Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng CeO2 kích thước nanomet

Luận văn thạc sĩ phân tích hoá học nghiên cứu tổng hợp thăm dò khả năng ứng dụng của ceo2 kích thước nanomet, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho

Chuyên ngành

Hóa vô cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học hóa học

2013

68
14
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về CeO2 và các phương pháp tổng hợp

Luận văn bắt đầu bằng việc giới thiệu về CeO2, một chất bột màu vàng nhạt có cấu trúc mạng tinh thể kiểu fluorit. CeO2 có tính chất chịu nhiệt, nhiệt độ nóng chảy cao (khoảng 2100°C) và khả năng oxi hóa khử thuận nghịch. Ở kích thước nano, CeO2 thể hiện các tính chất quang, điện, từ đặc biệt. Luận văn sau đó trình bày một số phương pháp tổng hợp CeO2 kích thước nanomet, bao gồm phương pháp gốm truyền thống, đồng tạo phức, đồng kết tủa, sol-gel, vi nhũ, tổng hợp đốt cháy gel polyme và nghiền bi. Mỗi phương pháp đều có ưu điểm và nhược điểm riêng. Phương pháp gốm truyền thống đơn giản, dễ tự động hóa nhưng kích thước hạt lớn. Phương pháp đồng tạo phức cho phân bố cấu tử lý tưởng nhưng phức tạp và tốn kém. Phương pháp đồng kết tủa cho sản phẩm tinh khiết, đồng nhất nhưng cần kiểm soát chặt chẽ điều kiện phản ứng. Phương pháp sol-gel hiệu quả trong việc tổng hợp vật liệu nano nhưng cần kiểm soát quá trình làm khô. Phương pháp vi nhũ cho phép kiểm soát kích thước hạt nano nhưng cơ chế chưa được hiểu rõ hoàn toàn. Phương pháp tổng hợp đốt cháy gel polyme tiết kiệm năng lượng, cho sản phẩm tinh thể ở nhiệt độ thấp. Việc lựa chọn phương pháp tổng hợp phụ thuộc vào yêu cầu ứng dụng và đặc điểm cấu trúc của vật liệu.

II. Tổng hợp CeO2 nano bằng phương pháp đốt cháy gel polyme và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng

Luận văn tập trung vào phương pháp tổng hợp đốt cháy gel polyme để điều chế CeO2 nano. Phương pháp này sử dụng muối (NH4)2Ce(NO3)6 làm nguồn cung cấp ion xeri và chất oxi hóa, alanin làm nhiên liệu. Ưu điểm của phương pháp này là kỹ thuật đơn giản, sản xuất lượng lớn, tạo ra bột CeO2 nano siêu nhỏ, đồng thể và hoạt tính cao. Luận văn tiến hành khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố như nhiệt độ nung, pH, nhiệt độ tạo gel, thời gian nung, tỷ lệ mol Ce4+/alanin và Ce4+/NH4NO3 đến sự hình thành pha tinh thể và kích thước hạt CeO2. Việc khảo sát này giúp tìm ra điều kiện tối ưu để tổng hợp CeO2 nano với kích thước và tính chất mong muốn. Ví dụ, luận văn đề cập đến việc phân tích giản đồ XRD để xác định pha tinh thể và tính toán kích thước hạt dựa trên công thức Scherrer.

III. Đặc trưng và ứng dụng xúc tác quang hóa của CeO2 nano

Sau khi tổng hợp, CeO2 nano được đặc trưng bằng các phương pháp như nhiễu xạ tia X (XRD), kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM), kính hiển vi điện tử quét (SEM) và đo diện tích bề mặt riêng (BET). Các phương pháp này giúp xác định cấu trúc tinh thể, hình thái học, kích thước hạt và diện tích bề mặt của vật liệu. Luận văn cũng đánh giá khả năng ứng dụng của CeO2 nano làm xúc tác trong phản ứng quang hóa khử màu metylen xanh (MB). Đầu tiên, đường chuẩn của metylen xanh được xây dựng để xác định nồng độ. Sau đó, hiệu suất phân hủy metylen xanh được đánh giá dưới tác dụng của ánh sáng và xúc tác CeO2 nano. Kết quả cho thấy CeO2 nano có khả năng xúc tác quang hóa tốt, mở ra tiềm năng ứng dụng trong xử lý nước thải.

