Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Phân loại nguồn gốc gia cầm 1. Phân loại Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1995) gà thuộc Giới (Kingdom): Animal Ngành (Class): Aves Lớp (Order): Gallijonmes Họ (Family): Phasianidae Chủng (Genus): Gallus Loài (Species): Gallus gallus 1.
Nguồn gốc Gà Nhà hiện nay có nguồn gốc từ gà rừng Gallus, gà được nuôi ở Ấn Độ khoảng 2000 năm trước công nguyên. Theo Nguyễn Mạnh Hùng và cs (2009) ở Việt Nam gà được nuôi cách đây 3000 năm. Đặng Hữu Lanh và cs (1999), gà rừng có thể chia thành 3 loại hình như sau: - Loại hình Bankiva (gà nguyên thủy): Lông nhiều, dán vào mình, ức nở, mào và dái tai phát triển, mỏ hơi cong dài và nhọn. - Loại hình Mã Lai (gà Chọi): Ít lông, cấu trúc lông cứng, mào và dái tai nhỏ, đầu nhỏ, mắt lõm vào hốc mắt, mỏ ngắn, khỏe.
- Loại hình Cochin: Nhiều lông, bồng, nhiều lông tơ, mào và dái tai vừa, tai nhỏ màu đỏ, mỏ tương đối ngắn. Có nhiều giả thiết cho rằng gà nhà được thuần hóa đầu tiên từ Ấn Độ cách đây hơn 5000 năm, ở Trung Quốc hơn 3000 năm. Sau đó xuất hiện ở Mesopotamin. Ở Tây Âu, gà nhà xuất hiện cách đây gần 2500 năm.
Có thể nói nước ta là một trong những trung tâm thuần hóa gà đầu tiên của vùng Đông Nam Á. Gà nhà ở nước ta bắt nguồn từ gà rừng Gallus banquiva. Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 4 Như vậy, thông qua các di chỉ khảo cổ với các niên đại khác nhau cho phép khẳng định Gallus banquiva là tổ tiên các giống gà nhà hiện nay. Có nhiều tài liệu chứng minh rằng gà được thuần hóa đầu tiên ở Đông Nam Á và từ đây phân bố đi khắp thế giới.
Trải qua thời gian thuần hóa và không ngừng chọn lọc đã hình thành các giống gà địa phương thích nghi tốt với điều kiện riêng biệt ở các nước khác nhau, đồng thời hình thành nên các giống gà theo hướng sản xuất khác nhau. Cơ sở nghiên cứu sự di truyền của gia cầm Tất cả các đặc điểm của một giống gà như: Các đặc tính sinh học, ngoại hình, tính năng sản xuất. đều là tính trạng di truyền, các tính trạng chất lượng được quy định bằng một hoặc nhiều cặp gen có hiệu ứng lớn, chúng được di truyền tuân theo các định luật của Menden và ít chịu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường; Các tính trạng sản xuất được quy định bằng nhiều cặp gen có hiệu ứng nhỏ, chúng được di truyền cho đời sau theo các mức độ khác nhau, sự thể hiện của chúng ở đời sau chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh. Sự biểu hiện kiểu hình của các tính trạng số lượng chịu sự tác động rất lớn của yếu tố ngoại cảnh.
Mối liên hệ này được thể hiện trong biểu thức: P=G+E Trong đó: P: giá trị kiểu hình (Phenotypic value) là các giá trị đo lường được của tính trạng số lượng trên một cá thể. G: giá trị kiểu gen (Genotypic value). E: sai lệch môi trường (Environmental). Do đó kiểu hình của một cá thể được xác định bởi kiểu gen có từ 2 locus trở lên có giá trị là: P = A + D + I + Eg + Es Kiểu di truyền và môi trường đều có tác động lên sự phát triển của tính trạng.
Tuy nhiên, trong sự biểu hiện của tính trạng qua kiểu hình, kiểu di Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 5 truyền, quyết định các biến động là phần chính. Đối với các tính trạng số lượng, giá trị kiểu gen được tạo thành do hiệu ứng nhỏ của từng gen tập hợp lại, chúng sẽ có hiệu ứng lớn. Trong đó giá trị cộng gộp A (còn gọi là giá trị giống của một cá thể) là thành phần quan trọng nhất của kiểu gen, vì nó cố định và di truyền được đó là thành phần duy nhất mà người ta có thể xác định được, nhờ sự đo lường các tính trạng đó ở quần thể (Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc, 1998). Sai lệch trội (Dominance deviation) D là sự khác nhau giữa giá trị kiểu gen G và giá trị giống A của một kiểu gen nào đó khi xem xét một locus duy nhất: G=A+D Sai lệch tương tác (Interaction deviation) I là sai lệch có được do sự tương tác giữa các gen thuộc các locus khác nhau, khi kiểu gen gồm từ 2 locus trở lên sai lệch tương tác hay gặp trong di truyền học số lượng hơn là di truyền học chất lượng.
Sai lệch trội và sai lệch tương tác cũng có vai trò quan trọng, là giá trị giống đặc biệt và được xác định thông qua con đường thực nghiệm. Giá trị kiểu hình còn chịu sự tác động rất lớn của sai lệch môi trường, có 2 loại môi trường chính là: - Môi trường chung (Eg) tác động thường xuyên lâu dài đến tất cả các cá thể của quần thể. - Môi trường riêng (Es) tác động đến một vài bộ phận riêng biệt của một số cá thể riêng biệt nào đó của quần thể trong thời gian ngắn. Như vậy, năng suất của các giống vật nuôi là kết quả của mối tương tác giữa yếu tố môi trường và ngoại cảnh.
