Chương 1 TỎNG QUAN 1. Ưu thế lai trong hệ thống lai giống Ưu thé lai là một hiện tượng sinh học, đã được nghiên cứu từ hơn 200 năm nay, nhưng mãi đến năm 1914 mới được Shull đề nghị dùng từ “Heterosis” để chỉ hiện tượng ưu thế lai. Ông cho rang, ưu thé lai là tập hợp của các biểu hiện không thé giải thích được theo qui luật của Mendel liên quan tới sinh trưởng nhanh hơn, chống chịu bệnh tật tốt hơn của đời con, năng suất cao hơn so với trung bình của bố mẹ tạo nên chúng. Theo Lasley (1972), tăng sức sông của con lai so với trung bình bố mẹ thuần khi có sự giao phối giữa các cá thể không thân thuộc với nhau.
Ưu thế lai không chỉ biéu hiện sức chịu đựng cao, ma còn bao gồm cả sự giảm tỷ lệ chết, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất và tăng khả năng sinh sản. Vì vậy, người ta xem hiện tượng ưu thế lai như là một sinh lực đặc biệt của ngành sinh vật học nói chung và của ngành nông nghiệp nói riêng. Trần Đình Miên và ctv (1995) cho rằng ưu thế lai là hiện tượng sinh học rất quý, biểu hiện sự phát triển mạnh mẽ của những cơ thé được tạo ra từ việc lai giữa các giống không cùng huyết thống. Sự phát triển toàn bộ khối lượng cơ thể con vật, sự gia tang cường độ trao đôi chất, sự tăng lên của các tính trạng sản xuất.
Mặt khác, ưu thế lai biểu thị theo từng khía cạnh, từng tính trạng trên các cá thé lai. Hay nói cách khác, mỗi tinh trạng biểu hiện ưu thé lai ở các mức độ khác nhau. Khi cho giao phối hai cá thể khác giống, khác dòng, tô hợp lai tạo thành đều biểu hiện ưu thế lai, tuy nhiên ở mức độ cao thấp khác nhau. Trong nhiều truờng hợp, nhất là đối với tính trạng chịu sự chi phối bởi nhiều gen, mức độ ưu thé lai có khi thiên về giống này hoặc thiên về giống khác và mức độ cao hay thấp còn tuỳ thuộc vào từng tính trạng.
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy các tính trạng về số con sơ sinh/6, khả năng tăng khối lượng, năng suất sữa thường biểu hiện ưu thé lai cao hơn so với tính trạng tỷ lệ mỡ và protein sữa. Ưu thé lai thường thê hiện cao nhất ở đời Fi và giảm dan ở các thé hệ tiếp theo vi tỉ lệ đồng hợp tử các gen trong các tổ hợp lai tăng lên (Falconer và Mackey, 1996). Ưu thế lai có thé được phân tách thành nhiều thành phần như sau: (1) Kết hợp các đặc tính tốt của các giống sử dụng trong công thức lai: thành phần này thường có giá trị âm, khi một giống bố mẹ thể hiện tính ưu tú trong một trường hợp nhất định nào đó. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp kiểu hình tốt nhất của con vật lại là mức trung gian, khi đó hai tính trạng có tương quan âm ở giống lai và khi đó giá trị kinh tế của chúng có thể được nhân lên.
(2) Ưu thé lai trực tiếp: các cá thé lai thường biểu hiện ưu thé lai và được đo lường như là phần năng suất vượt trội của con lai so với trung bình của hai giống bố mẹ chúng. Ảnh hưởng của ưu thế lai đến toàn bộ hệ thống sản xuất thậm chí có thể vượt quá tỷ lệ thông thường do ảnh hưởng cộng dồn trên tat cả các tinh trạng. (3) Ưu thé lai từ mẹ: các con mẹ lai có thể có ưu thé lai đáng kẻ đối với khả năng sinh sản cao, sinh trưởng nhanh và sức sống của đời con. (4) Bồ sung lẫn nhau giữa bố và mẹ: chi phí để duy trì đàn cái nhân giống có thé rất cao, đặc biệt khi năng suất sinh san đẻ thấp.
