Lời mở đầu Năng lượng đang là lĩnh vực mà thế giới đã và đang quan tâm rất nhiều. Nguồn năng lượng tự nhiên ngày càng cạn kiệt và thời gian tái sinh tự nhiên cũng kéo dài khoảng hàng ngàn năm – như năng lượng hóa thạch: dầu mỏ, than đá,…Do vậy, một trong những vấn đề được đầu tư ngày càng lớn đó là năng lượng thay thế, năng lượng tái tạo nhanh như năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy điện, năng lượng thủy triều, … đã được thực hiện trong những năm qua và mãi đến thế kỷ 21 này. Tuy nhiên, nguồn “năng lượng xanh” cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Đa số, nguồn năng lượng tự nhiên phụ thuộc vào sự thay đổi của thời tiết, chu kỳ ngày đêm và tùy thuộc địa hình từng vùng nên các thiết bị chuyển hóa năng lượng không thể hoạt động liên tục mà đòi hỏi cần phải lưu trữ năng lượng.
Chính điều này đã thu hút nhiều nhà khoa học tập trung nghiên cứu trong việc phát triển hệ thống thiết bị có khả năng lưu trữ năng lượng. Hơn thế, thiết bị lưu trữ cần có khả năng tái sử dụng sau khi hết năng lượng tức là sử dụng lại được nhiều lần nhằm tiết kiệm chi phí. Do đó, nghiên cứu những loại vật liệu có khả năng sử dụng tái tạo năng lượng cho thiết bị lưu trữ được ưu tiên hơn hết. Nhiều hệ thống lưu trữ năng lượng được nghiên cứu như ắc quy, pin lithium, pin ion – lithium, …Hệ thống pin ion – lithium (ion – lithium batteries) được coi là một trong những giải pháp tối ưu hiện tại.
Pin ion – lithium là thế hệ thứ 2 của pin lithium kim loại, pin có mật độ năng lượng cao và cơ chế phản ứng tương đối đơn giản. Hiện tại, pin ion – lithium được ứng dụng cho các thiết bị điện tử di động như pin cho điện thoại di động, máy vi tính di động, pin cho đèn chiếu siêu sáng cầm tay, pin cho thiết bị đo đạc cầm tay di động,… và đã được các nước trên thế giới sử dụng rộng rãi trong hơn hai mươi năm qua. Pin có cấu tạo đơn giản gồm các phần: điện cực dương, điện cực âm và chất điện giải. Điện cực dương phổ biến nhất cho pin ion – lithium được làm từ các hợp chất carbon (LixC6) và oxit kim loại chuyển tiếp (MoO2, WO2) có cấu trúc tinh thể.
Còn điện cực âm thường được làm từ hợp chất có chứa ion – lithium để giúp ổn định điện cực trong quá trình trao đổi điện tích như LiMn2O4, LiCoO2, LiNiO2 (bảng 1). Bảng 1 thể hiện các giá trị điện hóa của vật liệu làm điện 1 cực cho pin ion – lithium. Điện cực dương và điện cực âm được ngăn cách bởi chất điện giải là chất không dẫn điện tử nhưng dẫn ion lithium như LiPF6, LiBF4, LiClO4, LiBC4O8,…. Cấu tạo cụ thể của hệ thống pin ion – lithium như hình 1.1: Cấu tạo nguyên lý hoạt động của pin ion – lithium khi xả và sạc Khi sạc, các ion lithium di chuyển từ cực âm sang cực dương qua chất điện giải, còn khi xả thì các ion lithium di chuyển ngược lại.
Vật liệu cho cả hai điện cực thường có cấu trúc khối nên tuổi thọ, khả năng tích điện, khả năng nạp/xả và mật độ dòng điện tạo ra thấp. Để cải thiện các tính năng này, người ta cải tiến điện cực của pin bằng cách ứng dụng vật liệu kích thước nano như fullerene – C60, ống nano cacbon đa thành hoặc đơn thành, ống nano MoS2, hạt nano thin films MoS2,….Khi vật liệu ở kích thước nano sẽ xuất hiện những tính chất hóa lý rất đặc biệt mà ở vật liệu khối không có được do ảnh hưởng của kích thước lượng tử. Với kích thước nano, vật liệu có khả năng tích trữ ion lithium lớn hơn, mật độ dòng điện tăng rất nhiều do diện tích bề mặt lớn. Vật liệu ở kích thước nano còn thể hiện khả năng nạp/xả lớn, giúp tăng thời gian sống của pin lên đáng kể.
