Luận án tiến sĩ về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh

Luận án tiến sĩ nghiên cứu đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh bắc ninh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải pháp khoa học cho vấn đề thực tiễn.

Chuyên ngành

Địa lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ
176
27
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢN ĐỒ

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam

1.2.1. Những nghiên cứu về đô thị hóa

1.2.2. Những nghiên cứu về sử dụng đất đô thị

1.2.3. Những nghiên cứu về mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị

1.2.4. Những nghiên cứu liên quan đến tỉnh Bắc Ninh

1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

1.4. Giới hạn nghiên cứu

1.4.1. Giới hạn về nội dung

1.4.2. Giới hạn về thời gian

1.4.3. Giới hạn về không gian

1.5. Quan điểm nghiên cứu

1.5.1. Quan điểm hệ thống

1.5.2. Quan điểm lãnh thổ

1.5.3. Quan điểm tổng hợp

1.5.4. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh

1.5.5. Quan điểm phát triển bền vững

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.6.1. Phương pháp thu thập và xử lí tài liệu

1.6.2. Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh

1.6.3. Phương pháp chuyên gia

1.6.4. Phương pháp điều tra xã hội học

1.6.5. Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin Địa lý (GIS)

1.7. Những đóng góp của luận án

1.8. Cấu trúc của luận án

2. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÔ THỊ HÓA

2.1. Khái niệm đô thị và đô thị hóa

2.2. Đặc điểm của đô thị hóa

2.3. Các giai đoạn đô thị hóa

2.4. Các lý thuyết phát triển đô thị

2.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến đô thị hóa

2.6. Một số tiêu chí đánh giá đô thị hóa

2.7. Sử dụng đất đô thị

2.7.1. Khái niệm đất, đất đô thị và sử dụng đất đô thị

2.7.2. Đặc điểm đất đô thị

2.7.3. Phân loại đất đô thị

2.7.4. Các lý thuyết trong sử dụng đất đô thị

2.7.5. Các mô hình sử dụng đất trong phát triển đô thị

2.7.6. Các tiêu chí đánh giá về sử dụng đất đô thị

2.8. Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị

2.8.1. Đô thị hóa với sử dụng đất đô thị

2.8.2. Sử dụng đất đô thị và phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực đang diễn ra đô thị hóa

2.9. Cơ sở thực tiễn

2.9.1. Ở các nước đang phát triển

2.9.2. Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở Việt Nam

2.10. Tiểu kết chương 1

3. ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở TỈNH BẮC NINH

3.1. Đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015

3.1.1. Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh

3.1.1.1. Lịch sử phát triển tỉnh Bắc Ninh
3.1.1.2. Vị trí địa lý
3.1.1.3. Các nhân tố kinh tế - xã hội
3.1.1.4. Điều kiện tự nhiên và Tài nguyên thiên nhiên

3.1.2. Hiện trạng đô thị hóa ở tỉnh Bắc Ninh

3.1.2.1. Chức năng đô thị
3.1.2.2. Kinh tế - xã hội đô thị
3.1.2.3. Cơ sở hạ tầng đô thị
3.1.2.4. Cấu trúc không gian đô thị

3.2. Sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005 - 2015

3.2.1. Khái quát chung về sử dụng đất

3.2.2. Biến động về diện tích và cơ cấu sử dụng đất

3.2.3. Biến động sử dụng đất theo không gian

3.2.4. Sử dụng đất đô thị

3.2.4.1. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất đô thị
3.2.4.2. Sử dụng đất đô thị theo không gian

3.3. Mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh

3.3.1. Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị

3.3.2. Đô thị hóa làm tăng diện tích và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất đô thị theo xu hướng công nghiệp hóa

