Tổng quan luận án
Sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động sản xuất công nghiệp và nông nghiệp làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí, đồng thời để lại dư lượng hóa chất độc hại trong nông sản và thực phẩm. Việc kiểm soát và định lượng các hóa chất này ở nồng độ vết (phần triệu - ppm, phần tỷ - ppb) đóng vai trò thiết yếu nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Các kỹ thuật phân tích tiêu chuẩn hiện nay, điển hình là sắc ký, tuy có độ chính xác cao nhưng đòi hỏi thiết bị đắt tiền, quy trình xử lý mẫu phức tạp và thời gian phân tích kéo dài. Kỹ thuật tán xạ Raman tăng cường bề mặt (Surface-Enhanced Raman Scattering - SERS) xuất hiện như một phương pháp phân tích nhanh, độ nhạy cao và chi phí thấp. Hiệu ứng SERS phụ thuộc trực tiếp vào đế SERS – linh kiện cảm biến kim loại có cấu trúc bề mặt gồ ghề cấp độ nano nhằm khuếch đại tín hiệu quang học.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định: Phần lớn các nghiên cứu về đế SERS tại Việt Nam trước đây tập trung vào các hạt nano kim loại dạng cầu hoặc gần cầu trên nền huyền phù, đế xốp hoặc màng oxit nhôm anot hóa (AAO). Các cấu trúc hạt cầu đơn lẻ có mật độ "điểm nóng" (hot spots) điện từ thấp, khó kiểm soát khoảng cách khe hẹp nano (~2 nm) và hạn chế về độ nhạy khi phát hiện các phân tử hữu cơ độc hại có độ hấp phụ yếu. Các cấu trúc nano dị hướng đa bậc như cành lá nano bạc (AgNDs), hoa nano bạc (AgNFs) và hoa nano vàng (AuNFs) sở hữu nhiều đầu nhọn và vùng cong lớn, tạo ra mật độ điểm nóng dày đặc. Tuy nhiên, các công trình chế tạo trực tiếp các cấu trúc nano dạng hoa, lá này trên nền đế silic (Si) bằng các phương pháp dung dịch đơn giản vẫn còn rất hạn chế.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Xây dựng quy trình công nghệ chế tạo các cấu trúc nano bạc dạng cành lá (AgNDs), hoa nano bạc (AgNFs) và hoa nano vàng (AuNFs) trên đế silic phẳng bằng phương pháp lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa.
- Khảo sát hình thái học bề mặt, cấu trúc tinh thể và tính chất quang học plasmon của các cấu trúc nano kim loại chế tạo được.
- Làm rõ cơ chế hình thành của các cấu trúc AgNDs, AgNFs và AuNFs trên nền silic.
- Đánh giá các tiêu chuẩn chất lượng của đế SERS chế tạo được bao gồm hệ số tăng cường tín hiệu (EF), độ đồng đều trên bề mặt và độ ổn định/lặp lại giữa các lô mẫu.
- Ứng dụng các đế nano dạng hoa, lá trên silic làm cảm biến SERS để phát hiện nồng độ vết của các thuốc bảo vệ thực vật (paraquat, pyridaben, thiram) và các hóa chất độc hại trong thực phẩm, môi trường (crystal violet, melamine, rhodamine B, xyanua).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cấu trúc nano bạc dạng cành lá (AgNDs), hoa nano bạc (AgNFs), hoa nano vàng (AuNFs) trên đế Si phẳng; các phân tử hữu cơ mục tiêu gồm Rhodamine B, Paraquat, Pyridaben (chuẩn và thương phẩm Koben 15EC), Thiram, Crystal Violet, Melamine, Potassium Cyanide (KCN).
- Phạm vi nghiên cứu: Các thực nghiệm chế tạo và phân tích được tiến hành tại Viện Khoa học Vật liệu (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), Trung tâm Khoa học Vật liệu (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN) và Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, hoàn thành năm 2020.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Hiện tượng tán xạ Raman được C. V. Raman và K. S. Krishnan phát hiện năm 1928, mô tả quá trình tán xạ không đàn hồi của photon với vật chất. Do tiết diện tán xạ Raman rất nhỏ (khoảng $10^{-8}$ so với tán xạ Rayleigh), cường độ tín hiệu quang học thu được rất yếu. Năm 1974, M. Fleischmann và cộng sự lần đầu tiên quan sát thấy sự tăng cường đột biến tín hiệu Raman của phân tử pyridine khi hấp phụ trên điện cực bạc nhám, nhưng giải thích do sự gia tăng diện tích bề mặt. Đến năm 1977, D. L. Jeanmaire - R. P. Van Duyne và M. G. Albrecht - J. A. Creighton chứng minh độc lập rằng sự tăng cường tín hiệu lên tới $10^6$ lần xuất phát từ sự khuếch đại điện trường cục bộ trên bề mặt kim loại.
Các nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm sau đó đã thống nhất hai cơ chế chính:
- Cơ chế tăng cường điện từ (EM): Liên quan đến hiện tượng cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (LSPR) khi ánh sáng tới kích thích dao động tập thể của các electron tự do trên bề mặt hạt nano kim loại, tạo ra sự khuếch đại điện trường xấp xỉ bậc 4 ($E^4$).