Bên cạnh đó, giá thành của vật liệu nano làm điện cực pin cũng là một yếu tố quan trọng cho việc phát triển nghiên cứu. Vật liệu đáp ứng tốt tính năng làm điện cực có giá thành thấp, dễ tổng hợp là xu hướng nghiên cứu chung cho các nhà 2 khoa học trên thế giới nhằm sản xuất và ứng dụng vào thiết bị điện tử ở quy mô công nghiệp. Vật liệu có cấu trúc dạng tấm (lớp) - kích thước hai chiều lớn hơn rất nhiều so với chiều còn lại – đang được rất nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Hầu hết, hợp chất của kim loại chuyển tiếp và phi kim thường có cấu trúc dạng lớp (WS2, MoSe2, MoS2, WSe2,…).
Trong đó, MoS2 được xem là vật liệu thu hút sự đầu tư nghiên cứu nhiều nhất. CNTs là vật liệu khá phức tạp khi tổng hợp và giá thành thì vẫn còn quá cao. Vật liệu được quan tâm nhiều sau CNTs là graphene (đơn lớp của graphite). Graphene có những tính chất rất tuyệt vời như khả năng dẫn điện cực cao, diện tích bề mặt lớn, tính bền hóa tốt,… Tuy nhiên, vật liệu này vẫn có giá thành cao do việc tổng hợp cũng gặp nhiều khó khăn trong việc làm giảm khuyết tật mạng, độ dẻo thấp.
MoS2 có cấu trúc đơn lớp giống graphene nhưng lại dễ dàng tổng hợp hơn rất nhiều và tính chất cơ, tính bền hóa tốt. Do đó, việc nghiên cứu tổng hợp vật liệu MoS2 chất lượng tốt, sẽ hứa hẹn có nhiều ứng dụng trong vật liệu làm điện cực pin ion – lithium hay ứng dụng khác trong những thiết bị điện tử. Bảng 1: Giá trị điện hóa của vật liệu làm cực âm và cực dương trong pin ion – lithium [2] Dung tích chứa Khối lượng Mật độ Khoảng khả Vật liệu đặc trưng phân tử (g/cm3) nghịch (∂x) (mAh/g) Cực dương LixC6(c) 72.5 105 Cực âm 3 LiMn2O4 180. Tổng quan tình hình nghiên cứu thế giới Theo công bố của trang khoa học Sciencedirect.com, số lượng các công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến vật liệu nano MoS2 tăng dần qua các năm (Hình1.
Tuy chưa thể so sánh với số lượng các công trình nghiên cứu về ống nano carbon (CNTs) hay graphene nhưng với sự tăng dần số lượng công trình nghiên cứu về nano MoS2 cho thấy các nhà khoa học trên thế giới đang thật sự quan tâm đến vật liệu này. Trước năm 1995, một vài công trình nghiên cứu về vật liệu MoS2 ở kích thước nano đã được công bố. Tuy vậy, số lượng các công trình nghiên cứu vẫn không thay đổi đáng kể đến năm 2002. Một mặt, các công trình nghiên cứu về nano MoS2 chỉ ứng dụng trong vật liệu bôi trơn khô hay bước đầu nghiên cứu ứng dụng trong transitors.
Mặt khác, giai đoạn này các nhà khoa học đa phần tập trung nghiên cứu vật liệu ống nano carbon hay graphene. Bắt đầu từ năm 2003, công trình nghiên cứu về vật liệu nano MoS2 mới tăng ngày một rõ ràng. Đặc biệt nhất, số lượng công trình năm 2013 (345) tăng gần gấp đôi năm 2012 (181) và năm 2014 (617) tăng gần gấp đôi năm 2013. Qua đó cho thấy, vật liệu nano MoS2 đang được các nhà khoa học quan tâm bởi cấu trúc, tính chất đặc biệt của nó.2: Biểu đồ các công trình nghiên cứu về vật liệu nano MoS2 từ trước năm 1995 đến 12/2014 Những năm gần đây đã có vài công trình nghiên cứu về vật liệu nano MoS2 làm vật liệu nền để các nguyên tử, ion hay phân tử xen vào khoảng cách các lớp do liên kết yếu giữa các lớp để ứng dụng cho điện cực pin sạc đã được công bố [3-6].
