Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp, ngoài trồng trọt, ngành chăn nuôi giữ vị trí rất quan trọng trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế của đất nước. Xu hướng phát triển nông nghiệp theo con đường thâm canh công nghiệp hoá đang diễn ra mạnh mẽ. Đặc biệt là ngành chăn nuôi gia cầm được quan tâm hàng đầu vì nó có khả năng đáp ứng nhanh một lượng lớn thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao cho nhu cầu xã hội trong thời gian ngắn. Xã hội phát triển, nhu cầu cuộc sống của người dân ngày một nâng cao, cho nên thực phẩm có chất lượng cao đang được quan tâm chú ý rất nhiều của người tiêu dùng.
Trước tình hình đó, đòi hỏi ngành chăn nuôi nói chung và ngành chăn nuôi gia cầm nói riêng cần phải có những bước phát triển mới về công tác giống, kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng mới có thể đáp ứng được yêu cầu về thực phẩm ngày càng khắt khe của người tiêu dùng. Đồng thời để tiến tới một nền nông nghiệp chất lượng, hiện đại đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thì yêu cầu được đặt ra đó là: Các hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng, ngoài cơ cấu tổ chức, quy mô hợp lý còn phải đáp ứng các quy định về đảm bảo an toàn sinh học, an toàn thực phẩm và an toàn môi trường, trong đó việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp là điều kiện tiên quyết. Qua đó hạn chế sử dụng các hóa chất, kháng sinh…gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người, thay vào đó là tăng cường sử dụng các chế phẩm sinh học. Trên thực tế, trong vài năm gần đây, việc sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi gia súc, gia cầm tại Việt Nam đã được biết đến nhưng chưa được sử dụng rộng rãi.
Sử dụng chế phẩm sinh học trong chăn nuôi có nhiều ưu điểm vượt trội như: Tăng năng suất, chất lượng, ít dịch bệnh, không gây ảnh hưởng tiêu cực e 2 đến sức khỏe con người, vật nuôi, giải quyết tốt môi trường chăn nuôi. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Hiệu quả sử dụng của chế phẩm sinh học Aminomix-polyvit trên gà đẻ tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên". Mục đích nghiên cứu - Sử dụng chế phẩm sinh học nhằm hạn chế việc sử dụng kháng sinh, làm tăng sức đề kháng của gà, từ đó tăng hiệu quả chăn nuôi gà. -Góp phần giảm thiểu tồn dư kháng sinh trong thịt, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Mục tiêu nghiên cứu Khuyến cáo đối với người chăn nuôi gia cầm trong việc sử dụng chế phẩm sinh học vào sản xuất. Ý nghĩa của đề tài 1.Ý nghĩa trong khoa học: Bổ sung tư liệu nghiên cứu về chế phẩm sinh học Aminomix-polyvit sử dụng trên gà đẻ.Ý nghĩa trong thực tiễn: Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở để khuyến cáo đối với người chăn nuôi gia cầm trong việc sử dụng chế phẩm sinh học vào sản xuất. e 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Khả năng sinh sản của gia cầm * Đặc điểm cơ quan sinh sản của gia cầm Gà là loài đẻ trứng, cấu tạo cơ quan sinh sản ở gà mái bao gồm: buồng trứng, ống dẫn trứng và lỗ huyệt. - Buồng trứng: Buồng trứng là nơi hình thành lòng đỏ - tế bào trứng. Tế bào trứng rất giàu dinh dưỡng, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phát triển của phôi thai. Các bộ phận khác của trứng như: lòng trắng, màng vỏ, vỏ cứng là do ống dẫn trứng tạo ra (Ngô Giản Luyện, 1994) [9].
Trong thời kỳ đầu ấp trứng, cả hai buồng trứng trái và phải đều hình thành phát triển. Nhưng ngày ấp thứ 5 đến 7, buồng trứng trái phát triển lớn hơn buồng trứng bên phải, đến khi gia cầm trưởng thành, chỉ có một buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển và hoạt động chức năng. Còn buồng trứng và ống dẫn trứng bên phải không phát triển. Số lượng tế bào trứng trong buồng trứng rất lớn, buồng trứng gà có khoảng 586-3605 tế bào trứng ở các giai đoạn phát triển khác nhau và trọng lượng buồng trứng thay đổi theo trạng thái chức năng (tuổi) (Nguyễn Duy Hoan và Trần Thanh Vân, 1998) [5].
Ống dẫn trứng: Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý, ống dẫn trứng được chia làm 5 phần: Loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung và âm đạo. Ống dẫn trứng của gà dài khoảng 10-20cm, đường kính 0,3-0,8mm, khi đẻ trứng với cường độ cao có thể dài 40-60cm, đường kính khoảng 1mm (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998) [5]. e 4 + Sơ lược cấu tạo trứng và sự hình thành trứng: Trứng gia cầm là một loại tế bào sinh sản khổng lồ bao gồm: Vỏ cứng, màng vỏ, lòng trắng và lòng đỏ. Vỏ trứng bao bọc bên ngoài lòng trắng, lòng đỏ.