Hệ thống lai giống tốt có thé giúp đưa ra quyết định sử dụng đàn cái giống có kích cỡ nhỏ nhưng sinh sản cao, sao cho có thé giảm chi phí dé duy trì đàn giống. (5) Sử dụng rộng rãi các nguồn gen: nguồn vật chat di truyền có sẵn sẽ dồi dao hơn khi có hai hay nhiều giống và điều này có thé mang lại sự linh hoạt cao hơn trong việc xác định và phát triển chương trình giống hiệu quả. Từ đó làm tăng áp lực chọn lọc và tránh các vấn đề liên quan đến cận huyết. Khi lai tạo giữa các cá thé từ hai quan thé khác nhau sẽ gây ra các hiệu ứng cộng gộp của các gen, chính là trung bình của các giá trị kiểu hình trung bình của quan thé thứ nhất và giá trị kiểu hình trung bình của quan thé thứ hai.
Hiệu ứng cộng gộp của các nguồn gen khác dòng hoặc khác giống trên cá thể lai thể hiện wu thé lai. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ biểu hiện của wu thé lai Bồ và mẹ có nguồn gốc đi truyền cảng xa nhau, biểu hiện của ưu thé lai càng cao, ngược lại bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng gần nhau, mức độ biểu hiện ưu thé lai càng thấp. Hay nói cách khác, khoảng cách di truyền của các giống thuần tham gia tao ra tổ hợp lai càng xa thì ưu thế lai càng lớn và ngược lại. Các tính trạng có hệ số đi truyền thấp (tính trạng về sinh sản) thì các tổ hợp lai thường đạt ưu thế lai cao và ngược lại các tính trạng có hệ số di truyền cao (thành phan thân thịt xẻ) thì các tổ hợp lai thường đạt ưu thé lai thấp.
Các tính trạng có khả năng di truyền ở mức trung bình như tăng khối lượng, sản lượng sữa, sản lượng mỡ sữa và protein sữa, thường biểu hiện ưu thế lai ở mức trung bình. Do đó, để cải thiện các tính trạng kinh tế có khả năng di truyền thấp, lai giống là công cụ tốt dé khai thác tối đa ưu thế lai. Nếu tính trạng có hệ số di truyền cao, đồng thời áp dụng chọn lọc và áp dụng lai tạo sẽ mang lại hiệu quả ưu thế lai cao nhất ở những tính trạng di truyền theo mẹ. Ưu thé lai còn phụ thuộc vảo công thức lai và việc sử dụng cá thể nào làm bố và cá thể nào làm mẹ.
Ưu thế lai đạt được ở các tổ hợp lai khác nhau thì khác nhau vì nó phụ thuộc vào phương pháp lai đã tiến hành. Các tính trạng khác nhau khi lai có ưu thế lai khác nhau và các công thức lai khác nhau khi lai cũng cho ưu thế lai khác nhau. Ronald (1993) cho biết việc sử dụng hệ thống lai luân chuyền của hai giống có ưu thé lai là 67% trong khi đó lai luân chuyền 4 giống ưu thé lai là 90%. Ngoài ra, điều kiện nuôi dưỡng cũng là một trong các yếu tố quan trọng để ưu thé lai biểu hiện tốt nhất.
Nếu chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém, mức độ ưu thé lai thường thấp và ngược lại, ở điều kiện nuôi dưỡng tốt, các cá thể lai sẽ phát huy hết tiềm năng của ưu thé lai. Đặc điểm giống heo sử dụng trong nghiên cứu 1. Heo Có Bình Thuận Đây là giống heo bản địa đang nuôi giữ rất phô biến ở khu vực các tỉnh Nam Trung Bộ. Nguồn gen heo bản địa này đã tồn tại lâu đời tại vùng núi cao khu vực tỉnh Bình Thuận và tỉnh Ninh Thuận, giáp với cao nguyên Lâm Đồng và phát triển gắn liền với đời sống kinh tế, văn hóa của người dân tộc K’ho.