- Cơ chế tăng cường hóa học (CE): Liên quan đến sự truyền điện tích (charge transfer) giữa mức năng lượng Fermi của kim loại và các mức HOMO/LUMO của phân tử chất hấp phụ khi tiếp xúc trực tiếp, đóng góp từ 1 đến 2 bậc độ lớn ($10^1 - 10^2$).
Luận án tổng hợp các hướng nghiên cứu quốc tế về hình thái cấu trúc đế SERS:
- Cấu trúc hạt: Sajanlal và cộng sự chế tạo hạt nano vàng tam giác đạt hệ số tăng cường $EF \approx 10^8$; Feng chế tạo nano bạc hình cánh cung đạt $EF \approx 10^9$; S. Ciou và cộng sự chỉ ra nano bạc lăng kính đạt $EF \approx 10^5$, vượt trội so với hạt cầu ($EF \approx 10^3$); Rycenga và cộng sự sử dụng khối nano lập phương đạt $EF \approx 10^8$; D. Li và cộng sự kết hợp khối lập phương và hạt cầu đạt $EF \approx 10^{10}$; Banchelli và cộng sự khảo sát hệ lai Ag/graphene nanocomposite.
- Cấu trúc thanh và dây nano: Chikkaraddy và đồng nghiệp chế tạo hệ dây nano vàng với $EF \approx 10^6$, cao hơn 14% so với đế thương mại Klarite.
- Cấu trúc cành lá nano (Dendrites): X. Chen và cộng sự chế tạo lá Ag-Cu trên đế đồng phát hiện Rhodamine 6G (R6G) ở $10^{-6}\text{ M}$; A. Gutes và cộng sự lắng đọng lá bạc trên đế nhôm phủ vàng phát hiện 1,2-benzenedithiol ở $10^{-4}\text{ M}$; Feng và cộng sự đạt $EF \approx 10^6 - 10^7$; Hu và cộng sự phủ graphene oxit lên lá bạc đạt $EF = 1,2 \times 10^7$; Y. Zhang và cộng sự lắng đọng điện hóa lá bạc trên đế ITO đạt $EF = 8,6 \times 10^7$ với 4-MBA; A. Verma và cộng sự tổng hợp AgNDs với axit ascorbic và PVP đạt $EF \approx 10^9 - 10^{10}$.
- Cấu trúc hoa nano (Flowers): Liang và cộng sự (2009) chế tạo hoa bạc dạng cuộn len trong dung dịch huyền phù phát hiện malachite green ở $10^{-10}\text{ M}$; J. Yang và cộng sự phát hiện R6G ở $50 \times 10^{-5}\text{ M}$; Wang chế tạo hoa nano vàng điện hóa phát hiện R6G ở $10^{-10}\text{ M}$; Ye và cộng sự chế tạo hoa vàng rỗng đạt $EF \approx 10^5$; Zhang và cộng sự phủ AuNPs và AgNPs lên GaN dạng hoa đạt $EF$ lần lượt là $2,1 \times 10^7$ và $5,9 \times 10^7$; A. Indrasekara và cộng sự chế tạo hạt nano vàng hình sao đạt $EF \approx 10^9$; Ji và cộng sự chế tạo hoa nano bạc dùng axit ascorbic đạt $EF = 1,7 \times 10^8$.
Tại Việt Nam, các nhóm nghiên cứu tiêu biểu gồm:
- Nhóm GS. Nguyễn Văn Hiệu: Nghiên cứu tổng quan và định hướng ứng dụng SERS trong an toàn thực phẩm.
- Nhóm GS. Nguyễn Quang Liêm và PGS. Ứng Thị Diệu Thúy (Viện Khoa học Vật liệu): Chế tạo hạt nano Ag phẳng phát hiện RhB, glucose, virus H5N1; hạt Ag trên silic xốp phát hiện malachite green ($10^{-7}\text{ M}$); phún xạ Ag lên màng AAO phát hiện methamidophos ($1\text{ ppb}$); đĩa nano Au trên AAO phát hiện methyl parathion ($0,1\text{ ppm}$).
- Nhóm PGS. Trần Hồng Nhung (Đại học Duy Tân): Phát hiện melamine bằng hạt nano bạc.
- Nhóm PGS. Nguyễn Thế Bình (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - ĐHQGHN): Bóc mòn laser (laser ablation) chế tạo huyền phù Au, Ag phát hiện R6G, kháng sinh tetracycline.
- Nhóm PGS. Lê Văn Vũ: Chế tạo cấu trúc lá bạc phát hiện permethrin ($1\text{ ppm}$).
- Nhóm GS. Đào Trần Cao và TS. Lương Trúc Quỳnh Ngân: Chế tạo dây nano silic (SiNWs) phủ hạt nano bạc phát hiện malachite green ($10^{-15}\text{ M}$) và paraquat ($5\text{ ppm}$). Hạn chế của hệ này là mật độ hạt Ag tập trung nhiều ở ngọn dây, ít ở chân dây, độ đồng đều chưa cao và khó phân tích các chất độc hại nồng độ vết.
