Chương I: Lý luận về các vấn đề liên quan đến công tác giải phóng mặt bằng I.1 Khái niệm: Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp ( Từ điển Bách khoa Việt Nam). Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị ( Giáo trình QHĐT, ĐH kiến trúc Hà Nội). Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghịêp, có cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên nghành có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh (Thông tư số 31/TTLD, ngày 20/11/1990 của liên bộ XD và ban tổ chức cán bộ của chính phủ ). Khái niệm về Đô thị có tính tương đối do sự khác nhau về trình độ phát triển kinh tế – xã hội, hệ thống dân cư.
Mỗi nước có quy định riêng tùy theo yêu cầu và khả năng quản lý của mình. Việt Nam quy định Đô thị là những thành phố, thị xã, thị trấn, thị tứ, với tiêu chuẩn và quy mô dân số cao hơn, nhưng cơ cấu lao động phi nông nghiệp thấp hơn. Điều đó xuất phát từ đặc điểm của nước ta là một nước đông dân, đất không rộng, đi từ một nước nông nghiệp lên CNXH… Và cũng thể hiện sự nhận thức đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất trong điều kiện cụ thể ở nước ta.2 Đặc điểm kinh tế – xã hội của Đô thị: Đô thị là nơi tập trung nhiều vấn đề và có tính chất toàn cầu: - Vấn đề môi trường: Tốc độ gia tăng quá nhanh về công nghiệp hóa và đô thị hóa dẫn đến phá hủy một phần hệ môi trường sinh thá, gây ô nhiễm… trong khi khắc phục các sự cố rất chậm chạp, không đầy đủ vì nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó nguyên nhân quan trọng là tài chính hạn chế và nhận thức không đầy đủ. - Vấn đề dân số: Tốc độ gia tăng quá nhanh về dân số và dân số Đô thị, hai hướng chuyển dịch dân cư diễn ra song song.
Theo chiều rộng: từ nông thôn vào thành thị, từ nước kém phát triển đến nước phát triển, từ thành thị ra ngoại thành. Theo chiều sâu: Chuyển dịch cơ cấu lao động từ các hoạt động nông nghiệp sang hoạt động phi nông nghiệp ngay trong lòng nông thôn. - Vấn đề tổ chức không gian và môi trường: Quy mô dân số Đô thị tập trung quá lớn so với trình độ quản lý, dẫn đến không điều hòa nổi, gây bế tắc trong tổ chức môi trường sống Đô thị. - Vấn đề giao thông: Tại các Đô thị lớn, vấn đề tắc nghẽn giao thông, tai nạn giao thông, bụi khói, tiếng ồn đang là vấn đề nhức nhối và cấp bách cho chính quyền Đô thị.
Có rất nhiều giải pháp được đưa ra nhằm giải quyết vấn đề trên. Tuy nhiên, để lựa chọn từng giải pháp phù hợp với tình trạng, điều kiện hiện có của từng Đô thị là không đơn giản bởi lẽ nó có liên quan đến sự phát triển bền vững của Đô thị. - Quan hệ thành thị và nông thôn luôn tồn tại, ngày càng trở nên quan trọng: Khi muốn tìm hiểu hoạt động của thành phố, chúng ta lại phải nghiên cứu vùng nông thôn. Chúng ta sẽ không hiểu thành phố hoạt động như thế nào nếu không biết đến những ảnh hưởng qua lại giữa thành phố và vùng nông thôn, khi hệ thống địa giới hành chính bắt đầu được hình thành.
- Hệ thống thị trường Đô thị với những đặc trưng riêng biệt: Vì thành phố là nơi tập trung đông dân với hoạt động sản xuất chuyên môn hóa cao, nên nhu cầu cung cấp, trao đổi hàng hóa, hay tiêu dùng cũng rất cao. Cung và cầu gặp nhau trên thị trường Đô thị (thị trường Đô thị là một hệ thống hoặc địa điểm, ở đó diễn ra việc mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ. - Đô thị mang tính kế thừa của nhiều thế hệ cả về cơ sở vật chất, kinh tế, văn hóa, xã hội…Thành phố Hà nội được xây dựng cách đây hàng nghìn năm. Nền văn hóa đó được kế thừa và phát triển với bản sắc dân tộc Việt Nam.
Đô thị hóa và các khu Đô thị mới: 2.1 Khái niệm về Đô thị hóa: Đô thị hóa chứa đựng nhiều hiện tượng và biểu hiện dưới nhiều hình thái khác nhau, vì vậy có thể nêu khái niệm dưới nhiều góc độ. Trên quan điểm một vùng: Đô thị hóa là một quá trình hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu Đô thị. Trong ngôn ngữ báo chí hàng ngày, chúng ta thường gặp các cụm từ “ tốc độ Đô thị hóa “, “ trình độ Đô thị hóa “ nhằm mô tả diễn biến, tình trạng của quá trình. Tốc độ Đô thị hóa có thể được hiểu theo hai nghĩa.
