MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Hiện nay, biến đổi khí hậu đang là mối đe dọa đến mục tiêu phát triển bền vững của các quốc gia. Hạn hán đã gây ra những ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp; đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp luôn là một trong những vấn đề quan trọng và cần thiết nhằm phục vụ tốt hơn cho công tác dự báo của các ban ngành, phòng chống và thích ứng của người dân được tốt hơn. Phù Cát là huyện thuộc tỉnh Bình Định với tổng diện tích tự nhiên 68.
Trong đó, diện tích một số cây trồng cạn chủ yếu vụ hè thu: cây ngô đạt 3.241 ha, giảm 5,1%; cây đậu tương đạt 32,2 ha, giảm 26,5%; cây vừng đạt 2.073 ha, giảm 3,6%; rau các loại đạt 4.498 ha, giảm 1,6%; cây đậu các loại đạt 778 ha, giảm 4,6% so với cùng kỳ 2017. Do dung tích các hồ chứa nước cũng như các hồ thuỷ lợi ở các địa phương mực nước tại các hồ chứa xuống thấp kết hợp với thời tiết khô nóng đã gây hạn hán, thiếu nước tưới cho một số diện tích lúa trên địa bàn huyện. Diện tích lúa thiếu nước tưới tập trung ở các xã: Cát Tân, Cát Trinh, Cát Tường, Cát Nhơn, Cát Hiệp, Cát Sơn. cho thấy toàn huyện đang phải đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức cả thời điểm hiện tại và tương lai về mặt lâu dài.
Trong những năm qua, hạn hán không chỉ tác động đến tự nhiên, mà còn ảnh hưởng đến đời sống xã hội của người dân, trong đó tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định”. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá tình hình hạn hán và ảnh hưởng của hạn hán đến đất trồng lúa tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định; - Đề xuất các giải pháp hạn chế với điều kiện hạn hán gây ra như e 2 hiện nay, tăng khả năng thích ứng hạn cho người dân trong sản xuất nông nghiệp. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng nghiên cứu - Ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp 3. Phạm vi nghiên cứu - Không gian: Huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định - Thời gian: Giai đoạn 2010 - 2018 4. Nội dung nghiên cứu - Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sử dụng đất huyện Phù Cát; - Tình hình hạn hán trên địa bàn huyện Phù Cát giai đoạn 2010 - 2018; - Đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp huyện Phù Cát; - Đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cát. Phƣơng pháp nghiên cứu 5.
Phương pháp thu thập số liệu a) Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp Thu thập số liệu thứ cấp căn cứ vào tài liệu điều tra thống kê tổng hợp đã được lưu hành có hiệu lực của các cơ quan, ban ngành: các số liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Phù Cát; các số liệu về khí tượng (nhiệt độ, lượng mưa) trung bình tháng qua các năm; tình hình hạn hán, các số liệu về hoạt động sản xuất nông nghiệp giai đoạn 2010 - 2018; số liệu về công tác thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp. b) Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp Để thực hiện đề tài này thì việc khảo sát thực địa là công việc rất e 3 quan trọng, nhằm xác định khu vực nghiên cứu; quan sát; chụp ảnh; ghi chép; khoanh vùng hạn hán để thấy được mức độ và tác động của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cát. Phỏng vấn nông hộ dựa trên mẫu phiếu điều tra đã được xây dựng. Số lượng phiếu điều tra: 100 phiếu.
Nội dung phỏng vấn liên quan đến tình hình sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp 5. Phương pháp thu thập dữ liệu a) Dữ liệu mưa - Dữ liệu mưa được thu thập tại trạm Phù Cát. - Dạng dữ liệu trung bình theo tháng và trung bình năm. - Thời gian thu thập: Trạm Phù Cát từ năm 2010 - 2018 b) Dữ liệu nhiệt độ - Dữ liệu nhiệt độ được thu thập tại trạm Phù Cát.
- Dạng dữ liệu trung bình theo tháng và trung bình năm. - Thời gian thu thập: Trạm Phù Cát từ năm 2010 – 2018 5. Phương pháp viễn thám Sử dụng dữ liệu ảnh vệ tinh MODIS đa thời gian từ năm 2000 – 2014, tại trang web của NASA EOSDIS (NASA’s Earth Aeronautics and Space Admisnistration). Phương pháp bản đồ và hệ thống thông tin địa lí Là phương pháp đặc trưng nhất của địa lí, trong quá trình thực hiện đề tài tác giả luận văn đã sử dụng ảnh vệ tinh MODIS, tính toán, xử lí số liệu, phân tích mối tương quan giữa các chỉ số để xây dựng bản đồ hạn hán phục vụ cho việc đánh giá, nhằm tăng tính trực quan.
Phương pháp tham vấn chuyên gia Tiến hành tham vấn chuyên gia bằng nhiều hình thức như trao đổi, trò e 4 chuyện, nhận xét phản biện đề tài. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6. Ý nghĩa khoa học Đề tài đã chứng minh được cách tiếp cận công nghệ viễn thám và việc tính toán các chỉ số khô hạn dựa trên các mức độ phân ngưỡng đã quy định, xây dựng được bản đồ phân vùng hạn hán để đánh giá ảnh hưởng của hạn hán đến sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện Phù Cát. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả đề tài sẽ góp phần hoàn thiện phương pháp đánh giá, xác định phân vùng hạn hán, giúp ban ngành địa phương có cách nhìn tổng quan hơn về tình hình hạn hán hiện nay trên địa bàn huyện; có những biện pháp thực tế, hiệu quả; định hướng cho bà con trong hoạt động sản xuất nông nghiệp để thích nghi với diễn biến phức tạp của hạn hán như hiện nay.