IV. Đánh giá và ứng dụng của nghiên cứu

Luận văn đã thành công trong việc tổng hợp CeO2 nano bằng phương pháp đốt cháy gel polyme và khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố đến kích thước và tính chất của vật liệu. Việc tìm ra điều kiện tổng hợp tối ưu cho phép điều chế CeO2 nano với kích thước nhỏ và hoạt tính xúc tác cao. Ứng dụng của CeO2 nano trong phản ứng quang hóa khử màu metylen xanh cho thấy tiềm năng của vật liệu này trong lĩnh vực xử lý môi trường. Nghiên cứu này đóng góp vào việc phát triển các vật liệu nano ứng dụng trong xúc tác và xử lý ô nhiễm. Tuy nhiên, luận văn chưa đề cập đến cơ chế xúc tác quang hóa của CeO2 nano và cần nghiên cứu thêm để hiểu rõ hơn về quá trình này. Ngoài ra, việc mở rộng nghiên cứu sang các ứng dụng khác của CeO2 nano cũng là một hướng phát triển tiềm năng.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Tổng quan - Chương II: Thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu. - Chương III: Kết quả và thảo luận - Kết luận - Tài liệu tham khảo 2 NỘI DUNG LUẬN VĂN Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu khái quát về cấu trúc và tính chất của CeO2 CeO2 là chất bột màu vàng nhạt, có cấu trúc mạng tinh thể kiểu fluorit [25], hằng số mạng 0,5411nm với tỷ trọng cao 7,215g/cm. Cấu trúc mạng tinh thể ở đây mô tả là liên kết hình khối với nhiều ion dương trong đó các khoảng trống tứ diện được lấp đầy bởi các ion âm.

Kết quả là một khối lập phương có số phối trí gấp tám lần của các ion dương được sinh ra. Liên kết mở rộng thống nhất trong cả ba kích thước dẫn đến tính chất cộng hóa trị mạnh mẽ. Do đó, loại cấu trúc fluorit như CeO2 xu hướng là vật liệu chịu nhiệt và có nhiệt độ nóng chảy cao khoảng 21000C. CeO2 có cấu trúc tinh thể giống với cấu trúc canxiflorit (CaF2) trong đó các nguyên tử kim loại tạo thành mạng lập phương tâm mặt, xung quanh là các nguyên tử oxi tạo thành tứ diện (Hình 1.

Cấu trúc tinh thể CeO2 Khi bị khử trong không khí ở nhiệt độ cao, CeO2 tạo thành các oxit thiếu oxi dạng CeO2 – x (0 ≤ x ≤ 0,5), đặc biệt sau khi thiếu một lượng lớn nguyên tử oxi trong mạng lưới tinh thể và tạo nên một lượng lớn lỗ trống tại những vị trí nguyên tử oxi đã mất, CeO2 vẫn có cấu trúc của canxiflorit và những oxit xeri thiếu oxi này sẽ dễ dàng bị oxi hóa thành CeO2 nhờ tác dụng của các chất khử [7]. 3 Quá trình oxi hóa khử đó có thể được biểu diễn bằng các phương trình phản ứng như sau: Ce+3 → Ce+4 + 1e Ce+4 + 1e → Ce+3 Ví dụ: 2Ce2O3 + O2 → 4CeO2 2CeO2 + CO → Ce2O3 + CO2 Giống như các hạt vật liệu nano khác, CeO2 kích thước nano có kích thước hạt bé, chỉ lớn hơn kích thước của các nguyên tử 1 – 2 bậc. Hầu hết các nguyên tử được phơi ra bề mặt hoặc được che chắn không đáng kể, mỗi nguyên tử được tự do thể hiện toàn bộ tính chất của mình trong tương tác với môi trường xung quanh. Trong khi ở vật liệu thông thường chỉ một số ít các nguyên tử nằm trên bề mặt được thể hiện tính chất, còn phần lớn các nguyên tử còn lại nằm sâu trong thể tích của vật bị các nguyên tử lớp ngoài che chắn.

Do đó CeO2 kích thước nano thể hiện một số tính chất khác thường như tính chất quang, điện, từ [21], [35]. Một số phƣơng pháp tổng hợp CeO2 kích thƣớc nanomet CeO2 kích thước nano là một trong những vật liệu nano đang được chú ý nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng bởi nó có tiềm năng ứng dụng giá trị trong nhiều lĩnh vực như trong sản xuất gốm sứ thủy tinh, làm xúc tác hay chất mang xúc tác, bột huỳnh quang,… Do đó việc nghiên cứu tổng hợp và ứng dụng CeO2 nano đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Tuy nhiên, tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng, đặc điểm cấu trúc của mỗi dạng tập hợp và bản chất của tiền chất mà có các phương pháp tổng hợp khác nhau. Yếu tố quan trọng nhất trong quá trình tổng hợp các vật liệu nano nói chung và CeO2 nano nói riêng là kiểm soát được kích thước của các phần tử và sự phân bố chúng.