Vị trí của luận án: Kế thừa hướng nghiên cứu chế tạo đế SERS trên nền silic, luận án lựa chọn phát triển các cấu trúc nano dị hướng đa bậc dạng cành lá (AgNDs) và hoa (AgNFs, AuNFs) trực tiếp trên đế Si phẳng nhằm tăng mật độ điểm nóng, kiểm soát độ đồng đều, nâng cao hệ số tăng cường và mở rộng phạm vi ứng dụng phân tích dư lượng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và độc chất thực phẩm.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Hiện tượng tán xạ Raman: Tán xạ đàn hồi Rayleigh xảy ra khi photon tán xạ có tần số bằng photon tới ($\nu_0$). Tán xạ không đàn hồi Raman gồm vạch Stokes ($\nu = \nu_0 - \nu_i$) và vạch anti-Stokes ($\nu = \nu_0 + \nu_i$). Độ dịch chuyển Raman tính theo số sóng: $\Delta \nu = \frac{1}{\lambda_{\text{tới}}} - \frac{1}{\lambda_{\text{tán xạ}}}$. Điều kiện kích hoạt Raman là dao động phải làm biến thiên độ phân cực của phân tử ($\partial \alpha / \partial q \neq 0$).
- Cộng hưởng plasmon bề mặt định xứ (LSPR): Tần số dao động plasmon của electron tự do trên bề mặt kim loại:
$$\omega_p = \sqrt{\frac{n e^2}{\varepsilon_0 m^*}}$$
Trường điện từ tán xạ tổng cộng được khuếch đại xấp xỉ bậc 4 theo hệ thức:
$$G_{EM} \approx \left| \frac{E(\omega)}{E_0} \right|^2 \left| \frac{E(\omega')}{E_0} \right|^2 \approx \left| E(\omega) \right|^4$$
- Cơ chế hóa học (CE): Sự hình thành phức chất giữa kim loại và chất hấp phụ cho phép dịch chuyển electron giữa mức HOMO, LUMO của phân tử thông qua mức năng lượng Fermi của kim loại.
- Các phương pháp xác định hệ số tăng cường SERS (EF):
- Hệ số tăng cường đơn phân tử (SMEF): $SMEF = \frac{I_{SERS}^{SM}}{I_{RS}^{SM}}$
- Hệ số tăng cường đế SERS (SSEF): $SSEF = \frac{I_{SERS}}{I_{Normal}} \times \frac{N_{Normal}}{N_{SERS}}$
- Hệ số tăng cường phân tích (AEF): $AEF = \frac{I_{SERS}}{I_{Normal}} \times \frac{C_{Normal}}{C_{SERS}}$
- Ước tính theo tiết diện tán xạ hiệu dụng mặt cắt ngang.
- Cơ chế phát triển cấu trúc nano: Mô hình tập hợp giới hạn khuếch tán (Diffusion-Limited Aggregation - DLA) và cơ chế gắn kết có định hướng (Oriented Attachment) được dùng để giải thích sự hình thành nhánh cành lá và cánh hoa nano.
Phương pháp chế tạo
- Phương pháp lắng đọng hóa học (Chemical deposition / Electroless deposition):
- Sử dụng phản ứng khử hóa học giữa ion kim loại ($\text{Ag}^+$) và đế silic trong dung dịch chứa axit flohydric (HF), trong đó Si đóng vai trò vừa là đế mang vừa là chất khử gián tiếp phóng thích electron khi bị hòa tan bởi HF.
- Bổ sung axit L-ascorbic (AsA) đóng vai trò chất khử tăng cường tốc độ tạo mầm và polyvinylpyrrolidone (PVP) đóng vai trò chất hoạt động bề mặt kiểm soát hình thái tinh thể.
- Phương pháp lắng đọng điện hóa (Electrochemical deposition):
- Sử dụng nguồn điện một chiều (DC) với cấu hình bình điện phân hai điện cực, đế Si phẳng làm catot và tấm kim loại làm anot.
- Áp dụng hai chế độ: Chế độ ổn thế (Potentiostatic) và chế độ ổn dòng (Galvanostatic).
- Chế tạo hoa nano vàng (AuNFs) theo quy trình hai bước: Lắng đọng mầm nano bạc (AgNPs) trên Si trước, sau đó lắng đọng điện hóa màng Au trong dung dịch $\text{HAuCl}_4/\text{HF}$ dựa trên phản ứng thay thế galvanic và khử điện hóa.
Phương pháp khảo sát và phân tích
- Kính hiển vi điện tử quét (SEM): Đánh giá hình thái học bề mặt, kích thước hạt, mật độ nhánh cành lá và cánh hoa.
- Nhiễu xạ tia X (XRD): Xác định thành phần pha và cấu trúc tinh thể mạng lập phương tâm mặt (fcc) của bạc và vàng.
- Quang phổ hấp thụ UV-Vis: Khảo sát dải hấp thụ cộng hưởng plasmon bề mặt trong vùng tử ngoại, khả kiến và hồng ngoại gần.