Ngoài ra, luận văn còn được sử dụng nhiều tài liệu tham khảo hữu ích liên quan đến hạn hán. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các định nghĩa và phân loại hạn hán 1. Khái niệm hạn hán Hạn hán theo tiếng Trung là "can hạn" hay "hạn" (âm Hán- Việt) nghĩa là "khô hạn" hay "hạn".
Như vậy thuật ngữ "hạn" tiếng Việt bắt nguồn từ tiếng Hán, nên nói "hạn" hay "hạn hán" đều như nhau. Hạn hán là một hiện tượng thiên tai tự nhiên, khi một khu vực phải trải qua tình trạng thiếu nước trong một thời gian dài nhiều tháng, nhiều năm, làm giảm thiểu lượng ẩm trong không khí, hàm lượng nước trong đất, gây suy kiệt dòng chảy của sông suối… ảnh hưởng xấu đến sự sinh trưởng của cây trồng, suy thoái môi trường dẫn tới đói nghèo và dịch bệnh. Ở những khu vực xảy ra hạn hán, lượng nước mưa luôn ở dưới mức trung bình. Vì vậy nó sẽ tác động rất lớn đến hệ sinh thái và nông nghiệp của những khu vực đó, gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế ở đó.
Trong những năm gần đây, khí hậu trên Trái Đất biến đổi không ngừng, thời gian xảy ra hạn hán càng kéo dài, đó cũng là một hiện tượng bình thường và mang tính chu kì của khí hậu. Hạn hán xảy ra ở tất cả các vùng khí hậu với đặc trưng rất khác nhau ở các địa phương khác nhau. Từ những năm 80 của thế kỷ XX đã có rất nhiều khái niệm về hạn hán được đưa ra, song có thể trích dẫn một số khái niệm tiêu biểu về hạn hán như sau: “Hạn hán là kết quả của sự thiếu hụt lượng mưa tự nhiên trong một thời kì dài, thường là một mùa hoặc lâu hơn”(Wilhite, 2000). “Hạn là một thời kì thời tiết khô dị thường đủ dài do thiếu mưa và gây nên sự mất cân bằng nghiêm trọng về nước; hoặc là sự thiếu mưa trong một thời kì dài gây nên sự thiếu nước cho nhiều hoạt động của nhóm ngành hoặc nhóm môi trường (Trần Thục và ctv, 2008).
e 6 Hạn hán khác với khô hạn và các loại hình thiên tai khác. Hạn hán là một sự sai khác theo thời gian, rất khác với sự khô hạn. Bởi khô hạn bị giới hạn trong những vùng lượng mưa thấp, nhiệt độ cao và là một đặc trưng lâu dài của khí hậu (Wilhite, 2000). So với các thảm họa tự nhiên như: xoáy, lũ lụt, động đất, sự phun trào núi lửa, và sóng thần có sự khởi đầu nhanh chóng, có ảnh hưởng trực tiếp và có cấu trúc, thì hạn hán lại ngược lại.
Các tác động của hạn hán thường diễn ra trong thời gian tương đối dài, tác động của hạn hán thường vô hình và trên một phạm vi rộng lớn; thời điểm bắt đầu và kết thúc thường khó nhận biết; vì vậy hiện nay chưa có một khái niệm chính xác nào về hạn hán được đưa ra chính thức và được thừa nhận. Phân loại hạn hán Hạn hán có thể phân loại theo nhiều cách khác nhau, nhưng phổ biến nhất là phân thành bốn loại hạn cơ bản: hạn khí tượng, hạn nông nghiệp, hạn thủy văn, hạn kinh tế - xã hội. Liên quan đến mức độ hạn hán có thể coi hạn khí tượng, hạn thủy văn và hạn nông nghiệp như một hiện tượng vật lý; loại cuối cùng dùng để theo dõi ảnh hưởng của việc thiếu hụt nước thông qua các hệ thống kinh tế - xã hội. Hạn hán khí tượng Hạn khí tượng (Meteorological Drought): xảy ra do sự thiếu hụt nước trong cán cân lượng mưa, lượng bốc hơi ảnh hưởng tiêu cực tới lớp đất bề mặt và các nguồn dự trữ nước sâu.
Hạn hán khí tượng càng trầm trọng hơn khi con người lựa chọn. cây trồng không thích hợp, cần nhiều nước tưới như cây ngô hay một số kỹ thuật nông nghiệp như độc canh trên quy mô lớn làm đẩy nhanh quá trình bốc hơi, dẫn tới sự mất cân bằng môi trường. Hạn khí tượng thường xuất hiện đầu tiên và là nguyên nhân chính e 7 gây ra các loại hạn tiếp theo. Do đó, giám sát được hạn khí tượng sẽ có tác dụng với các nhà quản lý trong việc phòng chống, giảm nhẹ hạn hán.
Hạn hán thủy văn Hạn thuỷ văn (Hydrological Drought): hạn hán thủy văn ảnh hưởng tới các lớp đất sâu và các nguồn dự trữ nước ở các ao, hồ, sông băng hay băng tuyết xảy ra ngay cả khi lượng nước mưa đạt mức trung bình, thậm chí là cao hơn mức trung bình do đất không thấm đủ nước hoặc do sự can thiệp của con người.