3.3.3. Đô thị hóa làm thay đổi mục đích sử dụng đất đô thị

3.3.4. Sử dụng đất đô thị và phát triển kinh tế - xã hội ở những khu vực đang diễn ra đô thị hóa

3.3.4.1. Khái quát về hộ điều tra và tình hình thu hồi đất NN ở P. Đình Bảng và P.
3.3.4.2. Sử dụng đất đô thị (thu hồi đất NN) tác động đến phát triển KT - XH

3.4. Tiểu kết chương 2

3.5. Những thuận lợi và khó khăn trong ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh

3.5.1. Những kết quả đã đạt được và những tồn tại cần khắc phục

3.5.1.1. Những kết quả đạt được
3.5.1.2. Những tồn tại cần khắc phục

4. ĐỊNH HƯỚNG, ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐÔ THỊ HÓA VÀ SỬ DỤNG ĐẤT ĐÔ THỊ Ở TỈNH BẮC NINH ĐẾN NĂM 2030

4.1. Những căn cứ xây dựng định hướng đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh

4.1.1. Những thành tựu và thách thức trong đô thị hóa

4.1.2. Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị Việt Nam đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2050

4.1.3. Quy hoạch vùng Thủ đô Hà Nội

4.1.4. Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2050

4.2. Định hướng ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030

4.2.1. Định hướng phạm vi, chức năng đô thị

4.2.2. Định hướng phát triển kinh tế - xã hội đô thị

4.2.3. Định hướng sử dụng đất đô thị

4.2.4. Định hướng hạ tầng kỹ thuật và môi trường đô thị

4.2.5. Định hướng cấu trúc không gian đô thị

4.3. Một số giải pháp thực hiện đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh

4.3.1. Giải pháp về quy hoạch và quản lý đô thị

4.3.2. Đầu tư xây dựng, nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng đô thị

4.3.3. Nâng cao chất lượng nguồn lao động để thực hiện đô thị hóa

4.3.4. Thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn vốn đầu tư trong phát triển đô thị

4.3.5. Tạo mối liên kết các đô thị trong tỉnh và gắn kết các đô thị tỉnh Bắc Ninh với vùng Thủ đô Hà Nội

4.3.6. Đô thị hóa gắn liền với phát triển khu vực nông thôn

4.3.7. Giải pháp trong sử dụng đất

4.4. Tiểu kết chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị

Luận án tập trung nghiên cứu về mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015. Đô thị hóa được xác định là một xu hướng tất yếu của phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại các nước đang phát triển. Luận án đã trình bày tổng quan các nghiên cứu về đô thị hóa trên thế giới và ở Việt Nam, từ những khái niệm ban đầu của Cerda (1860) đến các lý thuyết hiện đại về đô thị hóa ngoại vi, đô thị hóa quá tải, và vai trò của vốn đầu tư. Tác giả cũng nhấn mạnh sự ảnh hưởng của đô thị hóa đến các yếu tố kinh tế - xã hội, dân cư - lao động và không gian đô thị. Đặc biệt, luận án chỉ ra rằng đất đai trong đô thị là thành phần biến đổi nhiều nhất khi đô thị phát triển và có tác động ngược lại đến quá trình đô thị hóa, đặc biệt ở những khu vực chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị.

1.2. Luận án cũng đề cập đến các nghiên cứu về sử dụng đất đô thị, bao gồm khái niệm, đặc điểm, phân loại đất đô thị, các lý thuyết và mô hình sử dụng đất trong phát triển đô thị. Việc phân tích các tiêu chí đánh giá sử dụng đất đô thị giúp làm rõ hơn mối quan hệ phức tạp giữa đô thị hóa và sử dụng đất. Luận án trích dẫn nhiều nghiên cứu quốc tế, nhấn mạnh vai trò của các tổ chức như UNESCO, UNDP, WB, ADB trong việc nghiên cứu mối liên hệ giữa toàn cầu hóa và đô thị hóa.