Do đó khác với các phản ứng tổng hợp hóa học truyền thống, ở đây việc tạo ra không gian thích hợp cho phản ứng và bền hóa các phần tử tạo thành có vai trò quan trọng hàng đầu. Phƣơng pháp gốm truyền thống Bản chất của phương pháp là thực hiện phản ứng giữa các pha rắn ở nhiệt độ cao, sản phẩm thu được thường dưới dạng bột và có cấp hạt cỡ milimet. Từ sản phẩm đó mới tiến hành tạo hình và thực hiện quá trình kết khối thành vật liệu cụ thể. Đây là phương pháp đã được phát triển lâu đời nhất nhưng hiện nay vẫn còn được ứng dụng rộng rãi.

Các công đoạn theo phương pháp này như sau: Chuẩn bị phối liệu → nghiền, trộn → ép viên → nung → sản phẩm. Ưu điểm của phương pháp gốm truyền thống: Dùng ít hoá chất, hoá chất không đắt tiền, các thao tác dễ tự động hoá nên dễ dàng đưa vào dây chuyền sản xuất với lượng lớn. Nhược điểm: Đòi hỏi nhiều thiết bị phức tạp, tính đồng nhất của sản phẩm không cao, kích thước hạt lớn (cỡ milimet) nên khi ép tạo thành sản phẩm thường có độ rỗng lớn, phản ứng trong pha rắn diễn ra chậm [20]. Phƣơng pháp đồng tạo phức Nguyên tắc của phương pháp này là cho các muối kim loại tạo phức cùng nhau với phối tử trong dung dịch.

Sau đó tiến hành phân huỷ nhiệt phức chất có thành phần hợp thức mong muốn. Phương pháp này đạt được sự phân bố lý tưởng các cấu tử trong hệ phản ứng vì rằng trong mạng lưới tinh thể của phức rắn đã có sự phân bố hoàn toàn có trật tự của các ion. Ưu điểm của phương pháp đồng tạo phức: Trong hỗn hợp ban đầu đưa vào nung (hỗn hợp các phức chất) đã bảo đảm tỷ lệ hợp thức của các cấu tử đúng như trong vật liệu mong muốn. Nhược điểm: Tìm các phức chất đa nhân không dễ dàng và công việc tổng hợp phức chất tương đối phức tạp đòi hỏi nhiều phối tử đắt tiền.

Do đó với các vật liệu đòi hỏi phải bảo đảm chính xác tỷ lệ hợp thức. 5 Ví dụ, để tổng hợp ferit niken chúng ta có thể bắt đầu từ phức chất có công thức Ni3Fe6(CH3COO)17O3OH. Điều lý thú là phức này có thể tinh chế thành dạng nguyên chất bằng cách kết tinh lại trong pyridin [19], [20]. Phƣơng pháp đồng kết tủa Trong phương pháp kết tủa từ dung dịch, khi nồng độ của chất đạt đến một trạng thái bão hòa tới hạn, dung dịch sẽ đột ngột xuất hiện những mầm kết tụ.

Những mầm kết tụ đó sẽ phát triển thông qua quá trình khuếch tán của vật chất từ dung dịch lên bề mặt của các mầm cho đến khi các mầm trở thành hạt nano (Hình 1. Để thu được hạt có độ đồng nhất cao người ta cần phân tách hai giai đoạn hình thành và phát triển mầm. Cơ chế hình thành và phát triển hạt nano trong dung dịch Đây là một trong những phương pháp đang được sử dụng rộng rãi để tổng hợp vật liệu. Phương pháp này cho phép khuếch tán các chất tham gia phản ứng khá tốt, tăng đáng kể bề mặt tiếp xúc của các chất phản ứng do đó có thể điều chế được vật liệu mong muốn ở điều kiện nhiệt độ nung thấp.

Một điều quan trọng là thành phần của vật liệu ảnh hưởng đến nhiều tính chất, do đó tiến hành phản ứng đồng kết tủa, trong điều kiện nghiêm ngặt để kết tủa có thành phần mong muốn. Phương pháp đồng kết tủa có ưu điểm sau: - Cho sản phẩm tinh khiết. - Tính đồng nhất của sản phẩm cao [19], [20]. Phƣơng pháp sol – gel Mặc dù đã được nghiên cứu vào những năm 30 của thế kỉ trước.

Nhưng gần đây, cùng với sự ra đời và phát triển của kĩ thuật nano, phương pháp sol-gel vẫn được quan tâm rất nhiều vì nó rất thành công trong tổng hợp vật liệu cấp hạt nano. Trong quá trình sol-gel giai đoạn đầu tiên là sự thuỷ phân và đông tụ tiền chất để hình thành sol, dạng đồng nhất của các hạt oxit siêu nhỏ trong chất lỏng. Chất đầu để tổng hợp sol này là các hợp chất hoạt động của kim loại như các alkoxide của silic, nhôm, titan…Giai đoạn này có thể điều khiển bằng sự thay đổi pH, nhiệt độ và thời gian phản ứng, xúc tác, nồng độ tác nhân, tỷ lệ nước…Các hạt sol có thể lớn lên và đông tụ để hình thành mạng polime liên tục hay gel chứa các bẫy dung môi. Phương pháp làm khô sẽ xác định các tính chất của sản phẩm cuối cùng: gel có thể được nung nóng để loại trừ các phân tử dung môi, gây áp lực lên mao quản và làm sụp đổ mạng gel, hoặc làm khô siêu tới hạn, cho phép loại bỏ các phân tử dung môi mà không sụp đổ mạng gel.

