cành lá nano bạc

4.2.3. Tính đồng đều của cấu trúc hoa nano vàng và bạc

4.2.4. Tính đồng đều giữa các lô mẫu

4.3. Khảo sát hệ số tăng cường đế SERS

4.4. Nghiên cứu ứng dụng các cấu trúc cành lá nano bạc

4.4.1. Phát hiện thuốc trừ cỏ paraquat

4.4.2. Phát hiện thuốc trừ sâu pyridaben

4.4.3. Phát hiện thuốc trừ sâu thiram

4.5. Nghiên cứu ứng dụng các cấu trúc hoa nano bạc và vàng

4.5.1. Phát hiện tinh thể tím crystal violet

4.5.2. Phát hiện melamine

4.5.3. Phát hiện xyanua

4.5.4. Phát hiện rhodamine B

4.6. Kết luận chương 4

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ HÌNH VẼ

Tóm tắt

I. Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt SERS

Tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) là một kỹ thuật mạnh mẽ trong việc phát hiện và phân tích các phân tử hữu cơ nhờ vào sự tăng cường tín hiệu tán xạ Raman. Kỹ thuật này dựa trên việc sử dụng các cấu trúc nano, đặc biệt là cấu trúc nano vàng bạc, để tăng cường cường độ tín hiệu. Cơ chế tăng cường điện từ và hóa học đóng vai trò quan trọng trong hiệu suất của SERS. Cơ chế điện từ liên quan đến sự cộng hưởng plasmon bề mặt, nơi các hạt nano kim loại tương tác với ánh sáng, tạo ra các điện trường mạnh mẽ tại bề mặt. Trong khi đó, cơ chế hóa học liên quan đến sự tương tác giữa phân tử phân tích và bề mặt của hạt nano. Một nghiên cứu cho thấy rằng hình dạng và kích thước của cấu trúc nano ảnh hưởng đáng kể đến cường độ tín hiệu SERS, với các cấu trúc hình cầu và hình lá thường cho kết quả tốt hơn.

1.1. Cơ chế tăng cường điện từ

Cơ chế tăng cường điện từ là yếu tố chính trong việc giải thích hiện tượng SERS. Khi ánh sáng chiếu vào các hạt nano kim loại, nó tạo ra các điện tử tự do trong hạt, dẫn đến sự hình thành các plasmon bề mặt. Sự cộng hưởng này làm tăng cường cường độ ánh sáng tại bề mặt hạt, từ đó tăng cường tín hiệu tán xạ Raman. Nghiên cứu cho thấy rằng các hạt nano có kích thước nhỏ và hình dạng tối ưu sẽ tạo ra hiệu ứng tăng cường mạnh mẽ hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế và chế tạo các cấu trúc nano với hình dạng và kích thước phù hợp để tối ưu hóa hiệu suất SERS.

1.2. Cơ chế tăng cường hóa học

Cơ chế tăng cường hóa học trong SERS liên quan đến sự tương tác giữa phân tử phân tích và bề mặt hạt nano. Khi phân tử tiếp xúc với bề mặt nano, có thể xảy ra sự chuyển giao điện tích, dẫn đến sự thay đổi trong các đặc tính quang học của phân tử. Điều này không chỉ làm tăng cường cường độ tín hiệu mà còn cải thiện độ nhạy của phương pháp phân tích. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc sử dụng vật liệu nano như bạc và vàng có thể tạo ra các hiệu ứng hóa học mạnh mẽ, từ đó cải thiện khả năng phát hiện các phân tử hữu cơ trong môi trường phức tạp.

II. Các phương pháp chế tạo và khảo sát đế SERS

Việc chế tạo các cấu trúc nano cho SERS là một bước quan trọng để đảm bảo hiệu suất phát hiện. Các phương pháp chế tạo bao gồm tiếp cận từ trên xuống (top-down) và từ dưới lên (bottom-up). Phương pháp từ trên xuống thường sử dụng các kỹ thuật như khắc chùm điện tử và ăn mòn, trong khi phương pháp từ dưới lên thường sử dụng lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa. Đặc biệt, việc sử dụng silic làm nền cho các cấu trúc nano đã cho thấy tiềm năng lớn trong việc phát triển các đế SERS hiệu quả. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa các điều kiện chế tạo như nhiệt độ, thời gian và nồng độ dung dịch có thể ảnh hưởng đáng kể đến hình thái và tính chất của các cấu trúc nano, từ đó cải thiện khả năng phát hiện phân tử hữu cơ.

