PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đô thị hóa (ĐTH) là một hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội (KT- XH) ở mỗi quốc gia. Hiện nay, ĐTH đang diễn ra với tốc độ nhanh ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Dân số sống trong các đô thị và số lượng đô thị trên thế giới ngày một tăng lên.
Năm 2015, có 53,5% dân số thế giới (8,9 tỉ người) đang sống tại các đô thị. Thời điểm này, cả thế giới đã có 457 đô thị có trên 1 triệu dân [114]. Các đô thị thường là các trung tâm về chính trị, KT - XH của các quốc gia. Đô thị luôn có vai trò đầu tầu và thúc đẩy các khu vực khác trong quá trình phát triển KT - XH chung của mỗi quốc gia.
ĐTH không chỉ là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp sự phát triển KT - XH mà còn là một nhân tố ảnh hưởng đến một số “thành phần” KT - XH khác trong mỗi đô thị, đó là: dân cư - lao động đô thị, kinh tế đô thị và không gian đô thị. Mỗi “thành phần” trên đã biến đổi theo một quy luật riêng trong quá trình ĐTH. Sử dụng đất trong đô thị cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đất đai trong đô thị được cho là thành phần có nhiều chuyển biến nhất khi đô thị phát triển.
Ngoài ra sự tác động từ sử dụng đất đến ĐTH theo chiều ngược lại đã ảnh hưởng sâu sắc đến những “thành phần” KT - XH trong một khu vực có phạm vi hẹp. Đó là mối quan hệ 2 chiều đã và đang diễn ra ở nhiều khu vực chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị. Ở nước ta, ĐTH bắt đầu từ sau Đổi mới nhưng đến tận đầu thế kỉ XXI quá trình trên mới thực sự khởi sắc. ĐTH đã diễn ra trên khắp cả nước nhưng phát triển mạnh ở những địa phương đang thực hiện công nghiệp hóa (CNH) hoặc những địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi.
Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB), có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện KT - XH. Nhờ khai thác được những lợi thế sẵn có đó nên giai đoạn 2005 - 2015 tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong CNH và ĐTH. Tỉ lệ dân đô thị đã tăng từ 13,5% (năm 2005) lên 28,6% (năm 2015). Tỉ trọng lao động và kinh tế phi nông nghiệp (NN) ngày càng cao trong cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế.
Đất đô thị tăng về diện tích và chuyển dịch trong cơ cấu sử dụng. Mạng lưới và cấu trúc không gian đô thị của tỉnh Bắc Ninh nhờ vậy cũng thay đổi cả về số lượng và chất lượng đô thị. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên vẫn còn một số vấn đề tồn tại đó là: tỉ lệ dân đô thị vẫn đang ở mức thấp hơn so với đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và cả nước, mức độ ĐTH chưa tương xứng với trình độ của CNH, môi trường và cảnh quan ở một số khu vực đô thị vẫn còn 2 mang tính chất nửa nông thôn nửa đô thị, tệ nạn xã hội ngày một phức tạp hơn, nhất là ở những khu vực mới chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị. Vì vậy, với mong muốn hiểu sâu hơn về quá trình ĐTH, đặc biệt là mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 - 2015 làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Địa lí học.
Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 2. Những nghiên cứu về đô thị hóa Những khái niệm đầu tiên về ĐTH được Cerda đưa ra vào năm 1860 khi tác giả nghiên cứu để mở rộng thành phố Barcelona, Tây Ban Nha. Cerda đã tổng kết lý thuyết chung về đô thị bao gồm 5 lĩnh vực: cơ sở công nghệ, hành chính, chính trị, luật pháp và kinh tế [dẫn theo 66]. Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, Ủy ban nghiên cứu khoa học xã hội thế giới (SSRC) đã tổng quan những nghiên cứu về đô thị.
Ngoài việc đưa ra những khái niệm về ĐTH, SSRC đã nhận định một cách toàn diện về cấu trúc, tiến trình và các giai đoạn của ĐTH theo cả thời gian và không gian. Trên cơ sở những lí luận đó, những khái niệm liên quan đến ĐTH đã ra đời trong thời kì này là: Quá độ đô thị, Đô thị hóa đảo ngược của Brian. Năm 1931 là thời điểm khởi sắc của những nghiên cứu về đô thị trên thế giới khi Đại hội địa lí quốc tế tại Paris đã đưa vấn đề phát triển chùm đô thị là một trong những nội dung nghiên cứu chính. Tiếp sau đó, các nghiên cứu về quần cư nông thôn, quần cư đô thị và sự phát triển các đô thị trên toàn thế giới đã được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau [86].
Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật (KHKT) của thế giới bắt đầu phát triển, Đại hội Địa lý quốc tế lần thứ XXIII tại Matxcova (năm 1976), đã có nghiên cứu về ĐTH dưới góc độ địa lý. Từ đây, các điều kiện tự nhiên (tài nguyên đất), điều kiện KT - XH (cấu trúc của hệ thống dân cư, sự phát triển nền kinh tế và tính liên tục của nông thôn và thành thị) được đặt trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các đô thị. Những lí luận đó đã dẫn đường cho một số nghiên cứu về không gian, cơ cấu kinh tế, sự phát triển cảnh quan đô thị ở những vùng ĐTM ở một số nước Tây Âu, Hoa Kì, Canada [99] và một số nước ở châu Phi, châu Á (trong đó có Việt Nam) [105]. Theo hướng nghiên cứu trên, một số lý thuyết hiện đại về ĐTH đã tiếp tục được đưa ra trong Urban Geography - a global perspective 3 như: ĐTH ngoại vi, ĐTH quá tải, ĐTH dựa vào nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mô hình phát triển các thành phố tiền công nghiệp (CN) và quy luật phát triển của các thành phố từ nhỏ đến lớn [103].
Dân cư, KT - XH và môi trường là những yếu tố then chốt trong các nghiên cứu về ĐTH ở nhiều quốc gia trên thế giới [108]. Sự tương tác giữa các yếu tố trên đã quyết định đến tính bền vững hay không bền vững của mỗi đô thị. Một trong những biểu hiện của ĐTH là số dân đô thị tăng nhanh, trong đó gia tăng cơ học đóng vai trò chính. Bloom đã dự đoán được xu hướng gia tăng dân số đô thị của thế giới và từ đó đưa ra một số mô hình ĐTH trên thế giới [93].
Micheal Timberlake và Alan Rabinowitz đã nhận định, CNH là nguyên nhân của dòng di cư từ nông thôn đến đô thị [110]. Những quốc gia đang ở trong giai đoạn đầu và giữa của CNH, các ngành CN chế biến sẽ phát triển mạnh trở thành nơi có lực hút dòng lao động từ các vùng nông thôn. Các thành phố như Thượng Hải, Bắc Kinh, New Deli, Bangkoc, Manila, thành phố Hồ Chí Minh (TP. Hồ Chí Minh) đang có sức rất hút mạnh với dân cư nông thôn [98,105].
Dòng di cư nông thôn - đô thị không chỉ làm thay đổi quy mô, cơ cấu dân số, lối sống dân cư mà còn làm tăng nhu cầu về đất đai trong các đô thị. Gia tăng cơ học do di cư không chỉ làm tăng số lượng lao động mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở các đô thị. Ở các nước phát triển như Hoa Kì, các nước Tây Âu, và một số nước châu Á (Nhật Bản, Singapore…) ĐTH đã đi vào giai đoạn ổn định nên không còn hiện tượng dịch cư theo chiều sâu. Nền kinh tế ở những quốc gia này đã đạt trình độ cao và phát triển đồng đều nên dân cư đã có xu hướng phân tán từ các đô thị lớn ra các đô thị nhỏ và các vùng ven đô [109].
Thời gian gần đây, ĐTH trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP, WB, ADB đã nghiên cứu ĐTH để làm sáng tỏ những mối liên kết giữa toàn cầu hóa và ĐTH. Các thành phố đang ngày càng trở thành động lực quan trọng cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các quốc gia và khu vực trên thế giới [91,110]. ĐTH không chỉ góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng khu vực II, khu vực III, giảm tỉ trọng khu vực I mà còn thúc đẩy kinh tế tăng trưởng kinh tế ở các đô thị. Ở Đông Nam Á, các đô thị phần lớn là các trung tâm CN và trung tâm kinh tế nên quá trình phát triển đô thị thường song song với quá trình phát triển kinh tế.
Đô thị còn là nơi chịu ảnh hưởng của toàn cầu hóa thông qua các hoạt động thương mại (TM) [105,107]. Nếu Jo Beall, Basudeb Guha và Ravi Kanbur coi kinh tế là động lực của đô thị hóa thì Nhiêu Hội Lâm coi các đô thị là trung tâm phát triển của mỗi 4 khu vực theo các cơ chế khác nhau. Vì vậy, trong Kinh tế học đô thị có những đặc điểm để nhận dạng khu kinh tế đô thị với hệ thống đô thị [46,91]. Mặt trái của ĐTH được David Drakakis nêu ra trong Third World Cities.
Ở những nước có ĐTH nhanh, nhất là những nước thuộc “thế giới thứ ba” đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội. Tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng [108]. Theo Michael Pacione, các siêu đô thị ở châu Phi, châu Mỹ Latinh và châu Á tập trung nhiều lao động chân tay, lao động có thu nhập thấp nên xã hội bất ổn, bạo lực gia tăng và có nguy cơ xảy ra chiến tranh đô thị [103].L Berry đưa ra cảnh báo chiến lược phát triển kinh tế không kiểm soát, tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng (CSHT) kém phát triển khiến sức chứa lãnh thổ ở nhiều đô thị quá tải. Hiện tượng ĐTH đảo ngược, ĐTH giả tạo đã xảy ra ở nhiều nước châu Á, châu Phi và Mỹ latinh khiến cho mặt trái của ĐTH ngày một thêm sâu sắc [92,108].
Sau một số nghiên cứu về thực tiễn ĐTH, các nhà địa lý người Mỹ là Kaplan, Wheeler, Holloway đã nhận thấy ĐTH cần phải song song với tái cấu trúc đô thị để khắc phục những tồn tại và chữa những căn bệnh do ĐTH mang lại [98]. Trong Ubanization - an introduction to urban geography, Paul L.