Luận án nghiên cứu cảnh quan nông lâm nghiệp biên giới Kon Tum - ĐHSPHN

Dưới đây là meta tags cho bài viết "Luận án tiến sĩ nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp hai huyện biên giới Việt - Lào": {

Chuyên ngành

Địa lí tự nhiên

Tác giả

Phan Hoàng Linh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2019

204
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận án nghiên cứu cảnh quan nông lâm nghiệp biên giới

Luận án tiến sĩ của Phan Hoàng Linh nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp tại hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum. Đề tài tập trung phân tích các yếu tố địa lý tự nhiên, kinh tế - xã hội và sinh thái nhằm đề xuất giải pháp phát triển bền vững ngành nông nghiệp và lâm nghiệp. Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận địa lý tổng hợp, kết hợp khảo sát thực địa và phân tích dữ liệu đa nguồn. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển nông lâm nghiệp tại khu vực biên giới, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái và đảm bảo an ninh lương thực. Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh biến đổi khí hậu và hội nhập kinh tế quốc tế.

1.1. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

Mục tiêu chính của luận án là đánh giá hiện trạng cảnh quan nông lâm nghiệp hai huyện Đắk Glei và Ngọc Hồi, xác định tiềm năng và hạn chế trong phát triển nông nghiệp. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các yếu tố địa mạo, khí hậu, thổ nhưỡng, thảm thực vật và hệ thống canh tác. Tác giả tiến hành khảo sát thực địa tại 12 điểm đại diện, thu thập dữ liệu từ năm 2016 đến 2018. Kết quả khảo sát cho thấy diện tích đất nông nghiệp chiếm 35% diện tích tự nhiên, trong đó đất lâm nghiệp chiếm 60%. Nghiên cứu tập trung vào các loại cây trồng chủ lực như cà phê, hồ tiêu, cao su và các loài cây lâm nghiệp bản địa.

1.2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu dựa trên lý thuyết địa lý cảnh quan, sinh thái học và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Phương pháp chính bao gồm phân tích không gian bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS), thống kê chuyên ngành và đánh giá đa tiêu chí. Tác giả sử dụng phần mềm ArcGIS 10.3 để xây dựng bản đồ hiện trạng cảnh quan. Dữ liệu đầu vào bao gồm bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000, ảnh vệ tinh Landsat 8 và số liệu thống kê từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Kon Tum.

II. Phân tích đặc điểm cảnh quan và tiềm năng phát triển nông lâm nghiệp

Hai huyện biên giới Đắk Glei và Ngọc Hồi sở hữu cảnh quan đa dạng với hệ thống núi cao, thung lũng và sông suối. Địa hình chia thành ba vùng chính: vùng núi cao trên 800m, vùng đồi thấp 500-800m và vùng thung lũng dưới 500m. Khí hậu mang đặc trưng nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa trung bình năm đạt 2.000-2.500mm, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Đất feralit chiếm 70% diện tích tự nhiên, thích hợp trồng các loại cây công nghiệp dài ngày. Hệ thống sông suối dày đặc cung cấp nguồn nước tưới tiêu quan trọng cho sản xuất nông nghiệp.

2.1. Đánh giá tài nguyên đất và nước

Tài nguyên đất tại khu vực nghiên cứu chủ yếu là đất feralit nâu đỏ, có độ phì nhiêu trung bình đến khá, thích hợp cho trồng cây công nghiệp. Đất bazan chiếm 25% diện tích, phân bố chủ yếu ở vùng thấp, có khả năng thâm canh cao. Nguồn nước dồi dào từ hệ thống sông Pô Kô, Ia Rơm và các suối nhỏ, đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho 85% diện tích canh tác. Tuy nhiên, tình trạng xói mòn đất do mưa lớn và khai thác rừng bừa bãi đang trở thành vấn đề cấp bách cần giải quyết.