2.1. Phương pháp chế tạo đế SERS

Các phương pháp chế tạo đế SERS rất đa dạng và có thể được chia thành nhiều loại khác nhau. Phương pháp lắng đọng hóa học được sử dụng rộng rãi để tạo ra các hạt nano với hình dạng và kích thước mong muốn. Nghiên cứu cho thấy rằng việc điều chỉnh nồng độ dung dịch và thời gian lắng đọng có thể tạo ra các cấu trúc nano với độ đồng đều cao. Hơn nữa, việc sử dụng các chất phụ gia như polyvinylpyrrolidone (PVP) có thể giúp kiểm soát hình thái của các hạt nano, từ đó tối ưu hóa hiệu suất SERS.

2.2. Khảo sát cấu trúc và tính chất của đế SERS

Khảo sát cấu trúc và tính chất của đế SERS là rất quan trọng để đánh giá hiệu suất của các cấu trúc nano. Kính hiển vi điện tử quét (SEM) và phổ nhiễu xạ tia X (XRD) là những công cụ phổ biến được sử dụng để phân tích hình thái và cấu trúc của các hạt nano. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hạt nano với hình dạng và kích thước đồng đều sẽ cho tín hiệu SERS mạnh mẽ hơn. Điều này cho thấy rằng việc tối ưu hóa quá trình chế tạo không chỉ ảnh hưởng đến hình thái mà còn đến khả năng phát hiện phân tử hữu cơ trong các ứng dụng thực tiễn.

III. Sử dụng các cấu trúc nano vàng bạc dạng hoa lá làm đế SERS

Việc sử dụng các cấu trúc nano vàng và bạc dạng hoa, lá làm đế SERS đã mở ra nhiều cơ hội trong việc phát hiện các phân tử hữu cơ. Các nghiên cứu cho thấy rằng các cấu trúc này không chỉ có khả năng tạo ra tín hiệu SERS mạnh mẽ mà còn có độ nhạy cao trong việc phát hiện các phân tử ở nồng độ thấp. Các phân tử như paraquat và pyridaben đã được phát hiện thành công nhờ vào hiệu ứng tăng cường của các cấu trúc nano này. Việc tối ưu hóa các điều kiện đo và chuẩn bị mẫu cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao độ chính xác và độ nhạy của phương pháp phân tích.

3.1. Khảo sát tính đồng đều của các cấu trúc nano

Tính đồng đều của các cấu trúc nano là yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo hiệu suất của đế SERS. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự đồng đều trong hình thái và kích thước của các hạt nano sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cường độ tín hiệu SERS. Việc khảo sát này thường được thực hiện thông qua các phương pháp như SEM và phân tích phổ Raman. Kết quả cho thấy rằng các cấu trúc nano có tính đồng đều cao sẽ cho kết quả phát hiện chính xác hơn, từ đó nâng cao khả năng ứng dụng trong thực tiễn.

3.2. Nghiên cứu ứng dụng trong phát hiện phân tử hữu cơ

Nghiên cứu ứng dụng của các cấu trúc nano vàng và bạc trong phát hiện phân tử hữu cơ cho thấy tiềm năng lớn trong lĩnh vực phân tích môi trường và y học. Các phân tử như melamine và rhodamine B đã được phát hiện với độ nhạy cao nhờ vào hiệu ứng SERS. Việc phát triển các phương pháp phân tích mới dựa trên các cấu trúc nano này không chỉ giúp nâng cao khả năng phát hiện mà còn mở rộng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ phân tích thực phẩm đến giám sát môi trường.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS) 1. Tán xạ Raman Tán xạ Raman là tán xạ không đàn hồi của một photon với vật chất, được Raman và Krishnan phát hiện vào năm 1928 [1]. Sự khác nhau về năng lượng của photon tới và photon tán xạ tương ứng với năng lượng dao động trong mạng tinh thể hoặc dao động của phân tử vật chất. Khi chiếu photon có tần số 0 (hay năng lượng h0) tới một phân tử (hoặc một tinh thể), photon bị tán xạ theo tất cả các hướng.