1.3. Một điểm quan trọng được nêu ra là sự gia tăng dân số đô thị, chủ yếu do di cư nông thôn - đô thị, dẫn đến nhu cầu đất đai tăng cao và thay đổi cơ cấu lao động. Luận án so sánh quá trình đô thị hóa ở các nước phát triển và đang phát triển, cho thấy sự khác biệt về xu hướng di cư và phân bố dân cư. Ở các nước phát triển, dân cư có xu hướng phân tán từ đô thị lớn ra đô thị nhỏ và vùng ven đô, trong khi ở các nước đang phát triển, các thành phố lớn vẫn là điểm đến hấp dẫn của dòng di cư.

II. Thực trạng đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại Bắc Ninh

Chương này tập trung phân tích thực trạng đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2015. Luận án chỉ ra những thuận lợi của Bắc Ninh như vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, giúp tỉnh đạt được thành tựu trong công nghiệp hóa và đô thị hóa. Tỷ lệ dân đô thị tăng, tỷ trọng lao động và kinh tế phi nông nghiệp cao lên, diện tích đất đô thị mở rộng và chuyển dịch cơ cấu sử dụng đất. Tuy nhiên, luận án cũng thẳng thắn nhìn nhận những tồn tại như tỷ lệ đô thị hóa còn thấp so với khu vực và cả nước, mức độ đô thị hóa chưa tương xứng với công nghiệp hóa, vấn đề môi trường, và tệ nạn xã hội.

2.2. Luận án phân tích chi tiết biến động về diện tích và cơ cấu sử dụng đất tại Bắc Ninh, bao gồm đất nông nghiệp và phi nông nghiệp. Sự thay đổi trong sử dụng đất đô thị được xem xét theo không gian và thời gian, làm rõ tác động của đô thị hóa đến việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất. Việc phân tích số liệu về diện tích và cơ cấu sử dụng đất đô thị ở các khu vực khác nhau trong tỉnh (TP. Bắc Ninh, TX. Từ Sơn) giúp hiểu rõ hơn về đặc điểm đô thị hóa ở từng địa phương.

2.3. Một phần quan trọng của chương này là nghiên cứu về tác động của thu hồi đất nông nghiệp đến phát triển kinh tế - xã hội tại các phường Đình Bảng và Đồng Nguyên. Luận án phân tích mức độ hài lòng của người dân về giá đền bù, mục đích sử dụng tiền đền bù, và sự thay đổi thu nhập, chất lượng cuộc sống sau khi thu hồi đất. Đây là một góc nhìn thực tế và sâu sắc về mặt trái của đô thị hóa, cung cấp cơ sở cho việc đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

III. Định hướng và giải pháp cho đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại Bắc Ninh

Dựa trên phân tích thực trạng và những tồn tại, luận án đề xuất định hướng và giải pháp cho đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại Bắc Ninh đến năm 2030. Định hướng được xây dựng dựa trên các quy hoạch phát triển đô thị quốc gia, vùng và tỉnh, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững. Luận án đề xuất định hướng về phạm vi, chức năng đô thị, phát triển kinh tế - xã hội, sử dụng đất, hạ tầng kỹ thuật, môi trường và cấu trúc không gian đô thị.

3.2. Các giải pháp được đề xuất bao gồm: quy hoạch và quản lý đô thị, đầu tư cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút vốn đầu tư, liên kết vùng, phát triển nông thôn, và quản lý sử dụng đất. Luận án nhấn mạnh việc đô thị hóa phải gắn liền với phát triển nông thôn, tạo sự cân bằng và hài hòa giữa đô thị và nông thôn. Việc đề xuất lộ trình nâng cấp đô thị cho thấy tính khả thi và tầm nhìn dài hạn của nghiên cứu.

3.3. Về giải pháp sử dụng đất, luận án đề xuất việc hoàn thiện cơ chế chính sách, tăng cường quản lý đất đai, sử dụng đất hiệu quả và tiết kiệm, kết hợp với bảo vệ môi trường. Việc đề xuất các giải pháp cụ thể cho từng vấn đề cho thấy sự nghiêm túc và trách nhiệm của tác giả trong việc đóng góp vào sự phát triển bền vững của tỉnh Bắc Ninh.