2.2. Hiện trạng thảm thực vật và đa dạng sinh học

Hệ thực vật khu vực nghiên cứu thuộc kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới. Độ che phủ rừng đạt 55%, trong đó rừng tự nhiên chiếm 70%. Các loài cây gỗ quý hiếm như lim xanh, sến mật, gõ đỏ phân bố chủ yếu ở độ cao trên 600m. Động vật hoang dã đa dạng với 120 loài chim, 40 loài thú và nhiều loài bò sát. Việc khai thác gỗ trái phép và săn bắt động vật hoang dã đã làm suy giảm đa dạng sinh học, đe dọa cân bằng sinh thái khu vực.

III. Giải pháp phát triển nông lâm nghiệp dựa trên nghiên cứu cảnh quan

Để phát triển nông lâm nghiệp bền vững tại hai huyện biên giới, luận án đề xuất ba nhóm giải pháp chính: quản lý tài nguyên đất, bảo vệ và phát triển rừng, cũng như chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Giải pháp đầu tiên tập trung vào cải tạo đất bằng biện pháp nông lâm kết hợp, trồng cây họ đậu cải tạo đất và áp dụng kỹ thuật canh tác bền vững. Giải pháp thứ hai nhấn mạnh việc mở rộng diện tích rừng trồng gỗ lớn, kết hợp bảo vệ rừng tự nhiên và phát triển du lịch sinh thái. Giải pháp cuối cùng đề xuất chuyển đổi từ sản xuất nông nghiệp đơn thuần sang mô hình nông lâm kết hợp, kết hợp trồng cây công nghiệp với chăn nuôi gia súc.

3.1. Giải pháp quản lý tài nguyên đất

Áp dụng hệ thống canh tác nông lâm kết hợp trên diện tích 5.000ha, kết hợp trồng cây công nghiệp dài ngày như cà phê, cao su với cây ngắn ngày như ngô, đậu tương. Triển khai chương trình bón phân hữu cơ từ phụ phẩm nông nghiệp để cải tạo đất feralit. Xây dựng hệ thống thủy lợi nhỏ tại các thung lũng để chống hạn vào mùa khô. Tổ chức đào tạo nông dân về kỹ thuật canh tác bền vững, sử dụng giống cây trồng thích nghi với điều kiện địa phương.

3.2. Chiến lược bảo vệ và phát triển rừng

Thành lập 3 khu bảo tồn thiên nhiên diện tích 10.000ha tại vùng núi cao, tập trung bảo vệ các loài cây gỗ quý hiếm. Triển khai dự án trồng rừng gỗ lớn trên 2.000ha, ưu tiên các loài bản địa có giá trị kinh tế như lim xanh, sến mật. Phát triển du lịch sinh thái dựa trên tài nguyên rừng, xây dựng các tuyến đường mòn xuyên rừng kết hợp giáo dục môi trường. Áp dụng chính sách giao rừng cho cộng đồng dân cư địa phương để nâng cao trách nhiệm bảo vệ rừng.

IV. Kết luận và khuyến nghị định hướng phát triển nông lâm nghiệp

Nghiên cứu đã xác định được các tiềm năng và hạn chế trong phát triển nông lâm nghiệp tại hai huyện biên giới Đắk Glei và Ngọc Hồi. Kết quả cho thấy cảnh quan khu vực có lợi thế phát triển nông nghiệp công nghệ cao kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học. Luận án đề xuất mô hình phát triển nông lâm nghiệp bền vững dựa trên nguyên tắc thích ứng với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Các khuyến nghị chính bao gồm đầu tư cơ sở hạ tầng, đào tạo nguồn nhân lực và xây dựng chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp sẽ góp phần nâng cao thu nhập cho người dân, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đảm bảo an ninh lương thực quốc gia.

4.1. Kết luận nghiên cứu

Nghiên cứu đã xây dựng thành công hệ thống cơ sở dữ liệu cảnh quan nông lâm nghiệp hai huyện biên giới. Kết quả cho thấy tiềm năng phát triển nông nghiệp công nghệ cao kết hợp bảo tồn đa dạng sinh học là rất lớn. Các yếu tố thuận lợi bao gồm đất đai màu mỡ, khí hậu thuận lợi và nguồn nước dồi dào. Tuy nhiên, thách thức chính là tình trạng suy thoái đất, suy giảm rừng và biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng.