Theo báo cáo của chính quyền địa phương, đã có rất nhiều chương trình khuyến nông nhằm phát triển một số giống heo công nghiệp tại khu vực này, song tất cả đều thất bại do tập quán chăn nuôi thả rông, không có chuồng trại và thức ăn tận dụng của người dân. Giống heo này đã có quá trình thích nghi lâu dài với điều kiện khô hạn khắc nghiệt, nguồn thức ăn nghèo dinh dưỡng ở khu vực vực này và đặc biệt khả năng kháng bệnh rất cao. Đây là các nguồn gen heo bản địa quý với chất lượng thịt thơm ngon phù hợp với thị hiếu tiêu dùng Việt Nam đã được bảo tồn trong nhiều năm nay. Về đặc điểm ngoại hình, đàn heo Có Bình Thuận hầu hết có màu lông đen tuyên, một số có đốm trắng ở trán, cang chân và móng chân.
Tuy vậy, các đốm trang này rất nhỏ so với toàn bộ diện tích bề mặt cơ thẻ. Ngoài ra còn có một số đặc điểm đặc trưng khác như bụng xé, da mỏng, lông thưa, lưng võng vừa phải, cổ ngắn, mặt và mõm hoi dài. Các đặc điểm nay gần giống với các giống địa phương khác đã được nghiên cứu bởi một số tác giả trước đây như giống I hay giống Cỏ vùng Bắc Trung Bộ (Phạm Hữu Doanh và Đinh Hồng Luận, 1984; Nguyễn Thiện và Đinh Hồng Luận, 1994: Lê Viết Ly, 2000; Vũ Ngọc Sơn và cvt, 2010; Nguyễn Như Cương, 2010). Về đặc điểm phát dục, giống heo Cỏ Bình Thuận có tuổi thành thục về tính dục rất sớm, tuổi động duc lần đầu trung bình là 137,9 ngày tuổi và sớm hon rất nhiều so với giống heo Móng Cái hay các giống heo công nghiệp nhập nội hiện nay (180 — 185 ngày tuổi).
Các con đực cũng có biểu hiện thuần thục về tính như động thái nhảy lên lưng nhau lúc 3 - 4 tháng tuổi (Nguyễn Hữu Tỉnh, 2016). Về tính năng sản xuất, tiềm năng sinh sản và năng suất thịt rất hạn chế. So với một số giống heo ban địa khác như heo I hay Móng Cái đã được một số tác giả đã nghiên cứu (Nguyễn Văn Đức, 2002), năng suất sinh sản của giống heo Cỏ Bình Thuận trong nghiên cứu của Nguyễn Hữu Tỉnh (2016) là rất thấp, chỉ tương đương 50 — 60% trên các chỉ tiêu về sinh sản, bên cạnh đó kha năng nuôi sống giai đoạn theo mẹ ở mức tương đối cao, dao động từ 93,0 — 95,8%. Nguyễn Hữu Tỉnh (2016) đã nghiên cứu về năng suất sinh trưởng và sinh sản của giống heo Cé Bình Thuận tại địa phương tại Trung tâm Bình Thang đã thu được một số kết quả như sau: Bảng 1.
Sinh trưởng của dan heo Cỏ Bình Thuận tại Trung tâm Binh Thắng mm Tháng tuôi (tháng) 2 3 4 5 6 1. Đực - Số con theo dõi (con) 69 75 62 62 62 - Khối lượng trung binh (kg) 44 6,58 10,02 1452 15,42 - Độ lệch tiêu chuan (SD) 154 152 1,25 145 145 2. Cái - Số con theo dõi (con) ay 70 69 69 69 - Khối lượng trung binh (kg) 496 6,96 11,52 16,02 17,94 - Độ lệch tiêu chuẩn (SD) 147 — 1,63 ye 1,4 1,6 Bảng 1.