IV. Đánh giá chung

Luận án mang giá trị khoa học và thực tiễn cao khi phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa đô thị hóa và sử dụng đất tại Bắc Ninh. Việc sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu, kết hợp số liệu định lượng và định tính, giúp luận án đưa ra những kết luận khoa học và đáng tin cậy. Các định hướng và giải pháp được đề xuất có tính khả thi, phù hợp với thực tiễn của tỉnh Bắc Ninh, góp phần vào việc hoạch định chính sách phát triển đô thị bền vững. Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý, và các nhà nghiên cứu về đô thị hóa và sử dụng đất.

4.2. Điểm mạnh của luận án là phân tích chi tiết tác động của đô thị hóa đến chuyển đổi mục đích sử dụng đất, đặc biệt là việc thu hồi đất nông nghiệp và ảnh hưởng đến đời sống người dân. Luận án đã làm rõ được mối quan hệ phức tạp giữa đô thị hóa, sử dụng đất và phát triển kinh tế - xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp cân bằng và hài hòa giữa các yếu tố này. Việc kết hợp nghiên cứu lý thuyết với thực tiễn tại Bắc Ninh giúp luận án có tính ứng dụng cao.

4.3. Một hạn chế của luận án là phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong giai đoạn 2005-2015. Việc mở rộng phạm vi nghiên cứu đến giai đoạn hiện tại sẽ giúp cập nhật những biến động mới và đề xuất giải pháp phù hợp hơn. Ngoài ra, luận án có thể bổ sung thêm phân tích về tác động của đô thị hóa đến môi trường và biến đổi khí hậu, một vấn đề đang được quan tâm hiện nay.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Đô thị hóa (ĐTH) là một hiện tượng tất yếu của quá trình phát triển kinh tế xã hội (KT- XH) ở mỗi quốc gia. Hiện nay, ĐTH đang diễn ra với tốc độ nhanh ở nhiều quốc gia, đặc biệt là ở các nước đang phát triển. Dân số sống trong các đô thị và số lượng đô thị trên thế giới ngày một tăng lên.

Năm 2015, có 53,5% dân số thế giới (8,9 tỉ người) đang sống tại các đô thị. Thời điểm này, cả thế giới đã có 457 đô thị có trên 1 triệu dân [114]. Các đô thị thường là các trung tâm về chính trị, KT - XH của các quốc gia. Đô thị luôn có vai trò đầu tầu và thúc đẩy các khu vực khác trong quá trình phát triển KT - XH chung của mỗi quốc gia.

ĐTH không chỉ là một chỉ tiêu phản ánh tổng hợp sự phát triển KT - XH mà còn là một nhân tố ảnh hưởng đến một số “thành phần” KT - XH khác trong mỗi đô thị, đó là: dân cư - lao động đô thị, kinh tế đô thị và không gian đô thị. Mỗi “thành phần” trên đã biến đổi theo một quy luật riêng trong quá trình ĐTH. Sử dụng đất trong đô thị cũng không nằm ngoài quy luật đó. Đất đai trong đô thị được cho là thành phần có nhiều chuyển biến nhất khi đô thị phát triển.

Ngoài ra sự tác động từ sử dụng đất đến ĐTH theo chiều ngược lại đã ảnh hưởng sâu sắc đến những “thành phần” KT - XH trong một khu vực có phạm vi hẹp. Đó là mối quan hệ 2 chiều đã và đang diễn ra ở nhiều khu vực chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị. Ở nước ta, ĐTH bắt đầu từ sau Đổi mới nhưng đến tận đầu thế kỉ XXI quá trình trên mới thực sự khởi sắc. ĐTH đã diễn ra trên khắp cả nước nhưng phát triển mạnh ở những địa phương đang thực hiện công nghiệp hóa (CNH) hoặc những địa phương có nhiều điều kiện thuận lợi.