- Hệ vi phổ Raman (micro-Raman): Ghi nhận phổ tán xạ Raman và phổ SERS của các phân tử hữu cơ ở các nồng độ khác nhau, sử dụng laser kích thích thích hợp.
| Danh mục hóa chất chính |
Mục đích sử dụng |
| Đế tinh thể Silic (Si) phẳng |
Đế nền mang cấu trúc nano và tác nhân khử |
| Axit Flohydric ($\text{HF}$) |
Loại bỏ oxit bề mặt, hòa tan Si tạo electron |
| Bạc Nitrat ($\text{AgNO}_3$) |
Nguồn cung cấp ion $\text{Ag}^+$ |
| Axit Cloauric ($\text{HAuCl}_4$) |
Nguồn cung cấp ion $\text{Au}^{3+}$ |
| Axit L-ascorbic (AsA) |
Tác nhân khử hóa học trong tổng hợp hoa bạc |
| Polyvinylpyrrolidone (PVP) |
Chất hoạt động bề mặt định hướng phát triển cánh hoa |
| Phân tử thử nghiệm (RhB, CV, Melamine, PQ, Pyridaben, Thiram, KCN) |
Đánh giá độ nhạy, tính đồng đều và hệ số tăng cường SERS |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về tán xạ Raman tăng cường bề mặt (SERS)
Chương này tổng kết lý thuyết tán xạ Raman thông thường, tán xạ Rayleigh, các mode dao động phân tử (ví dụ phân tử $\text{H}_2\text{O}$ với sự thay đổi kích thước, hình dạng và định hướng của ellipsoid phân cực). Tác giả phân tích chi tiết cơ chế tăng cường điện từ (EM) dựa trên LSPR và cơ chế tăng cường hóa học (CE) qua ba mô hình: truyền điện tích, cộng hưởng phân tử và tương tác không cộng hưởng. Bốn công thức tính hệ số tăng cường SERS (SMEF, SSEF, AEF, mặt cắt ngang) được thiết lập.
Ảnh hưởng của hình thái học hạt nano kim loại được hệ thống hóa qua các dạng hình học: hạt cầu, tam giác, lăng kính, khối lập phương, thanh nano, dây nano, cành lá nano và hoa nano. Luận án phân tích vai trò của kích thước hạt (tối ưu trong khoảng 50–90 nm hoặc dưới 200 nm đối với cấu trúc 3D). Chương 1 điểm lại các ứng dụng của SERS trong quan trắc môi trường (thuốc trừ sâu carbaryl $50\text{ ppb}$, chlorpyrifos, thiram $4,62\text{ ng/cm}^2$), y sinh học (nhận biết 5 dòng DNA E. coli, RNA huyết thanh ung thư trực tràng $18,8 - 56,3\text{ ng/}\mu\text{L}$, microRNA giới hạn phát hiện $6,3\text{ fM}$, 8 loại peptide) và pháp y (phân tích thuốc nhuộm tóc). Cuối cùng, chương 1 tổng quan các kết quả nghiên cứu SERS tại Việt Nam và xác lập hướng đi chế tạo cấu trúc cành lá và hoa nano Ag, Au trên Si.
Chương 2: Các phương pháp chế tạo và khảo sát đế SERS
Chương 2 phân loại các đế SERS thành hai nhóm: hệ huyền phù hạt nano kim loại và cấu trúc nano trên đế rắn. Các yêu cầu đối với một đế SERS lý tưởng được xác định gồm:
- Khả năng tăng cường tín hiệu cao ($EF > 10^5$).
- Độ đồng đều bề mặt cao (sai khác giữa các điểm $< 20%$).
- Độ ổn định và độ lặp lại giữa các lô mẫu tốt (sai biệt $< 20%$).
- Chi phí sản xuất thấp.
- Độ sạch bề mặt cao, không chứa hóa chất tồn dư gây nhiễu tín hiệu.
Luận án phân tích hai hướng tiếp cận công nghệ:
- Hướng tiếp cận từ trên xuống (Top-down): Phương pháp bóc mòn bằng chùm laser (Laser ablation) tạo huyền phù nano Ag, Au, Ag-Cu sạch nhưng không đồng đều kích thước; phương pháp khắc chùm điện tử (EBL) và khắc chùm ion hội tụ (FIB) tạo cấu trúc màng nano có độ chính xác cao nhưng chi phí rất đắt và năng suất thấp.
- Hướng tiếp cận từ dưới lên (Bottom-up): Tổng hợp hóa học dạng huyền phù bằng chất khử ($\text{Zn}$, $\text{Al}$, nhiệt, citrate, PVP); tổng hợp trên đế rắn bằng phương pháp lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa.
- Giới thiệu nguyên lý các phép đo khảo sát: Kính hiển vi điện tử quét (SEM), nhiễu xạ tia X (XRD), quang phổ hấp thụ UV-Vis và hệ đo vi phổ Raman.
Chương 3: Chế tạo và khảo sát các tính chất của các cấu trúc nano bạc và nano vàng trên Si
Chương 3 trình bày các thông số thực nghiệm, kết quả hình thái, cấu trúc và cơ chế hình thành các hệ nano kim loại trên Si phẳng:
- Chế tạo hạt nano bạc (AgNPs): Lắng đọng hóa học trong dung dịch $0,14\text{ M HF}$ với nồng độ $\text{AgNO}_3$ thay đổi ($0,1$; $0,3$; $0,5\text{ mM}$) trong thời gian 3–5 phút. Nồng độ $\text{AgNO}_3$ và thời gian tăng làm tăng kích thước và mật độ hạt AgNPs.