4.2. Khuyến nghị chính sách

Cần ban hành chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ, ưu tiên các sản phẩm đặc sản địa phương như cà phê, hồ tiêu. Đầu tư nâng cấp hệ thống thủy lợi, xây dựng nhà máy chế biến nông lâm sản tại chỗ. Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là với Lào trong quản lý lưu vực sông Pô Kô. Xây dựng chương trình đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về nông nghiệp công nghệ cao cho khu vực biên giới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/05/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu cảnh quan phục vụ định hướng phát triển nông lâm nghiệp hai huyện biên giới việt lào

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CẢNH QUAN PHỤC VỤ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NÔNG LÂM NGHIỆP 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Các công trình nghiên cứu, đánh giá cảnh quan 1. Nghiên cứu lý thuyết về cảnh quan Trên thế giới, từ khi ra đời cho đến nay khoa học cảnh quan (CQ) đã có những bước phát triển mạnh mẽ, có rất nhiều công trình của các tác giả thuộc nhiều trường phái khác nhau.

Đó là những công trình của các nhà cảnh quan học Nga và một số nước thuộc Liên Xô trước đây, tiếp sau là các tác giả theo trường phái cảnh quan của các nước Phương Tây và Bắc Mỹ. Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Nga, CQ được xem xét là một nội dung của địa lý tự nhiên. Khái niệm CQ được xem xét ở cả ba khía cạnh: i) CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên, có nội dung xác định và chỉ tiêu rõ ràng, thể hiện mối quan hệ tương hỗ của các hợp phần tự nhiên trong một lãnh thổ nhất định, được đề cập trong công trình của L. ii) CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là sự thống nhất biện chứng của các hợp phần tự nhiên, như một tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên tương đối đồng nhất, được xem xét không phụ thuộc vào phạm vi phân bố và có sự lặp lại trong không gian, được thể hiện trong các công trình của B.Polưnov, Markov, Perelman, N.Gvozdexki… iii) CQ là một khái niệm chung có thể dùng cho mọi đơn vị phân loại và phân vùng ở bất kỳ lãnh thổ nào, thể hiện trong nghiên cứu của F.

Trong đó, quan điểm cá thể và kiểu loại trong nghiên cứu cảnh quan (NCCQ) đã có những ảnh hưởng lớn đến NCCQ ở Việt Nam. 7 Trong những công trình của các nhà cảnh quan học Phương Tây và Bắc Mỹ, CQ cũng được xem xét nhiều góc độ khác nhau: i) CQ là khái niệm chung, cảnh quan là tổng hợp thể bao gồm tổ hợp giữa đường nét sơn văn của địa hình, lớp phủ mặt đất tạo nên “phong cảnh” và những giá trị tinh thần mà con người cảm nhận được, những giá trị chức năng của cảnh quan [44]. ii) CQ được coi như một hệ thống “sinh thái - xã hội” phức tạp, đòi hỏi có sự tiếp cận liên ngành và đa tỷ lệ. Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của Tress Bärbel, Tress Gunther (2001), Wu (2006), Naveh (2007), Wu và Hobbs (2007), Bloemers (2010), Axelsson (2011, 2013), Angelstam (2013)… đều cho rằng tiếp cận liên ngành và phương pháp tích hợp trong NCCQ là hết sức cần thiết, vì nó mang lại những lợi ích to lớn trong việc phát triển bền vững hệ thống “sinh thái - xã hội”, cho phép đưa ra các giải pháp hữu hiệu trong quản lý và sử dụng CQ [26], [47], [46], [45], [50], [67], [72].