Tỉnh Bắc Ninh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (KTTĐBB), có nhiều thuận lợi về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, điều kiện KT - XH. Nhờ khai thác được những lợi thế sẵn có đó nên giai đoạn 2005 - 2015 tỉnh Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu ấn tượng trong CNH và ĐTH. Tỉ lệ dân đô thị đã tăng từ 13,5% (năm 2005) lên 28,6% (năm 2015). Tỉ trọng lao động và kinh tế phi nông nghiệp (NN) ngày càng cao trong cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế.

Đất đô thị tăng về diện tích và chuyển dịch trong cơ cấu sử dụng. Mạng lưới và cấu trúc không gian đô thị của tỉnh Bắc Ninh nhờ vậy cũng thay đổi cả về số lượng và chất lượng đô thị. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu trên vẫn còn một số vấn đề tồn tại đó là: tỉ lệ dân đô thị vẫn đang ở mức thấp hơn so với đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và cả nước, mức độ ĐTH chưa tương xứng với trình độ của CNH, môi trường và cảnh quan ở một số khu vực đô thị vẫn còn 2 mang tính chất nửa nông thôn nửa đô thị, tệ nạn xã hội ngày một phức tạp hơn, nhất là ở những khu vực mới chuyển đổi từ nông thôn sang đô thị. Vì vậy, với mong muốn hiểu sâu hơn về quá trình ĐTH, đặc biệt là mối quan hệ giữa ĐTH và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh, nghiên cứu sinh đã chọn đề tài: Đô thị hóa và sử dụng đất đô thị ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn 2005 - 2015 làm luận án Tiến sĩ chuyên ngành Địa lí học.

Tổng quan các vấn đề nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam 2. Những nghiên cứu về đô thị hóa Những khái niệm đầu tiên về ĐTH được Cerda đưa ra vào năm 1860 khi tác giả nghiên cứu để mở rộng thành phố Barcelona, Tây Ban Nha. Cerda đã tổng kết lý thuyết chung về đô thị bao gồm 5 lĩnh vực: cơ sở công nghệ, hành chính, chính trị, luật pháp và kinh tế [dẫn theo 66]. Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, Ủy ban nghiên cứu khoa học xã hội thế giới (SSRC) đã tổng quan những nghiên cứu về đô thị.

Ngoài việc đưa ra những khái niệm về ĐTH, SSRC đã nhận định một cách toàn diện về cấu trúc, tiến trình và các giai đoạn của ĐTH theo cả thời gian và không gian. Trên cơ sở những lí luận đó, những khái niệm liên quan đến ĐTH đã ra đời trong thời kì này là: Quá độ đô thị, Đô thị hóa đảo ngược của Brian. Năm 1931 là thời điểm khởi sắc của những nghiên cứu về đô thị trên thế giới khi Đại hội địa lí quốc tế tại Paris đã đưa vấn đề phát triển chùm đô thị là một trong những nội dung nghiên cứu chính. Tiếp sau đó, các nghiên cứu về quần cư nông thôn, quần cư đô thị và sự phát triển các đô thị trên toàn thế giới đã được nghiên cứu theo nhiều khía cạnh khác nhau [86].