Tán xạ có thể là đàn hồi hoặc không đàn hồi. Trong trường hợp tán xạ đàn hồi, các photon bị tán xạ có cùng tần số 0 với photon tới (trường hợp này được gọi là tán xạ Rayleigh), xác suất xảy ra quá trình này là lớn. Trong trường hợp có trao đổi năng lượng, các photon bị tán xạ có tần số (hay năng lượng) lớn hơn hoặc nhỏ hơn năng lượng của photon tới  = 0  i, trong đó i là tần số của dao động của phân tử (hay tinh thể). Trường hợp này được gọi là tán xạ Raman, có xác suất xảy ra thấp.

Tán xạ Raman gồm hai loại là tán xạ Stockes và đối Stockes (anti-Stockes). Nếu photon tán xạ có tần số thấp hơn tần số photon tới ( = 0 - i), ta có vạch Stokes trong phổ Raman. Trường hợp photon tán xạ có tần số lớn hơn tần số photon tới ( = 0 + i) ta có các vạch đối Stokes (anti-Stockes) trong phổ Raman.1 mô tả sơ đồ biểu diễn tán xạ Raman và tán xạ Rayleigh. Nguyên tử trong phân tử hoặc tinh thể có thể nằm ở trạng thái cơ bản hoặc các trạng thái kích thích.

Khi nhận được năng lượng từ photon ánh sáng, nguyên tử có thể từ mức năng lượng cơ bản nhảy lên một mức năng lượng ảo rồi trở về trạng thái kích thích và tạo ra vạch Stockes. Trạng thái ảo không phải là một trạng thái ổn định của hệ. Nó không phải là nghiệm của phương trình Schrodinger không phụ thuộc vào thời gian và do đó không tương ứng với một giá trị năng lượng xác định. Trong một quá trình hấp thụ thực năng lượng luôn luôn được bảo toàn và trạng thái tạo ra của hệ là một trạng thái rời rạc.

Hấp thụ mà không bảo toàn năng lượng được gọi là hấp thụ ảo và trạng thái được tạo ra lúc này là một trạng thái ảo [2].1) 6 Khi các nguyên tử từ trạng thái cơ bản nhảy lên mức ảo rồi lại trở về trạng thái dao động thì tạo ra vạch Stokes Raman (phương trình (1. Khi các nguyên tử từ trạng thái kích thích nhảy lên mức ảo rồi trở về trạng thái cơ bản thì tạo ra vạch đối Stokes Raman (phương trình (1. Giản đồ năng lượng cho tán xạ Raman, tán xạ Rayleigh. Cường độ của vạch Stockes lớn hơn nhiều so với vạch đối Stockes.

Nguyên nhân là do trong điều kiện bình thường, các nguyên tử ở trạng thái cơ bản nhiều hơn rất nhiều so với các nguyên tử ở trạng thái kích thích (định luật phân bố Maxwell- Boltzmann), vì vậy số nguyên tử tham gia vào quá trình Stockes lớn hơn rất nhiều so với các nguyên tử tham gia vào quá trình đối Stockes. Sự chênh lệch về số sóng ánh sáng tới và ánh sáng tán xạ được gọi là dịch chuyển Raman (Raman shift) và được xác định thông qua phương trình: ∆ = − (1.3) ớ á ạ trong đó Δν là dịch chuyển Raman về số sóng, tới là bước sóng của ánh sáng tới còn tán xạ là bước sóng của ánh sáng tán xạ. Không phải trên tất cả các dao động đều quan sát được phổ Raman. Để quan sát được ở trên phổ Raman, các dao động cần phải tuân theo quy tắc chọn lọc đó là chỉ có các dao động nào làm thay đổi độ phân cực của phân tử, nguyên tử thì mới là dao động tích cực Raman và có thể quan sát được trên phổ Raman [2].