Có thể nói rằng gia súc gia cầm nhận được khả năng di truyền từ bố mẹ (kiểu gen) tuy nhiên sự thể hiện khả năng đó ở kiểu hình lại phụ thuộc vào hoàn cảnh môi trường sống (điều kiện địa lý, thức ăn, chăm sóc nuôi dưỡng. Luận điểm này là cơ sở để tạo lập một điều kiện môi trường ngoại cảnh thích hợp, nhằm củng cố và phát huy tối đa khả năng di truyền của các giống vật nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia cầm. Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 6 Nói cách khác: Trong những điều kiện môi trường nhất định thì các kiểu gen khác nhau sẽ cho những khả năng sản xuất khác nhau. Trái lại, cùng một kiểu gen nhưng trong những điều kiện môi trường khác nhau sẽ cho năng lực sản xuất khác nhau.
Tốc độ sinh trưởng quyết định sức sản xuất thịt của một giống gà, mang tính di truyền tương đối cao thể hiện đặc điểm về trao đổi chất, kiểu hình của dòng, giống. Dòng, giống nào có tốc độ sinh trưởng lớn sẽ cho khả năng sản xuất thịt cao, vỗ béo và giết thịt sớm hơn. Tốc độ sinh trưởng được thể hiện ở khối lượng cơ thể kích thước các chiều đo (dài lườn rộng ngực, dài đùi. Năng lực tăng đàn của một giống gà được quyết định bởi khả năng sinh sản: Khả năng đẻ trứng, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở, tỷ lệ nuôi sống gà.
Ngoài ra còn phụ thuộc vào khả năng ấp trứng của gà mái, nguồn thức ăn (với gà nuôi thả)…. Sức sống và khả năng kháng bệnh: Trong cơ thể gia cầm có hệ thống miễn dịch hoàn hảo gồm tuỷ xương, tuyến ức, hạch lâm ba, lách. khi kháng nguyên vào cơ thể, cơ thể sẽ thông qua hệ thống đáp ứng miễn dịch sinh ra những cơ chế tiêu diệt kháng nguyên, khi cơ thể gia cầm khoẻ mạnh thì khả năng đáp ứng miễn dịch cao, khả năng kháng bệnh tốt đây chính là yếu tố quan trọng giúp cho người chăn nuôi đạt hiệu quả cao. Cơ sở nghiên cứu một số đặc điểm sinh học ở gia cầm 1.
Ngoại hình của gia cầm Gà có dạng điển hình của lớp chim (aves), một động vật có xương sống bậc cao đã thích ứng với điều kiện nuôi sống như hiện nay. Toàn thân được bao phủ bởi lớp lông, gà trống thường có mầu lông sặc sỡ hơn gà mái. Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng. Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện dưới dạng hạt hay phân bố đều của sắc tố melanin và dạng dịch của sắc tố lipocrom.
Gia cầm màu sắc lông có thể chia làm 2 nhóm lớn là lông màu và lông trắng. Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 7 Chân của gia cầm được bao phủ bằng lớp vảy sừng và có sự khác nhau về màu sắc. Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom đồng thời thiếu melanin. Chân đen là do sự xuất hiện của melanin.
Khi 2 màu đều không xuất hiện thì chân có màu trắng. Chân thường có vuốt và cựa. Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài. Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái, con trống mào và tích phát triển hơn con mái.
Mào gà rất đa dạng cả về hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống, theo hình dạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ, mào nụ, mào hạt đậu, mào mâm xôi. Sức sống và khả năng khánh bệnh của gia cầm Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm là rất quan trọng giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả. Dịch bệnh ở gia cầm nguy cơ sẩy ra là rất lớn nên cần phải có những biện pháp phòng ngừa và ngăn chặn để giảm bớt tổn thất trong chăn nuôi.S và cs (1992) (dẫn Theo Hoàng Toàn Thắng, 1996) cho biết: sức sống được thể hiện ở thể chất và xác định trước hết bởi khả năng có tính di truyền ở động vật có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh. Theo Ngô Giản Luyện (1994) thì mối liên quan giữa chỉ tiêu sinh lý, sinh hóa máu đối với sức sống và sản lượng trứng được Kotris và cs tại Viện Thú y Matxcơva (1988) xác định: Số lượng bạch cầu trong máu gà Hybro liên quan đến sức sống và sản lượng trứng, những gà mái có số lượng bạch cầu cao giai đoạn 60 - 110 ngày thì tương ứng với sức sống và sản lượng trứng đạt cao.
Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn so với các giống vật nuôi ở xứ lạnh (Trần Đình Miên và cs, 1994). Theo Lê Viết Ly (1995) động vật thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, Luận văn thạc sĩ Chăn nuôi 8 sống lâu và tỷ lệ chết thấp. Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1995) cho biết hệ số di truyền sức sống của gà là 0,33. Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên (1998) cho biết khi điều kiện sống thay đổi (thức ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng,…), gà lông màu có khả năng thích ứng tốt với môi trường sống.
Theo Trần Long và cs (1996) tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn gà con (0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 %.