Sản phẩm cuối cùng thu được từ phương pháp làm khô siêu tới hạn gọi là aerogel, theo phương pháp nung gọi là xerogel. Bên cạnh gel còn có thể thu được nhiều loại sản phẩm khác [20]. Phƣơng pháp vi nhũ Ý tưởng sử dụng vi nhũ trong điều chế xúc tác được Gault đề cập đầu tiên khi cộng tác với Friberg. Khi đó Gault đang nghiên cứu sự liên hệ giữa kích thước của xúc tác kim loại chuyển tiếp và sự chọn lọc trong phản ứng thủy phân và isome hóa hexan.

Phương pháp thường được ứng dụng thời đó và tận tới ngày nay để điều chế xúc tác kim loại là kĩ thuật tẩm. Với phương pháp này, có thể tạo được những hạt kim loại nhỏ mặc dù rất khó để phân bố vào trong những hạt có kích thước nhỏ. Dùng phương pháp tẩm, dạng của chất mang xúc tác có ảnh hưởng tới cấu trúc và kích thước hạt kim loại. Thêm vào đó, việc tổng hợp vật liệu lưỡng kim loại lại càng khó hơn.

Do cấu trúc đặc biệt của vi 7 nhũ, người ta hy vọng nó hình thành môi trường thích hợp cho việc tạo ra những hạt nano kim loại trên chất hệ phân bố kích thước hẹp cũng tốt như hạt nhiều kim loại. Tổng hợp hạt nano kim loại được Boutonnet thông báo đầu thập niên 80 của thế kỷ XX. Một hệ vi nhũ được định nghĩa là một hệ của nước, dầu và chất hoạt động bề mặt. Hệ này là một dung dịch đẳng quang và thuộc tính nhiệt động ổn định.

Quan sát bằng kính hiển vi, một vi nhũ trông như một dung dịch đồng thể, nhưng ở kích thước phân tử nó lại là hệ dị thể. Cấu trúc bên trong cùa một vi nhũ ở một nhiệt độ cho trước được quyết định bởi tỉ lệ hợp phần của nó. Cấu trúc này gồm cả những giọt nano nhỏ hình cầu đơn kích thước hoặc 1 pha chuyển tiếp. Cấu trúc khác nhau của một vi nhũ ở một nồng độ cho trước của chất hoạt động bề mặt được trình bày khái quát trong hình 1.

Có hai cách chính để tạo hạt nano từ vi nhũ: - Trộn lẫn hai vi nhũ, một chứa tiền chất và một chứa chất keo tụ. - Thêm chất keo tụ trực tiếp vào vi nhũ chứa kim loại tiền chất. Hạt nano CeO2 được điều chế thành công trong hệ vi nhũ đảo. Kích thước hạt có thể khống chế trong khoảng 2-5nm bởi nồng độ khác nhau của chất phản ứng, xeri nitrat và amoni hiđroxit.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thạc sĩ khoa học hoá học nghiên cứu tổng hợp thăm dò khả năng ứng dụng của CeO2 kích thước nanomet" của tác giả Lâm Phương Thanh, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Lê Hữu Thiềng tại Trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên, tập trung vào việc nghiên cứu và phát triển ứng dụng của CeO2 ở kích thước nanomet. Nghiên cứu này không chỉ mở ra tiềm năng ứng dụng trong lĩnh vực hóa học mà còn cung cấp những hiểu biết giá trị về tính chất và khả năng ứng dụng của vật liệu này trong các ngành công nghiệp khác nhau.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết khác như Luận văn thạc sĩ hóa vô cơ tổng hợp composite Bi2S3/BiOCl dùng làm chất xúc tác quang trong vùng ánh sáng khả kiến, nơi nghiên cứu về các chất xúc tác quang, hay Luận văn thạc sĩ công nghệ thực phẩm nghiên cứu quá trình trích ly tinh dầu nụ đinh hương và khảo sát hoạt tính kháng oxy hóa của tinh dầu, giúp bạn khám phá thêm về các ứng dụng trong công nghệ thực phẩm. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật tổ chức lại doanh nghiệp và thực tiễn thi hành tại tỉnh Sơn La cũng có thể cung cấp những góc nhìn về quản lý và ứng dụng trong lĩnh vực doanh nghiệp, tạo ra sự liên kết giữa các lĩnh vực nghiên cứu khác nhau.