Ở Việt Nam, tiếp thu những thành tựu NCCQ của thế giới từ những năm 60 của thế kỷ XX, đến nay nghiên cứu lý thuyết về CQ đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật với các quan niệm chủ yếu về CQ như sau: i) CQ là tổng hợp thể tự nhiên. Quan niệm này được phản ánh trong các công trình nghiên cứu của Vũ Tự Lập, 1976) [23], Nguy n Cao Huần, 1992 [14], Phạm Hoàng Hải, 1997 [8]… ii) CQ là cá thể địa lý. Quan niệm này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu cảnh quan địa lý miền Bắc của Vũ Tự Lập (1976) [23], "sau này các nhà cảnh quan học Việt Nam cũng đã "cá thể hóa" các vùng cảnh quan cho lãnh thổ Việt Nam (Phạm Hoàng Hải và nnk, 1997), miền Nam Việt Nam (Trương Quang Hải, 1991), lãnh thổ Thuận Hải (Bình Thuận và Ninh Thuận) (Nguy n Cao Huần, 1992)" [14]. iii) Cảnh quan là đơn vị kiểu loại.

Ở Việt Nam, có rất nhiều nghiên cứu cảnh quan theo quan niệm này và tiến hành xây dựng hệ thống phân loại, chỉ tiêu cho các cấp phân loại trên lãnh thổ cả nước hoặc các vùng lãnh thổ khác nhau, tiêu biểu là các công trình của Phạm Quang Anh và nnk (1985) [1], Trương Quang Hải (1991) [61], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần 1992 [14], Nguy n Ngọc Khánh (1992) [22], Phạm Quang Anh (1996) [2], Phạm Quang Tuấn (2003) [30], Nguy n An Thịnh (2007) [35], Đỗ Văn Thanh (2011) [34]… 8 Có thể nhận thấy: Có những quan niệm khác nhau về cảnh quan trong hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, tuy nhiên hầu hết các quan niệm về cảnh quan đều coi cảnh quan là một tổng hợp thể tự nhiên, là một địa hệ thống ở các cấp khác nhau, vừa mang tính cá thể, vừa mang tính kiểu loại. Trong luận án, tác giả đã kế thừa có chọn lọc và vận dụng các quan niệm về CQ khi nghiên cứu CQ áp dụng cho hai huyện biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Kon Tum. Cụ thể, luận án sử dụng quan niệm CQ là đơn vị mang tính kiểu loại khi thành lập bản đồ cảnh quan hai huyện Đắc Glei và Ngọc Hồi tỉnh Kon Tum. Nghiên cứu cảnh quan ứng dụng Để đáp ứng nhu cầu của thực ti n sản xuất, khoa học cảnh quan được ứng dụng ngày càng nhiều trong nhiều lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực nông lâm nghiệp, khai thác sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Trên thế giới, các NCCQ ứng dụng thể hiện ở nhiều khía cạnh và thống nhất kết quả của NCCQ chính là cơ sở tin cậy để đưa ra các chính sách phát triển phù hợp cho các lãnh thổ: i) Hướng NCCQ đánh giá tổng hợp các yếu tố cho mục đích phát triển kinh tế ở các lãnh thổ cụ thể, hiện trong các công trình của Bastian (2000) [48], Brown và nnk (2011) [50], Frondoni và nnk (2011) [57], Levin (2007) [64], Veerle Van Eetvelde, Antrop M. (2004) [74]… ii) Hướng NCCQ cho việc sử dụng hợp lý các lưu vực sông, thể hiện trong các công trình của Fujihara M. và nnk (2011) [65]… iv) Hướng NCCQ gắn với quy hoạch không gian và bảo vệ môi trường, thể hiện trong các công trình của Bastian Olaf (2000) [48], Schmid A. (2001) [68], René Tissen - Frank Lekanne Deprez (2008) [72], Carolin Gallera và nnk (2016) [51]… v) Hướng NCCQ ứng dụng tạo cơ sở khoa học cho công tác thiết kế cảnh quan văn hóa.

Tiêu biểu nhất cho hướng nghiên cứu này là các công trình Cảnh quan học ứng 9 dụng của Ixatsenko A. Công trình này đã nêu lên các phương hướng và phương pháp NCCQ ứng dụng trong tổ chức cảnh quan văn hóa; đồng thời chỉ ra những vấn đề phức tạp liên quan đến việc sử dụng hợp lí, bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên của xã hội loài người. vi) Hướng NCCQ liên vùng, liên quốc gia được thể hiện trong các công trình của Bloemers (2010), Potschin (2012), Angelstam (2013) [47], [46]… vii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh. Đây là hướng nghiên cứu nhằm duy trì an ninh năng lượng và lương thực, đảm bảo các mục tiêu môi trường trong khi vẫn duy trì tính bền vững trong quy hoạch sử dụng đất.