- Chế tạo cành lá nano bạc (AgNDs):
- Phương pháp lắng đọng hóa học: Thực hiện trong dung dịch $4,8\text{ M HF}$ và nồng độ $\text{AgNO}_3$ từ $0,25\text{ mM}$ đến $20\text{ mM}$ trong 15 phút. Nồng độ $20\text{ mM }\text{AgNO}_3$ cho cấu trúc cành lá phát triển hoàn chỉnh.
- Phương pháp lắng đọng điện hóa: Thực hiện trong dung dịch $4,8\text{ M HF} / 20\text{ mM }\text{AgNO}_3$ trong 15 phút. Ở chế độ ổn thế, điện thế được khảo sát từ $5\text{ V}, 10\text{ V}, 12\text{ V}$ đến $15\text{ V}$; điện thế tối ưu đạt được ở $12\text{ V}$. Ở chế độ ổn dòng, mật độ dòng được khảo sát từ $1, 2, 3$ đến $4\text{ mA/cm}^2$; mật độ dòng tối ưu đạt được ở $3\text{ mA/cm}^2$. Giản đồ XRD xác nhận cấu trúc tinh thể bạc định hướng cao.
- Cơ chế hình thành AgNDs: Tuân theo mô hình tập hợp giới hạn khuếch tán (DLA) kết hợp với quá trình gắn kết có định hướng của các mầm tinh thể Ag.
- Chế tạo hoa nano bạc (AgNFs):
- Lắng đọng hóa học trong dung dịch $4,8\text{ M HF} / 1\text{ mM }\text{AgNO}_3$ có bổ sung AsA ($5, 7, 10\text{ mM}$) và PVP ($1, 3, 5, 7, 10, 15\text{ mM}$).
- Điều kiện tối ưu: $10\text{ mM AsA}$ và $5\text{ mM PVP}$ trong thời gian 10 phút, tạo ra các bông hoa nano bạc đa cánh đồng đều. Phổ UV-Vis cho thấy dải cộng hưởng plasmon rộng kéo dài sang vùng hồng ngoại gần.
- Chế tạo hoa nano vàng (AuNFs):
- Thực hiện bằng lắng đọng điện hóa hai bước: Tạo mầm AgNPs trên Si ở mật độ dòng $0,05\text{ mA/cm}^2$ trong 3 phút ($0,1\text{ mM AgNO}_3 / 0,14\text{ mM HF}$), sau đó phát triển hoa nano Au ở mật độ dòng $0,1\text{ mA/cm}^2$ trong 10 phút ($0,1\text{ mM HAuCl}_4 / 0,14\text{ mM HF}$).
- Cơ chế hình thành: Phản ứng galvanic thay thế $\text{Ag}$ bằng $\text{Au}$ tại vị trí mầm kết hợp quá trình khử điện hóa ion $\text{Au}^{3+}$ định hướng không gian tạo cánh hoa.
Chương 4: Sử dụng các cấu trúc nano vàng, bạc dạng hoa, lá làm đế SERS để phát hiện vết của một số phân tử hữu cơ
Chương này đánh giá các tiêu chuẩn chất lượng đế và ứng dụng phân tích phân tử hữu cơ:
- Đánh giá chất lượng đế SERS:
- Tính đồng đều bề mặt: Đo tín hiệu Rhodamine B ($1\text{ ppm}$) tại 7 vị trí ngẫu nhiên trên các đế AgNDs, AuNFs và AgNFs. Độ lệch chuẩn cường độ tín hiệu tại các đỉnh đặc trưng $1278\text{ cm}^{-1}$ và $1644\text{ cm}^{-1}$ đều nhỏ hơn ngưỡng $15 - 20%$.
- Tính lặp lại giữa các lô mẫu: Đo trên 5 lô mẫu AgNFs độc lập, ghi nhận sự sai biệt cường độ thấp.
- Hệ số tăng cường SERS: Đạt từ $10^7$ đến $10^9$ đối với các loại đế chế tạo được.