Dao động của các phân tử trong đó mỗi nguyên tử của phân tử dao động cùng tần số và lệch ra khỏi vị trí cân bằng của nó cùng một lúc với tất cả các nguyên tử khác trong phân tử, được gọi là các mode dao động cơ bản. Số mode dao động cơ bản của một phân 7 tử phụ thuộc vào số lượng của các nguyên tử trong phân tử. Các mode dao động cơ bản của phân tử H2O được minh họa tương ứng trong Hình 1.2, sự thay đổi về hình dạng, kích thước và độ phân cực của chúng được mô tả trong Hình 1. Các mode dao động cơ bản của phân tử H2O.

Ba mode dao động của H2O với sự thay đổi a) kích thước, (b) hình dạng và (c) định hướng của các ellipsoid phân cực của các phân tử nước. Đối với một mode dao động được coi là tích cực Raman, sự dao động phải gây ra một số thay đổi trong sự phân cực của phân tử. Ellipsoid phân cực của các phân tử có thể thay đổi về độ lớn hoặc hình dạng hoặc hướng trong quá trình dao động.3 minh họa các ellipsoid phân cực của phân tử nước trong các mode dao động cơ bản. Đối với mỗi dao động, ellipsoid phân cực được chỉ ra tại vị trí cân bằng của phân tử và ở các bước thay đổi của dao động.

Có thể thấy rằng cả ba mode 8 dao động của phân tử nước đều gây ra một sự thay đổi của ellipsoid phân cực bao gồm thay đổi về kích thước (Hình 1.3 (a)), hình dạng (Hình 1.3 (b)) và hướng (Hình 1. Như vậy, cả ba mode dao động cơ bản của phân tử nước là đều là các dao động tích cực Raman. Phổ Raman cung cấp các thông tin về các quá trình chuyển đổi dao động của phân tử và do đó nó được coi là dấu vân tay quang học của hóa chất và phân tử sinh học. Vì vậy, từ lâu tán xạ Raman đã được coi là một công cụ có giá trị cho việc xác định các mẫu hóa học và sinh học, cũng như đối với sự giải thích của cấu trúc phân tử, các quá trình bề mặt và các phản ứng giao diện [3].

Việc nghiên cứu dao động bằng phổ tán xạ Raman cũng có những nhược điểm nhất định. Xác suất xảy ra tán xạ Raman rất thấp (cỡ 10-8, nghĩa là trung bình cứ 108 photon tới thì mới có một photon bị tán xạ Raman), do đó cường độ của hiệu ứng Raman thường rất thấp, chỉ vào khoảng 10-8 cường độ ánh sáng tới. Vì vậy rất khó để thu được tín hiệu Raman của các phân tử với nồng độ thấp. Ứng dụng của tán xạ Raman trong việc phân tích phát hiện các phân tử do vậy cũng bị hạn chế rất nhiều.

Nhược điểm này có thể được giải quyết bằng tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS). Tán xạ Raman tăng cường bề mặt Tán xạ Raman tăng cường bề mặt là hiện tượng cường độ tán xạ Raman tăng lên rất nhiều lần khi phân tử chất phân tích được hấp phụ trên bề mặt của một cấu trúc nano kim loại ghồ ghề. Hiện tượng này lần đầu tiên được phát hiện bởi nhóm nghiên cứu của M. Fleischmann vào năm 1974, khi họ quan sát thấy tín hiệu Raman của pyridine được tăng cường lên gấp nhiều lần khi pyridine được cho hấp phụ lên trên bề mặt của một điện cực bạc nhám [4].

Các tác giả cho rằng nguyên nhân của sự gia tăng này là do sự tăng lên của diện tích bề mặt. Vào năm 1977, hai nhóm nghiên cứu của D. Albrecht, lần đầu tiên chứng minh rằng việc tăng cường rất lớn (ước tính là 106 lần) của cường độ tán xạ Raman của pyridine không chỉ do sự tăng lên của diện tích bề mặt mà còn được gây ra bởi sự tăng cường trong hiệu suất tán xạ Raman [5,6]. Tính chất quang đặc biệt của đế kim loại được đề xuất là nguyên nhân chính làm tăng cường điện trường cục bộ nơi mà các phân tử được hấp phụ.