Tiêu biểu là các công trình của Chunlong Shi và nnk (2011) [53], Yanming Zhang và nnk (2011) [77], David Pimentel và nnk (2012) [55], Erickson và nnk (2013) [54], Kaixian Wu và Bozhi Wu (2014) [63], Niemmanee và nnk (2015) [71], Semporea và nnk (2015) [69], Chiara Vallebona và nnk (2016) [52]. Ở Việt Nam, nhiều công trình đã gắn kết nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng CQ trong sử dụng hợp lý TNTN và BVMT: i) Hướng NCCQ ứng dụng chú trọng vào phân tích cấu trúc CQ cho sử dụng hợp lý TNTN và BVMT. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này có công trình của Phạm Quang Anh (1996) [2], Trương Quang Hải và nnk (2008) [10], [11], Phạm Hoàng Hải và nnk (1997) [8], Nguy n Cao Huần (2005) [17]… ii) Hướng NCCQ, ĐGCQ định hướng phát triển nông lâm nghiệp ở các lãnh thổ. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: "Nguy n An Thịnh (2007), đã hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc Sinh thái cảnh quan phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp và du lịch huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai”.

Bùi Thị Mai (2010), hoàn thành luận án “Nghiên cứu điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên phục vụ sử dụng hợp lí lãnh thổ lưu vực sông Ba”. Trương Quang Hải (2010), có nghiên cứu “Đánh giá cảnh quan cho mục đích phát triển nông lâm nghiệp và du lịch tại khu vực có núi đá vôi tỉnh Ninh Bình”. Đỗ Văn Thanh (2011), hoàn thành luận án “Đánh giá tổng hợp môi trường sinh thái phục vụ quy hoạch sử dụng đất theo hướng phát triển bền vững tỉnh Bắc Giang”. Trương Thị Tư (2011), hoàn thành luận án “Nghiên cứu cảnh quan phục vụ sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Bình”.

Trần Anh Tuấn (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu xác lập cơ sở địa lí phục vụ phát triển kinh tế và sử 10 dụng hợp lí tài nguyên huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”. Dương Thị Nguyên Hà (2013), hoàn thành luận án “Nghiên cứu đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Ngãi”. Nguy n Minh Nguyệt (2014), hoàn thành luận án “Cơ sở cảnh quan học cho việc sử dụng hợp lí tài nguyên và bảo vệ môi trường trong phát triển nông lâm nghiệp tỉnh Hà Tĩnh”. Nguy n Ánh Hoàng (2016), hoàn thành luận án “Phân tích cấu trúc, chức năng cảnh quan phục vụ mục đích tổ chức lãnh thổ sản xuất nông, lâm nghiệp và du lịch tỉnh Yên Bái”" [29].

iii) Hướng NCCQ liên quan đến vùng chuyên canh. Đây là hướng nghiên cứu được quan tâm trong những năm gần đây. Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học để phát triển sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phục vụ tái cơ cấu nông nghiệp, nhằm sử dụng hiệu quả các lợi thế của từng địa phương. Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là những công trình của các tác giả: Nguy n Cao Huần và nnk (2000, 2004), nghiên cứu “Tiếp cận kinh tế sinh thái trong đánh giá, quy hoạch cảnh quan cây công nghiệp dài ngày” và “Tích hợp ALES - GIS trong đánh giá cảnh quan phục vụ phát triển cây trồng nông, lâm nghiệp huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai” [16].

Phạm Quang Tuấn (2006), nghiên cứu “Đánh giá kinh tế sinh thái cảnh quan đối với các loại hình sử dụng đất trồng cây ăn quả huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn” [30], [31].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