| Loại đế SERS |
Cấu trúc nano |
Phương pháp chế tạo |
Chất phân tích mục tiêu |
Giới hạn phát hiện |
Hệ số tăng cường ($EF$) |
| $\text{AgNDs@Si}$ |
Cành lá nano Ag |
Lắng đọng điện hóa ($12\text{ V}$ hoặc $3\text{ mA/cm}^2$) |
Paraquat (PQ) |
$0,01\text{ ppm}$ |
$\sim 10^7 - 10^8$ |
| $\text{AgNDs@Si}$ |
Cành lá nano Ag |
Lắng đọng điện hóa ($3\text{ mA/cm}^2$) |
Pyridaben (chuẩn & Koben 15EC) |
$0,1\text{ ppm}$ |
Tuyến tính tại đỉnh $635\text{ cm}^{-1}$ |
| $\text{AgNDs@Si}$ |
Cành lá nano Ag |
Lắng đọng điện hóa ($3\text{ mA/cm}^2$) |
Thiram |
$0,01\text{ ppm}$ ($4,2 \times 10^{-8}\text{ M}$) |
Tuyến tính tại đỉnh $560\text{ cm}^{-1}$ |
| $\text{AgNFs@Si}$ |
Hoa nano Ag |
Lắng đọng hóa học ($10\text{ mM AsA}, 5\text{ mM PVP}$) |
Crystal Violet (CV) |
$0,01\text{ ppm}$ |
$\sim 10^8$ |
| $\text{AgNFs@Si}$ |
Hoa nano Ag |
Lắng đọng hóa học ($15\text{ mM PVP}$) |
Melamine |
$0,01\text{ ppm}$ |
Tuyến tính tại đỉnh $682\text{ cm}^{-1}$ |
| $\text{AgNFs@Si}$ |
Hoa nano Ag |
Lắng đọng hóa học |
Xyanua ($\text{KCN}$) |
Nồng độ vết (trong nước và ethanol) |
Nhận biết rõ đỉnh đặc trưng |
| $\text{AuNFs@Si}$ |
Hoa nano Au trên mầm Ag |
Lắng đọng điện hóa ($0,1\text{ mA/cm}^2$) |
Rhodamine B (RhB) |
$0,1\text{ ppb}$ |
Tuyến tính tại đỉnh $1644\text{ cm}^{-1}$ |
- Các ứng dụng phát hiện phân tích vết:
- Thuốc trừ cỏ Paraquat: Đế AgNDs chế tạo bằng ổn thế $12\text{ V}$ phát hiện rõ tín hiệu ở dải nồng độ từ $1\text{ ppm}$ xuống $0,01\text{ ppm}$, vượt trội so với đế lắng đọng hóa học.
- Thuốc trừ sâu Pyridaben: Phát hiện pyridaben nguyên chất từ $100\text{ ppm}$ đến $0,1\text{ ppm}$ trên đế AgNDs@Si (phổ Raman thông thường trên Si phẳng chỉ ghi được ở $1000\text{ ppm}$). Ứng dụng phân tích thành công pyridaben trong chế phẩm thương mại Koben 15EC với độ hồi quy tuyến tính cao tại đỉnh $635\text{ cm}^{-1}$.
- Thuốc trừ nấm Thiram: Ghi nhận phổ SERS từ $100\text{ ppm}$ xuống $0,01\text{ ppm}$ ($4,2 \times 10^{-8}\text{ M}$), xây dựng đường chuẩn tương quan tuyến tính giữa cường độ đỉnh $560\text{ cm}^{-1}$ và nồng độ.
- Phẩm màu Crystal Violet: Đế AgNFs@Si phát hiện CV ở dải nồng độ $0,01 - 10\text{ ppm}$, lập bảng gán mode dao động chi tiết.
- Melamine trong thực phẩm: Đế AgNFs@Si phát hiện melamine từ $5\text{ ppm}$ xuống $0,01\text{ ppm}$, đường chuẩn tuyến tính xác lập tại đỉnh $682\text{ cm}^{-1}$.
- Xyanua ($\text{KCN}$): Nhận biết vết ion xyanua hòa tan trong môi trường nước và cồn ethanol.
- Rhodamine B: Đế AuNFs@Si đạt độ nhạy phát hiện RhB từ $1\text{ ppm}$ xuống mức cực vết $0,1\text{ ppb}$, xác lập quan hệ tuyến tính tại đỉnh $1644\text{ cm}^{-1}$.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án đã đạt được các kết quả và đóng góp mới về mặt khoa học và công nghệ như sau:
-
Đóng góp về mặt khoa học và lý luận:
- Làm rõ cơ chế hình thành các cấu trúc nano dị hướng đa bậc dạng cành lá nano bạc (AgNDs), hoa nano bạc (AgNFs) và hoa nano vàng (AuNFs) trên bề mặt nền silic phẳng.
- Chứng minh sự kết hợp giữa mô hình tập hợp giới hạn khuếch tán (DLA), quá trình gắn kết có định hướng và vai trò của các tác nhân hóa học (axit L-ascorbic đóng vai trò chất khử gia tốc, PVP đóng vai trò chất hoạt động bề mặt tạo màng bao bọc chọn lọc mặt mạng tinh thể) trong việc điều khiển hình thái học cấu trúc nano.
- Giải thích vai trò của các góc nhọn, cạnh sắc và khe hẹp giữa các nhánh/cánh hoa trong việc tập trung mật độ cao các điểm nóng điện từ (hot spots), tạo ra hệ số tăng cường quang học SERS vượt trội ($10^7 - 10^9$) so với các cấu trúc hạt nano cầu thông thường.
-
Đóng góp về mặt thực tiễn và công nghệ:
- Phát triển hoàn thiện quy trình công nghệ chế tạo đế SERS trên cơ sở cành lá nano bạc, hoa nano bạc và hoa nano vàng trên đế silic bằng hai phương pháp lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa. Quy trình có ưu điểm: đơn giản, thời gian chế tạo ngắn, nhiệt độ phòng, không yêu cầu thiết bị chân không hay kỹ thuật khắc đắt tiền, phù hợp điều kiện thực nghiệm tại Việt Nam.