Sau nhiều thập kỉ tranh cãi, mặc dù chưa có sự nhất trí hoàn toàn, nhưng đến nay về cơ bản các nhóm nghiên cứu đều thống nhất rằng có 9 hai cơ chế chủ yếu góp phần vào sự tăng cường tín hiệu Raman trong hiệu ứng SERS như sau: - Một là, tăng cường điện từ (EM), dựa trên khuếch đại điện trường cảm ứng, khi các phân tử chất phân tích được hấp phụ trên bề mặt các cấu trúc nano kim loại được hỗ trợ bởi cộng hưởng plasmons bề mặt cục bộ. Cơ chế này đóng góp chính trong sự tăng cường tín hiệu Raman của SERS. - Hai là, tăng cường hóa học (CE), chỉ đóng góp 1 đến 2 bậc trong sự tăng cường tín hiệu SERS, cơ chế tăng cường này liên quan đến chuyển tiếp có điều kiện trong hệ thống phân tử chất hấp phụ - kim loại. Cơ chế tăng cường điện từ Cơ chế tăng cường điện từ giải thích rằng cường độ tín hiệu SERS được tăng cường lên nhiều bậc là kết quả của sự cộng hưởng plasmon bề mặt định [7-9].

Trong các cấu trúc kim loại, các tính chất quang học chủ yếu là do các điện tử dẫn của kim loại gây ra. Dưới sự kích thích của ánh sáng tới, các điện tử tự do trên bề mặt kim loại bị kích thích và dao động tập thể đối với các lõi ion kim loại. Tập hợp của các dao động tập thể này được gọi là plasmon bề mặt. Tần số dao động của các điện tử tự do trên bề mặt kim loại ( ) được gọi là tần số plasmon và được xác định bởi công thức sau [10]: = (1.4) Trong đó, là hằng số điện môi trong chân không, là số electron trên một đơn vị thể tích, là khối lượng hiệu dụng của điện tử, là điện tích của electron.4 minh họa cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (LSPR) trong trường hợp chiếu ánh sáng tới một hạt nano kim loại.

Có thể thấy được rằng điện trường của ánh sáng tới E là một điện trường xoay chiều. Ở nửa chu kỳ đầu điện trường tới có hướng hướng lên trên và dưới tác dụng của điện trường ánh sáng tới các điện tử dẫn tự do trên bề mặt hạt nano kim loại sẽ dịch chuyển xuống phía dưới của hạt nano kim loại như vậy phần bên trên của hạt nano kim loại sẽ tích điện dương và hạt nano kim loại trở thành một lưỡng cực điện (dipole). Ở nửa chu kỳ sau, điện trường của ánh sáng tới đổi chiều, lưỡng cực điện cũng đổi chiều và hạt nano kim 10 loại trở thành một lưỡng cực điện dao động. Lưỡng cực điện dao động sẽ phát ra một sóng điện từ do đó lúc này hạt nano kim loại trở thành một nguồn sáng mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết luận án tiến sĩ với tiêu đề "Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman" của tác giả Kiều Ngọc Minh, dưới sự hướng dẫn của GS. Đào Trần Cao và TS. Cao Tuấn Anh, trình bày về việc chế tạo các cấu trúc nano vàng và bạc dạng hoa, lá trên nền silic. Nghiên cứu này nhằm ứng dụng trong việc nhận biết một số phân tử hữu cơ thông qua phương pháp tán xạ Raman tăng cường bề mặt. Nghiên cứu không chỉ mở ra hướng đi mới trong lĩnh vực vật liệu điện tử mà còn cung cấp những kiến thức quý giá về công nghệ nano và ứng dụng của nó trong nhận diện hóa học.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về lĩnh vực này, hãy tham khảo các bài viết liên quan như Luận án tiến sĩ về mô hình hóa quá trình tổng hợp lignosulfonat từ dịch đen bột giấy sulfat, nơi bạn có thể tìm hiểu về mô hình hóa trong công nghệ hóa học, hay Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam, bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hoạt tính sinh học trong nghiên cứu vật liệu. Những tài liệu này không chỉ bổ sung thông tin mà còn mở rộng hiểu biết của bạn về các ứng dụng khác nhau trong lĩnh vực nghiên cứu vật liệu và hóa học.