Phía ngoài cùng của vỏ trứng được phủ một lớp keo dính do âm đạo tiết ra, có tác dụng làm giảm ma sát, tạo điều kiện dễ dàng cho việc đẻ trứng và ngăn chặn sự xâm nhập tạp khuẩn vào trứng, đồng thời cũng có tác dụng làm giảm sự bốc hơi nước của trứng gà. Thành phần chủ yếu của vỏ trứng là vỏ cứng, độ dày trung bình 0,2- 0,6mm và không đều, dày nhất ở phần đầu nhỏ, giảm dần tới thành bên và mỏng nhất ở phần đầu to của quả trứng. Trên bề mặt của vỏ trứng có nhiều lỗ khí. Dưới lớp vỏ là hai lớp màng đàn hồi đều có tính truyền khí, có ý nghĩa quan trọng trong quá trình trao đổi khí giúp phôi phát triển.
Tỷ lệ phần vỏ, màng vỏ so với khối lượng trứng chỉ chiếm 10-20%. Lòng trắng chiếm 56% gồm 4 lớp thành phần và tỷ lệ: lớp loãng ngoài 23%, lớp đặc giữa 57%, lớp loãng giữa 17%, lớp đặc trong 3%, nhưng chỉ số này dao động phụ thuộc vào khối lượng trứng, độ tươi của trứng, phụ thuộc vào đặc điểm giống loài và cá thể. Lòng đỏ là tế bào trứng của gia cầm, có dạng h́ ình cầu, đường kính khoảng 35-40cm, khối lượng chiếm 32% so với khối lượng trứng. Lòng đỏ có cấu tạo bao gồm: màng nguyên sinh chất và nhân.
Màng tế bào mỏng, dao động trong khoảng 16-20 micromet, có tính đàn hồi và thẩm thấu chọn lọc. Nguyên sinh chất chứa bào quan: Ty thể, lạp thể, lưới golgi, trung tâm tế bào, thể vùi, các axit amin, protein, gluxit, lipit, phức hợp lipoprotein. Trung tâm nguyên sinh chất có hốc lòng đỏ - là nơi thu hút, tập trung chất dinh dưỡng để phôi phát triển giai đoạn đầu. Nhân tế bào hình tròn, màu nhạt hơn nguyên e 5 sinh chất và nằm trên nguyên sinh chất.
Trong nhân chứa ADN, ARN và các đôi nhiễm sắc thể. - Sự hình thành trứng trong ống dẫn trứng: Quá trình hình thành trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, có sự điều chỉnh hoocmon. Tế bào trứng thành thục tách khỏi buồng trứng, chuyển vào túi lòng đỏ hoặc trực tiếp vào loa kèn. Lòng đỏ dừng lại ở loa kèn khoảng 20 phút, sau đó di chuyển xuống dưới và dần dần hình thành dây chằng lòng đỏ.
Lòng đỏ tiếp tục di chuyển xuống phần tiết lòng trắng và ở đây khoảng 2,5 đến 3 giờ, phía ngoài được bao bọc bởi một lòng trắng đặc (gọi là lớp trong lòng trắng đặc), có tác dụng cố định hình dạng lòng đỏ. Phần tiết lòng trắng của ống dẫn trứng tiếp tục hình thành lớp lòng trắng loãng và hoàn chỉnh khi trứng đến phần eo. Khi trứng di chuyển qua phần tiết lòng trắng thì chỉ có 40-60% lòng trắng được hình thành. Phần eo tiết lòng trắng dạng hạt kiểu keratin, đây chính là thành phần hình thành màng trong dưới vỏ cứng.
Trứng dừng lại ở phần eo, tích tụ các chất tiết để tạo thành màng ngoài dưới vỏ cứng, đồng thời ở phần eo cũng xảy ra quá trình tích lũy lớp ngoài lòng trắng loãng. Trứng qua phần eo mất khoảng 70 phút. Trứng tiếp tục qua phần tử cung mất khoảng 19-20 giờ. Tại đây các tế bào biểu mô tử cung tiết ra chất tiết tạo thành một lớp màng vỏ ngoài cứng, không màu và óng ánh.
Trứng ra âm đạo rất nhanh và ra ngoài lỗ huyệt. Tổng thời gian hình thành trứng trong toàn bộ các thành phần của ống dẫn trứng mất khoảng 23,5-24 giờ. * Các chỉ tiêu đánh giá sức sản xuất trứng của gia cầm - Khả năng sinh sản của gia cầm Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả chăn nuôi gia cầm. Sản phẩm của chăn nuôi là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng.
Còn gà hướng thịt (cũng như gà e 6 hướng trứng) khả năng sinh sản quyết định đến sự phân đàn, di truyền giống, mở rộng quy mô đàn gia cầm. Sinh sản là chỉ tiêu cần quan tâm trong công tác giống gia cầm. Ở các giai đoạn khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt. Nói chung, ở các loài gia cầm khác nhau thì những đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt (Đặng Hữu Lanh, 1999 [7]).
Trần Đình Miên và cs dẫn (theo Phạm Minh Thu, 1996) [16]) đã viết "Con người chú trọng đến sinh sản của gia cầm vì không những chức năng đó liên quan đến sự sinh tồn của loài đó mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để sử dụng hai sản phẩm chính là thịt và trứng phục vụ cho nhu cầu của con người". Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản xuất của gia cầm người ta không thể không chú ý tới sức đẻ trứng của gia cầm. Theo Brandsch và Bilchel (1978) [1] thì sức đẻ trứng phụ thuộc 5 yếu tố: + Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục + Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng + Tần số thể hiện bản năng đòi ấp + Thời gian nghỉ đẻ đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông + Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ) Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng giống gia cầm khác nhau. - Tuổi đẻ đầu Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và tham gia quá trình sinh sản.
Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng. Đối với một đàn gà cùng lứa thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%.