CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu liên quan 1.1 Tổng quan các nghiên cứu liên quan trên thế giới Hiện nay trên thế giới, các nước đang phát triển, có thành phần dân cư phần lớn là nông dân và nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, luôn được quan tâm giúp đỡ từ các tổ chức của Liên hợp quốc và chương trình viện trợ của các nước phát triển. Quan điểm của các tổ chức Quốc tế đối với các nước đang phát triển có nền sản xuất nông nghiệp lớn thì phát triển nông nghiệp, nông thôn đang được quan tâm và đầu tư xây dựng, nâng cao hiệu quả các mô hình sản xuất. Sự quan tâm và được chú trọng cho các nước có nền nông nghiệp phát triển là nhiệm vụ hàng đầu của một quốc gia, nhằm hỗ trợ và thúc đẩy nhau trong quá trình phát triển đi tới một nền nông nghiệp bền vững, kéo theo đó là sự phát triển, ổn định của khu vực nông thôn. Như vậy, việc phát triển các mô hình sản xuất nông nghiệp thông minh thích ứng với biến đổi khí hậu và tác động thiên tai thực sự đang được chú trọng tại các vùng Duyên hải ven biển nhằm mang lại kinh tế cao và phải triển bền vững thích ứng với khí hậu thời tiết trong khu vục.
Theo tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Liên Hợp Quốc– FAO (2010) các tiêu chí về tiếp cận nông nghiệp thông minh thích ứng với Biến đổi khí hậu (CSA) được định nghĩa bởi [4] thì các giải pháp ứng phó trong nuôi trồng thủy sản ven biển để triển khai các thực hành nuôi trồng thủy sản thông minh với BĐKH bao gồm như sau: (i) Cải thiện việc sử dụng yếu tố đầu vào cho sản xuất: Tối ưu hoá các yếu tố đầu vào hướng tới việc sử dụng có hiệu quả các nguyên liệu đầu vào thông qua các biện pháp kỹ thuật để giảm chi phí sản xuất, giảm ô nhiễm môi trường và giảm phát thải KNK. Đồng thời, khai thác sử dụng bền vững nguồn nước: áp dụng các biện pháp/kỹ thuật nuôi ít thay nước, tuần hoàn nước, xử lý nước thải từ ao nuôi…; (ii) Đa dạng hóa và thay đổi cơ cấu con giống nuôi trồng để thích ứng với BĐKH: thực hiện các thực hành nuôi trồng thủy sản luân canh, xen canh để tận dụng cơ sở thức ăn tự nhiên, thân thiện với môi trường, hoặc nghiên cứu các giống mới có đặc điểm chống chịu tốt hơn với BĐKH; (iii) Kết nối với doanh nghiệp để đẩy mạnh tiêu thụ, quảng bá các sản phẩm nuôi trồng thân thiện với môi trường, các sản phẩm nuôi trồng có trách nhiệm và giúp giảm thiểu BĐKH để nhân rộng các giải pháp và thực hành về CSA. 4 Bên cạnh đó, đứng trước nhiều thách thức vô cùng lớn trong công tác sản xuất nông nghiệp đặc biệt là thách thức từ nguồn nước, từ các ảnh hưởng của BĐKH, việc ứng dụng các kỹ thuật khoa học công nghệ và các mô hình sản xuất thông minh càng được chú trọng và quan tâm. Ảnh hưởng của BĐKH đã hiện hữu, các nghiên cứu cho thấy những năm gần đây, biến đổi khí hậu và các dạng thiên tai ngày một tăng với xu hướng diễn biến phức tạp đã tác động trực tiếp đến các ngành kinh tế nói chung và ngành sản xuất nông nghiệp nói riêng.
Biến đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến sự thay đổi lượng mưa và nhiệt độ không khí trung bình trong ba thập kỷ qua có sự thay đổi lớn, và nghiên cứu cũng chỉ ra trong ba thập nhiên tới tại Hàn Quốc ở các lưu vực nhỏ sẽ tăng tử 6.3% lượng mưa, và nhiệt độ không khú có xu hướng tăng thêm từ 0. Thêm vào đó, một vài nghiên cứu đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có ảnh hưởng khác nhau tại các vùng trên thế giới tại Châu Âu nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng nhiều hơn so với nhiệt độ biến đổi khí hầu trung bình toàn cầu, kết quả cũng chỉ ra nhiệt độ tăng mạnh nhất vào mùa hè vùng Địa Trung Hải nhưng lượng mưa có xu hướng giảm dần trong thời gian này (Christensen et al. Ngoài ra, tác động của biến đổi khí hậu đã ảnh trựcc tiếp đến chế độ thủy văn và dòng chảy mặt của lưu vực được thể hiện qua một số kết quả nghiên cứu như (Lee et al, 2010) [3]. Biến đổi khí hậu đã tác động này đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản lý, sử dụng nguồn nước trong sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất nuôi trồng thuỷ sản nói riêng trong các khu vực đặc biệt là vùng ven biển.
Qua đó cho thấy, để phát triển bền vững kinh tế trong khu vực chịu tác động thì cần có những giải pháp kho học công nghệ, áp dụng các mô hình sản xuất như phát triển nông thôn luôn gắn với phát triển sản xuất nông nghiệp, việc phát triển một nền nông nghiệp ổn định và bền vững, trong đó thủy lợi là một trong những yếu tố có vai trò then chốt, vì vậy việc đầu tư xây dựng mới, nâng cấp cải tạo nhằm nâng cao hiệu quả của các CTTL hiện rất được coi trọng ở các nước đang phát triển có nền kinh tế dựa vào nông nghiệp. Các nước trên thế giới các nước cũng đẩy mạnh mẽ công tác hạ tầng và hệ thống thuỷ lợi cũng như đưa các mô hình sản xuất phù hợp để đạt được các mục tiêu phát triển, cụ thể tại Thái Lan: sự trợ giúp mạnh mẽ của nhà nước trong phát triển cơ sở hạ tầng thủy lợi phục vụ nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Thái Lan vốn là một nước nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nước. Trong xây dựng kết cấu hạ tầng, Nhà nước đã có chiến lược trong xây dựng và 5 phân bố hợp lý các CTTL lớn phục vụ cho nông nghiệp.
Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Mark Svenden, một chuyên gia của Liên hợp quốc nói về sự cần thiết nâng cao hiệu quả CTTL trong phát triển nông nghiệp – nông thôn: “ Không có một bộ phận nào của công trình hạ tầng đảm bảo chức năng làm việc quá một năm trừ khi nó được một tổ chức vận hành, duy tu bảo dưỡng và nâng cấp nó. Rõ ràng, vai trò của đầu tư xây dựng CTTL là cực kỳ quan trọng nhưng bảo trì và nâng cấp để nâng cao hiệu quả của công trình còn quan trọng hơn rất nhiều. Bện cạnh đó, các công tác phòng chống về tác động của thiên tai, biến đổi khí hậu đến hạ tầng thủy lợi, thích ứng với thiên tai nói chung và các tác động đến hạ tầng thủy lợi khu vực ven biển nói riêng cũng đã được chú trọng.
Theo kết quả nghiên cứu đánh giá khí hậu Quốc Gia của Ủy ban cố vấn phát triển Quốc gia Mỹ năm 2012, đánh giá về tác động của biến đổi khí hậu đến lĩnh vực thủy lợi nói chung và hạ tầng CTTL nói riêng được nêu như sau: Sự thay đổi về khí tượng khí hậu sẽ dẫn đến các hình thế thời tiết bất thường, bão và mưa lớn sẽ thường xuyên cũng như hạn hán. Dẫn đến sự thay đổi về tổng lượng nước, phân bố theo thời gian và không gian cũng như chất lượng nước, đồng thời quá trình này cũng có các tác động nghiêm trọng đến hạ tầng thủy lợi cũng như chế độ quản lý mà nhà quản lý kỹ thuật và các địa phương đang thực hiện. Trừ khi các nhà quản lý thủy lợi có kế hoạch điều chỉnh thích ứng cả trong quản lý và cải tạo hệ thống hạ tầng thủy lợi cho phù hợp. Còn theo cơ quan bảo vệ môi trường của Anh (EPA) có đánh giá rằng: do ảnh hưởng của nước biển dâng, mưa bão với các tần suất tính toán hoặc xảy ra hiện nay cũng trở nên nguy hiểm trong tương lai, cụ thể là sẽ làm gia tăng phạm vi úng ngập cũng như thời gian tiêu thoát.
Hệ thống tiêu tự chảy qua các cống tiêu qua đê hoặc ở bờ biển cũng như hạ tầng công trình phòng chống thiên tai, hệ thống nước thải có thể bị hư hại nặng hoặc thậm chí bị mất tác dụng khi mực nước biển trung bình ngày càng dâng cao như các tính toán dự báo. Bên cạnh đó, trên thế giới cũng quan tâm và chú trọng các giải pháp khoa học công nghệ và quản lý được áp dụng trong việc nâng cấp, cải tạo CTTL nhằm phát triển bền vững kinh tế xã hội. Cụ thể, ở hầu hết các nước đang phát triển và thậm chí ở một số nước phát triển trung bình cũng đã không đáp ứng được, cần phải cải tạo, nâng cấp, hoàn thiện bằng cả các biện pháp khoa học công nghệ và biện pháp đổi mới hệ thống quản lý. Trong điều kiện biến đổi khí hậu thì năng lực phục vụ của hạ tầng thủy lợi lại 6 càng bị ảnh hưởng mạnh.
Có thể nêu một số kết quả nghiên cứu, đề xuất điển như Viện nghiên cứu khí tượng và thủy văn Quốc gia Bungaria (NIMH) dưới sự hỗ trợ kỹ thuật và tài chính của các tổ chức Quốc tế đã nghiên cứu soạn thảo chương trình “Nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật và quản lý hiệu quả để cải tạo hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thủy lợi dưới tác dụng của biến đổi khí hậu” với các nội dung chủ yếu: (i) Đánh giá lại các yêu cầu về nước và khả năng hệ thống thủy lợi hiện tại trong việc phục vụ nông nghiệp dưới tác động của biến đổi khí hậu đồng thời chuẩn bị đề án lâu dài về yêu cầu nước sử dụng cho nông nghiệp. (ii) Cải tạo hoàn thiện đồng bộ hệ thống quản lý sử dụng nước. Sử dụng chế độ vận hành tưới tiêu hiệu quả, kinh tế cho các vùng sản xuất nông nghiệp. (iii) Tăng cường hiệu quả quản lý và khai thác hạ tầng thủy lợi hiện tại, tạo ra các công cụ kỹ thuật và công nghệ mới để nâng cấp và hiện đại hóa hạ tầng thủy lợi (công nghệ điều tiết trên kênh, cải tạo công trình đầu mối, hệ thống giám sát, giải pháp gia cố kênh.
Thay đổi các quy định và luật lệ trong lĩnh vực quản lý tưới tiêu phù hợp với sự thay đổi các điều kiện sản xuất nông nghiệp mới cũng như trong điều kiện có sự thay đổi các hạ tầng công nghệ phục vụ và quản lý tưới tiêu trong điều kiện hiện tại cũng như xét đến các tác động lâu dài của biến đổi khí hậu.