Trong bối cảnh khoa học kỹ thuật (KHKT) của thế giới bắt đầu phát triển, Đại hội Địa lý quốc tế lần thứ XXIII tại Matxcova (năm 1976), đã có nghiên cứu về ĐTH dưới góc độ địa lý. Từ đây, các điều kiện tự nhiên (tài nguyên đất), điều kiện KT - XH (cấu trúc của hệ thống dân cư, sự phát triển nền kinh tế và tính liên tục của nông thôn và thành thị) được đặt trong mối quan hệ mật thiết với sự phát triển của các đô thị. Những lí luận đó đã dẫn đường cho một số nghiên cứu về không gian, cơ cấu kinh tế, sự phát triển cảnh quan đô thị ở những vùng ĐTM ở một số nước Tây Âu, Hoa Kì, Canada [99] và một số nước ở châu Phi, châu Á (trong đó có Việt Nam) [105]. Theo hướng nghiên cứu trên, một số lý thuyết hiện đại về ĐTH đã tiếp tục được đưa ra trong Urban Geography - a global perspective 3 như: ĐTH ngoại vi, ĐTH quá tải, ĐTH dựa vào nguồn vốn đầu tư bên ngoài, mô hình phát triển các thành phố tiền công nghiệp (CN) và quy luật phát triển của các thành phố từ nhỏ đến lớn [103].

Dân cư, KT - XH và môi trường là những yếu tố then chốt trong các nghiên cứu về ĐTH ở nhiều quốc gia trên thế giới [108]. Sự tương tác giữa các yếu tố trên đã quyết định đến tính bền vững hay không bền vững của mỗi đô thị. Một trong những biểu hiện của ĐTH là số dân đô thị tăng nhanh, trong đó gia tăng cơ học đóng vai trò chính. Bloom đã dự đoán được xu hướng gia tăng dân số đô thị của thế giới và từ đó đưa ra một số mô hình ĐTH trên thế giới [93].

Micheal Timberlake và Alan Rabinowitz đã nhận định, CNH là nguyên nhân của dòng di cư từ nông thôn đến đô thị [110]. Những quốc gia đang ở trong giai đoạn đầu và giữa của CNH, các ngành CN chế biến sẽ phát triển mạnh trở thành nơi có lực hút dòng lao động từ các vùng nông thôn. Các thành phố như Thượng Hải, Bắc Kinh, New Deli, Bangkoc, Manila, thành phố Hồ Chí Minh (TP. Hồ Chí Minh) đang có sức rất hút mạnh với dân cư nông thôn [98,105].

Dòng di cư nông thôn - đô thị không chỉ làm thay đổi quy mô, cơ cấu dân số, lối sống dân cư mà còn làm tăng nhu cầu về đất đai trong các đô thị. Gia tăng cơ học do di cư không chỉ làm tăng số lượng lao động mà còn thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động ở các đô thị. Ở các nước phát triển như Hoa Kì, các nước Tây Âu, và một số nước châu Á (Nhật Bản, Singapore…) ĐTH đã đi vào giai đoạn ổn định nên không còn hiện tượng dịch cư theo chiều sâu. Nền kinh tế ở những quốc gia này đã đạt trình độ cao và phát triển đồng đều nên dân cư đã có xu hướng phân tán từ các đô thị lớn ra các đô thị nhỏ và các vùng ven đô [109].

Thời gian gần đây, ĐTH trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu, nhiều tổ chức quốc tế như UNESCO, UNDP, WB, ADB đã nghiên cứu ĐTH để làm sáng tỏ những mối liên kết giữa toàn cầu hóa và ĐTH. Các thành phố đang ngày càng trở thành động lực quan trọng cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế ở các quốc gia và khu vực trên thế giới [91,110]. ĐTH không chỉ góp phần làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỉ trọng khu vực II, khu vực III, giảm tỉ trọng khu vực I mà còn thúc đẩy kinh tế tăng trưởng kinh tế ở các đô thị. Ở Đông Nam Á, các đô thị phần lớn là các trung tâm CN và trung tâm kinh tế nên quá trình phát triển đô thị thường song song với quá trình phát triển kinh tế.