- Chế tạo thành công các đế SERS đạt đầy đủ các tiêu chí: hệ số tăng cường cao ($> 10^7$), độ đồng đều trên bề mặt tốt (sai khác giữa các điểm đo $< 20%$) và độ ổn định lặp lại giữa các lô mẫu cao.
- Ứng dụng thành công các đế SERS tự chế tạo để phát hiện lượng vết các chất độc hại trong nông nghiệp (paraquat $0,01\text{ ppm}$, thiram $0,01\text{ ppm}$, pyridaben $0,1\text{ ppm}$ trong chế phẩm Koben 15EC) và an toàn thực phẩm, môi trường (melamine $0,01\text{ ppm}$, crystal violet $0,01\text{ ppm}$, rhodamine B $0,1\text{ ppb}$, xyanua). Các đường chuẩn định lượng tuyến tính được thiết lập có giá trị ứng dụng thực tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu:
- Nghiên cứu tập trung khảo sát trên các phân tử hữu cơ mô hình và một số thuốc bảo vệ thực vật đơn lẻ trong điều kiện phòng thí nghiệm; số lượng mẫu nông sản, thực phẩm và nền mẫu môi trường thực tế phức tạp (chứa nhiều tạp chất cạnh tranh hấp phụ) được thử nghiệm còn ở mức thăm dò (chế phẩm Koben 15EC).
- Quy trình lắng đọng hóa học và điện hóa tuy đơn giản nhưng việc mở rộng chế tạo đồng loạt trên diện tích đế lớn với độ lặp lại tuyệt đối vẫn đòi hỏi kiểm soát nghiêm ngặt các thông số dung dịch và môi trường phản ứng.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng khảo sát phát hiện đồng thời nhiều hợp chất bảo vệ thực vật và độc chất hữu cơ trong các nền mẫu nông sản, thực phẩm và mẫu sinh học thực tế (nước thải, rau quả, huyết thanh).
- Nghiên cứu chức hóa bề mặt đế SERS hoa/lá nano bằng các phân tử bẫy đặc hiệu (aptamer, kháng thể) nhằm tăng cường tính chọn lọc phân tử đối với các chất phân tích có ái lực hấp phụ yếu với kim loại.
- Tích hợp đế SERS dạng hoa, lá trên silic với các thiết bị đo quang phổ Raman cầm tay nhỏ gọn nhằm phục vụ công tác kiểm tra, phân tích hiện trường nhanh.
Giá trị tham khảo
Bản luận án có giá trị tham khảo chuyên môn cao đối với:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học ngành Khoa học Vật liệu, Vật liệu Điện tử, Vật lý Quang học, Công nghệ Nano và Hóa học Phân tích: Cung cấp tài liệu tham khảo chi tiết về cơ chế LSPR, cơ chế truyền điện tích, các mô hình tính toán hệ số tăng cường SERS và quy trình chế tạo cấu trúc nano kim loại dị hướng (dendrites, flowers).
- Các kỹ sư công nghệ và nhà nghiên cứu cảm biến: Cung cấp thông số công nghệ thực nghiệm (nồng độ dung dịch $\text{HF}$, $\text{AgNO}_3$, $\text{HAuCl}_4$, phụ gia AsA, PVP, điện thế $12\text{ V}$, mật độ dòng $3\text{ mA/cm}^2$) để chế tạo đế SERS trên nền Si phẳng đạt độ đồng đều và độ nhạy cao.
- Các cơ quan kiểm nghiệm an toàn thực phẩm, bảo vệ môi trường, kiểm dịch thực vật: Tham khảo dữ liệu phổ SERS chuẩn, bảng gán đỉnh dao động đặc trưng và đường chuẩn hồi quy tuyến tính của các hoạt chất độc hại như paraquat, pyridaben, thiram, melamine, xyanua.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao silic (Si) phẳng được lựa chọn làm nền để lắng đọng các cấu trúc nano vàng và bạc trong luận án?
Silic phẳng được lựa chọn làm đế nền nhờ 4 ưu điểm chính:
- Si là vật liệu trung tính đối với các chất phân tích, không làm ảnh hưởng hay gây nhiễu phổ SERS của phân tử hữu cơ.
- Si không phát huỳnh quang, tránh hiện tượng nền huỳnh quang che lấp tín hiệu tán xạ Raman.
- Si đóng vai trò là tác nhân khử trực tiếp trong quá trình lắng đọng hóa học khi phản ứng với HF phóng thích electron khử ion kim loại ($\text{Ag}^+$, $\text{Au}^{3+}$).
- Đế Si đơn tinh thể có sẵn trên thị trường, độ phẳng cao và giá thành tương đối thấp.
2. Sự khác biệt về hiệu quả tăng cường tín hiệu SERS giữa cấu trúc nano dạng hoa, cành lá so với cấu trúc hạt nano hình cầu là gì?