Trên góc độ thống kê, người ta so sánh quy mô tăng thêm trong một thời kỳ nhất định. Trên góc độ kinh tế xã hội, người ta có thể hiểu nó như là tỷ lệ dân số Đô thị trong tổng số dân ở một thời điểm nhất định. Trên quan điểm kinh tế quốc dân: Đô thị hóa là quá trình biến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất, bố trí dân cư những vùng không phải Đô thị thành Đô thị.2 Hình thức biểu hiện: Mở rộng quy mô diện tích các Đô thị hiện có trên cơ sở hình thành các khu Đô thị mới(KĐTM), các quận, các phường mới là hình thức phổ biến với các Đô thị của Việt Nam trong điều kiện kinh tế còn hạn chế. Việc hình thành các KĐTM, các quận, phường mới được xem là hình thức Đô thị hóa theo chiều rộng và là sự mở đường của quan hệ sản xuất cho lực lượng sản xuất phát triển.
Với hình thức này dân số Đô thị và diện tích Đô thị tăng nhanh chóng. Sự hình thành các ĐTM để phát triển đồng đều các khu vực, các ĐTM được xây dựng trên cơ sở các khu công nghiệp và các vùng kinh tế là xu hướng tất yếu của sự phát triển. Hiện đại hóa và nâng cao trình độ các Đô thị hiện có là quá trình nhanh chóng, thường xuyên và tất yếu của quá trình tăng trưởng và phát triển. Các nhà quản lý Đô thị và các thành phần kinh tế trên địa bàn Đô thị thường xuyên vận động nhằm làm giàu thêm cho Đô thị của mình.
Quá trình Đô thị hóa đòi hỏi họ phải biết điều tiết, tận dụng tối đa những tiềm năng sẵn có và hoạt động có hiệu quả và trên cơ sỏ hiệnđại hóa trong mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội ở Đô thị. Cả hai hình thái đều dẫn đến hiện tượng dân số Đô thị tăng nhanh. Sự thay đổi về hành chính dẫn đến những người dân hôm qua còn là nông dân, hôm nay trở thành người thành thị, cộng với sự nhập cư ồ ạt vào các Đô thị cũ với cơ sở hạ tầng sẵn có đã cung cấp cho Đô thị nguồn nhân lực dồi dào, là cơ sở cho các doanh nghiệp sản xuất mới ra đời, doanh nghiệp cũ mở rộng quy mô sản xuất… nhưng nó cũng tạo ra những mất cân đối về cung cầu lao động việc làm và các vấn đề khác trong Đô thị.3 Khái niệm và sự cần thiết khách quan của việc xây dựng các KĐTM 2.1 Khái niệm: Khu Đô thị mới là khu Đô thị có diện tích tương đối lớn đang được phát triển tập trung theo dự án đầu tư xây dựng hoàn chỉnh, đồng bộ kết cấu hạ tầng, các công trình sản xuất, công trình phúc lợi và nhà ở. Các khu ĐTM thường được gắn với một Đô thị hiện có hoặc với một Đô thị đang hình thành.
Trên phương diện pháp luật, KĐTM phải ranh giới và chức năng xác định, phù hợp với quy hoạch xây dựng Đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.2 Sự cần thiết khách quan: Các khu Đô thị mới trên thực tế được hình thành và phát triển tại các khu vực gần Đô thị cũ, khi các điều kiện của Đô thị cũ đã quá tải, không đáp ứng được yêu cầu cuộc sống của dân cư, cũng như yêu cầu phát triển Đô thị thể hiện qua một số mặt như: + Sự thiếu đất xây dựng làm giá nhà và đất tăng vọt, gây nên tình trạng thiếu nhà ở, thiếu điều kiện để xây dựng các công trình trong Đô thị hiện hữu. + Hệ thống hạ tầng quá tải gây nên tình trạng ách tắc giao thông, thiếu nước, vệ sinh môi trường không đảm bảo, trong khi đó việc cải tạo quá tốn kém hoặc khó khăn. + Cơ cấu đất Đô thị cũ không đáp ứng được nhu cầu phát triển mới * Xây dựng các Khu Đô thị mới nhằm đáp ứng các mục tiêu sau: + Hình thành và phát triển những Đô thị mới độc lập trong hệ thống Đô thị quốc gia. Do ở những khu vực mới có quỹ đất xây dựng dồi dào, giá đất được chính phủ duy trì ổn định, tạo sự thu hút việc xây dựng nhiều công trình mới thuộc mọi thành phần kinh tế.
Hệ thống giao thông được xây dựng mới thuận lợi cho việc đi lại và giao lưu, tạo điều kiện cho Đô thị mới hình thành ổn định và phát triển độc lập + Tạo dựng Đô thị mới đồng bộ đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế gồm: một hệ thống các công trình nhà ở, nơi làm việc, cửa hàng và các công trình dịch vụ. Đô thị mới thu hút dân cư trong Đô thị cũ đến sống và làm việc trong điều kiện tốt hơn, giảm mật độ dân cư Đô thị cũ, hỗ trợ cho việc giải quyết ách tắc giao thông, đồng thời có điều kiện bảo tồn và cải tạo Đô thị cũ. + Hình thành các Đô thị mới với cơ sở hạ tầng hiện đại, tạo môi trường đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhằm tạo điều kiện công ăn việc làm mới, tiếp thu các công nghệ hiện đại, tiên tiến tạo động lực phát triển kinh tế. + Phát triển Đô thị theo một chiến lược dài hạn, có kế hoạch và định hướng tránh việc tự phát, tản mạn và sử dụng đất không hợp lý, tạo điều kiện bảo vệ đất nông nghiệp.