Đô thị còn là nơi chịu ảnh hưởng của toàn cầu hóa thông qua các hoạt động thương mại (TM) [105,107]. Nếu Jo Beall, Basudeb Guha và Ravi Kanbur coi kinh tế là động lực của đô thị hóa thì Nhiêu Hội Lâm coi các đô thị là trung tâm phát triển của mỗi 4 khu vực theo các cơ chế khác nhau. Vì vậy, trong Kinh tế học đô thị có những đặc điểm để nhận dạng khu kinh tế đô thị với hệ thống đô thị [46,91]. Mặt trái của ĐTH được David Drakakis nêu ra trong Third World Cities.

Ở những nước có ĐTH nhanh, nhất là những nước thuộc “thế giới thứ ba” đang phải đối mặt với nhiều vấn đề xã hội. Tình trạng thất nghiệp, thiếu nhà ở, thiếu nước sạch, ô nhiễm môi trường, chênh lệch giàu nghèo, tệ nạn xã hội ngày càng gia tăng [108]. Theo Michael Pacione, các siêu đô thị ở châu Phi, châu Mỹ Latinh và châu Á tập trung nhiều lao động chân tay, lao động có thu nhập thấp nên xã hội bất ổn, bạo lực gia tăng và có nguy cơ xảy ra chiến tranh đô thị [103].L Berry đưa ra cảnh báo chiến lược phát triển kinh tế không kiểm soát, tốc độ tăng dân số nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế, cơ sở hạ tầng (CSHT) kém phát triển khiến sức chứa lãnh thổ ở nhiều đô thị quá tải. Hiện tượng ĐTH đảo ngược, ĐTH giả tạo đã xảy ra ở nhiều nước châu Á, châu Phi và Mỹ latinh khiến cho mặt trái của ĐTH ngày một thêm sâu sắc [92,108].

Sau một số nghiên cứu về thực tiễn ĐTH, các nhà địa lý người Mỹ là Kaplan, Wheeler, Holloway đã nhận thấy ĐTH cần phải song song với tái cấu trúc đô thị để khắc phục những tồn tại và chữa những căn bệnh do ĐTH mang lại [98]. Trong Ubanization - an introduction to urban geography, Paul L.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ "Luận án tiến sĩ về đô thị hóa và sử dụng đất đô thị tại tỉnh Bắc Ninh" của tác giả Ngô Thị Hải Yến, dưới sự hướng dẫn của các giáo sư nổi tiếng như GS. Đỗ Thị Minh Đức và GS. Nguyễn Viết Thịnh, tập trung vào việc phân tích quá trình đô thị hóa và những tác động của nó đến việc sử dụng đất tại Bắc Ninh. Bài nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về sự phát triển đô thị mà còn đưa ra các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất, từ đó giúp nâng cao chất lượng sống cho cư dân. Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích về cách thức quản lý đô thị hiệu quả, cũng như các thách thức mà tỉnh Bắc Ninh đang đối mặt trong bối cảnh đô thị hóa nhanh chóng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến đô thị hóa và phát triển kinh tế xã hội, bạn có thể tham khảo bài viết Bài tiểu luận đề tài ảnh hưởng của quá trình đô thị hoá đến sự phát triển kinh tế xã hội tại các nước đang phát triển. Bài viết này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa đô thị hóa và sự phát triển kinh tế ở các quốc gia đang phát triển.

Ngoài ra, bạn cũng có thể tìm đọc Nghiên cứu tác động của đô thị hóa đến quản lý đất và đời sống việc làm tại thành phố Vinh, Nghệ An. Bài nghiên cứu này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tác động của đô thị hóa đến quản lý đất đai và đời sống người dân tại một thành phố khác, từ đó bạn có thể so sánh và đối chiếu với tình hình tại Bắc Ninh.

Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng của các yếu tố đến phát triển quỹ đất và cơ sở hạ tầng đô thị tại Pleiku, Gia Lai cũng là một nguồn tài liệu quý giá, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc phát triển quỹ đất và hạ tầng đô thị trong bối cảnh đô thị hóa.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn cung cấp nhiều góc nhìn khác nhau về đô thị hóa và quản lý đất đai, rất hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này.