Cấu trúc hạt nano hình cầu đơn lẻ tạo ra điện trường cục bộ yếu, hệ số tăng cường thấp ($\sim 10^3$) và chỉ tạo được điểm nóng khi hai hạt cách nhau khoảng $2\text{ nm}$ (điều kiện này rất khó chế tạo và đưa phân tử vào khe). Ngược lại, cấu trúc cành lá (AgNDs) và hoa nano (AgNFs, AuNFs) sở hữu hình thái bất đẳng hướng đa bậc với mật độ dày đặc các đầu nhọn, cạnh sắc và khe hẹp giữa các cánh hoa/nhánh lá. Các vùng này hoạt động như các "cột thu lôi" khuếch đại mạnh điện trường plasmon đa cực, tạo ra mật độ điểm nóng cực lớn và nâng hệ số tăng cường SERS lên $10^7 - 10^9$.
3. Hóa chất nào đóng vai trò quyết định trong việc tạo hình hoa nano bạc (AgNFs) ở phương pháp lắng đọng hóa học?
Quá trình tạo hoa nano bạc (AgNFs) đòi hỏi sự phối hợp của hai hóa chất phụ gia trong dung dịch $\text{HF}/\text{AgNO}_3$:
- Axit L-ascorbic (AsA): Đóng vai trò chất khử hóa học mạnh, gia tốc tốc độ khử ion $\text{Ag}^+$ và thúc đẩy quá trình tạo mầm ban đầu với mật độ cao.
- Polyvinylpyrrolidone (PVP): Đóng vai trò chất hoạt động bề mặt, hấp phụ chọn lọc lên các mặt tinh thể nhất định của bạc, ngăn cản sự phát triển đẳng hướng và hướng tinh thể phát triển thành các cấu trúc cánh hoa đa bậc. Tỷ lệ tối ưu được xác định là $10\text{ mM AsA}$ và $5\text{ mM PVP}$.
4. Giới hạn phát hiện nồng độ vết đối với các loại thuốc bảo vệ thực vật đạt được trên đế AgNDs@Si là bao nhiêu?
Trên đế cành lá nano bạc lắng đọng trên Si ($\text{AgNDs@Si}$), giới hạn phát hiện đạt được đối với các thuốc bảo vệ thực vật gồm:
- Thuốc diệt cỏ Paraquat (PQ): Phát hiện ở nồng độ thấp tới $0,01\text{ ppm}$.
- Thuốc trừ sâu Pyridaben: Phát hiện ở nồng độ $0,1\text{ ppm}$ đối với chất chuẩn và trong chế phẩm thương phẩm Koben 15EC (trong khi phổ Raman thông thường trên Si phẳng chỉ ghi được ở $1000\text{ ppm}$).
- Thuốc trừ nấm Thiram: Phát hiện ở nồng độ $0,01\text{ ppm}$ (tương đương $4,2 \times 10^{-8}\text{ M}$).
5. Phương pháp chế tạo cấu trúc hoa nano vàng (AuNFs) trên Si có điểm gì đặc biệt?
Cấu trúc hoa nano vàng không thể lắng đọng trực tiếp một bước tạo hoa đồng đều trên Si phẳng. Luận án đã áp dụng phương pháp lắng đọng điện hóa hai bước:
- Bước 1: Lắng đọng điện hóa các mầm hạt nano bạc (AgNPs) trên Si ở mật độ dòng thấp $0,05\text{ mA/cm}^2$ trong 3 phút trong dung dịch $\text{AgNO}_3/\text{HF}$.
- Bước 2: Chuyển đế đã có mầm Ag sang dung dịch $\text{HAuCl}_4/\text{HF}$ và điện phân ở mật độ dòng $0,1\text{ mA/cm}^2$ trong 10 phút. Quá trình kết hợp giữa phản ứng thay thế galvanic ($\text{Ag}$ tan ra, $\text{Au}$ bám vào) và phản ứng khử điện hóa ion $\text{Au}^{3+}$ phát triển có định hướng tạo nên hoa nano vàng hoàn chỉnh ($\text{AuNFs@AgNPs}$), cho phép phát hiện Rhodamine B ở nồng độ cực vết $0,1\text{ ppb}$.
Kết luận
Bản luận án tiến sĩ của tác giả Kiều Ngọc Minh đã nghiên cứu thành công quy trình công nghệ chế tạo các cấu trúc nano kim loại quý bất đẳng hướng dạng cành lá nano bạc, hoa nano bạc và hoa nano vàng trên đế silic phẳng bằng phương pháp lắng đọng hóa học và lắng đọng điện hóa. Các đế SERS chế tạo được có độ đồng đều cao, độ lặp lại tốt và hệ số tăng cường tín hiệu quang học đạt từ $10^7$ đến $10^9$ nhờ mật độ điểm nóng plasmon dày đặc tại các góc nhọn và khe hẹp nano. Luận án đã làm rõ cơ chế hình thành cấu trúc tinh thể, đồng thời ứng dụng thành công các đế SERS này để phát hiện định tính và định lượng nồng độ vết của nhiều loại thuốc bảo vệ thực vật độc hại (paraquat, pyridaben, thiram) và phụ gia thực phẩm, chất độc môi trường (melamine, crystal violet, xyanua, rhodamine B) ở dải nồng độ từ ppm xuống ppb. Công trình đóng góp giải pháp kỹ thuật có chi phí thấp, quy trình đơn giản và khả năng ứng dụng thực tế cao trong lĩnh vực phân tích môi trường và an toàn thực phẩm.