Ngoài ra, vật liệu MoS2 còn kết hợp với vật liệu khác để tạo ra vật liệu lai có tính năng kết hợp ứng dụng trong pin ion – lithium như kết hợp với CNTs, graphene,…[7,8]. Như vậy, tiềm năng ứng dụng của vật liệu nano MoS2 rất lớn nên được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Tình hình nghiên cứu trong nước Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa thấy xuất hiện công bố công trình nghiên cứu nào liên quan đến vật liệu nano MoS2 ngoại trừ công trình nghiên cứu được đăng trên tạp chí khoa học và công nghệ số 51 – 5C của nhóm nghiên cứu năm 2013 với đề tài “Tổng hợp hạt MoS2 bằng phương pháp ngưng tự hóa học”. Cùng với con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nghiên cứu vật liệu nano nhiều tiềm năng ứng dụng như vật liệu MoS2 đáng được quan tâm ở Việt Nam.
Với những ưu điểm như khả năng 5 tổng hợp đơn giản dễ thực hiện, giá thành thấp, nghiên cứu về vật liệu nano MoS2 sẽ là một đề tài hấp dẫn và có tính cấp thiết cần được quan tâm và đầu tư. Từ những nhận định trên về tình hình thế giới và trong nước, việc tổng hợp thành công hạt nano MoS2 sẽ mang lại nhiều khả năng ứng dụng và phát triển cho các thiết bị hiện đại giải quyết nhu cầu của thế giới về vật liệu năng lượng giá thành thấp, tính chất tốt. Đề tài của luận văn này cũng nhằm mục tiêu đạt được quy trình tổng hợp hạt nano MoS2 đơn giản dễ thực hiện với điều kiện trong nước. 6 PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ MoS2 2.1 Cấu trúc tinh thể và tính chất đặc trưng của MoS2 Ngoài tự nhiên, tinh thể Molydbenite (Molybdenum disulfide) MoS2 tồn tại sẵn ở trong khoáng của nó (hình 2.
Tinh thể khoáng ban đầu có cấu trúc đặc trưng dạng lớp và thuộc loại hợp chất của kim loại chuyển tiếp Mo với phi kim S. Một lớp nguyên tử Mo nằm giữa 2 lớp nguyên tử S liên kết chặt chẽ bằng liên kết cộng hóa trị. Giữa 2 lớp MoS2 liên kết với nhau bằng lực liên kết Van der Waals rất yếu nên rất dễ tách các lớp MoS2 ra với nhau có thể tới từng lớp riêng lẻ nhờ các công nghệ tách bằng các phương pháp hóa học hay tách bằng cơ học. Nhờ liên kết yếu giữa các lớp nên MoS2 ứng dụng rất tuyệt vời và rộng rãi trong vật liệu bôi trơn khô.
Khi ma sát các lớp MoS2 trượt lên nhau dễ dàng và do liên kết của S – Mo – S rất bền nên nó chịu được nhiệt độ cao khi làm việc trong các chi tiết ma sát sinh nhiệt lớn. MoS2 là vật liệu cực kỳ quan trọng làm chất bôi trơn khô cho chi tiết làm việc trong môi trường nhiệt độ cao, áp lực cao do có hệ số ma sát thấp, hoạt tính bề mặt cao, diện tích bề mặt đặc trưng lớn.1: Khoáng MoS2 ngoài tự nhiên MoS2 có ba kiểu dạng cấu trúc sắp xếp: kiểu dạng tứ giác (Tetragonal – 1T), dạng lục giác xếp chặt (Hexagonal – 2H), và kiểu cấu trúc khối sáu mặt thoi (Rhombohedral – 3R) (hình 2.