Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Bệnh tiên mao trùng do ký sinh trùng đơn bào đường máu Trypanosoma evansi (T. evansi) thuộc lớp trùng roi (Flagellata) gây ra là một trong những bệnh truyền nhiễm ký sinh trùng gây tổn thất kinh tế nghiêm trọng cho ngành chăn nuôi gia súc tại các nước nhiệt đới và khu vực Đông Nam Á. Tại Việt Nam, các nghiên cứu dịch tễ học trước đây cho thấy tỷ lệ nhiễm bệnh ở trâu, bò ở mức cao (khoảng 21,27%), trong đó các tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ nhiễm cao hơn khu vực đồng bằng do điều kiện tự nhiên và tập quán chăn thả. Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn là địa bàn miền núi có địa hình bãi chăn thả và nguồn thức ăn tự nhiên phong phú, tạo thuận lợi lớn để phát triển đàn trâu cày kéo và sinh sản. Tuy nhiên, bệnh tiên mao trùng đã xảy ra tại hầu hết các địa phương trong huyện nhưng công tác điều tra dịch tễ chưa được tiến hành có hệ thống; mặt khác, các phương pháp chẩn đoán truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế về thời gian và độ nhạy. Việc ứng dụng kỹ thuật ngưng kết trên bản nhựa (Kit CATT) chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp để chẩn đoán nhanh, kết hợp xây dựng phác đồ điều trị phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi, là yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn sản xuất.

Văn bản khóa luận xác định 03 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp trong nghiên cứu tình hình nhiễm tiên mao trùng ở trâu của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
  2. Lựa chọn phác đồ điều trị bệnh tiên mao trùng có hiệu quả, phù hợp với điều kiện chăn nuôi miền núi.
  3. Đề xuất biện pháp phòng và trị bệnh, góp phần hạn chế những thiệt hại do tiên mao trùng gây ra cho đàn trâu ở huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm đàn trâu nuôi tại các nông hộ thuộc một số xã của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn; sinh phẩm Kit CATT chẩn đoán bệnh tiên mao trùng chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp; và ký sinh trùng Trypanosoma evansi. Phạm vi không gian nghiên cứu được thực hiện tại 5 xã thuộc huyện Chi Lăng (Hữu Kiên, Mai Sao, Bắc Thủy, Quang Lang, Hòa Lạc) đối với công tác điều tra, lấy mẫu; và tại Phòng thí nghiệm bộ môn Bệnh động vật thuộc Khoa Chăn nuôi Thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đối với công tác phân tích, thử nghiệm. Phạm vi thời gian nghiên cứu thực địa và phòng thí nghiệm kéo dài từ ngày 09/6/2014 đến ngày 24/11/2014, trong đó các chỉ tiêu dịch tễ được theo dõi trong các tháng 6, 7, 8, 9 và 10 năm 2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng trên hệ thống phân loại động vật học của Levine và cộng sự (1980), xếp Trypanosoma evansi vào ngành Sarcomastigophora, phân ngành Mastigophora, lớp Zoomastigophorasida, bộ Kinetoplastorida, họ Trypanosomatidae, giống Trypanosoma, giống phụ Trypanosoma. Về cấu trúc kháng nguyên, tác giả phân tích hai nhóm kháng nguyên chính: kháng nguyên ổn định (kháng nguyên không biến đổi) gồm các glycoprotein màng nguyên sinh chất (ISG 65, ISG 75, ISG 100) và kháng nguyên biến đổi lớp vỏ bề mặt (VSG - Variant Surface Glycoprotein). Lớp vỏ VSG bao phủ tế bào có khả năng thay đổi các typ kháng nguyên biến đổi (VAT - Variable Antigen Type) nhằm né tránh đáp ứng miễn dịch của vật chủ thông qua hai cơ chế di truyền: luân phiên kích hoạt các điểm biểu hiện gen (expression site) hoặc tái tổ hợp/chuyển đổi gen. Cơ chế truyền lây của bệnh mang tính chất cơ học qua các côn trùng hút máu trung gian, chủ yếu là các loài ruồi hút máu thuộc họ phụ Stomoxydinae (như Stomoxys calcitrans, Liperosis exigua) và các loài mòng thuộc họ Tabanidae (như Tabanus rubidus, Tabanus striatus). Khi xâm nhập vào cơ thể ký chủ, T. evansi tiết độc tố Trypanotoxin, phá hủy hồng cầu, làm suy giảm protein huyết thanh, giảm tỷ lệ Albumin/Globulin (A/G < 0,5), gây sốt gián đoạn, phù thũng, rối loạn thần kinh, suy nhược và gây sảy thai ở gia súc chửa.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được triển khai đồng bộ qua các bước kỹ thuật:

  • Thu thập mẫu: Lấy 5 ml máu từ tĩnh mạch cổ của trâu bằng xilanh vô trùng, một phần dùng để xét nghiệm tươi và tiêm truyền, một phần để đông tự nhiên nhằm chắt tách huyết thanh, bảo quản ở nhiệt độ -15°C (thời gian lưu trữ không quá 4 tháng).
  • Chẩn đoán huyết thanh học bằng Kit CATT (Card Agglutination Test for Trypanosomiasis): Sử dụng bộ kit chứa kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2 gắn hạt latex. Quy trình thực hiện gồm việc nhỏ 10 µl kháng nguyên gắn hạt latex lên khay phản ứng, nhỏ tiếp 10 µl huyết thanh trâu (đã pha loãng theo hệ số 2) lên giọt kháng nguyên, khuấy đều bằng que nhựa, giữ yên trong 3 - 5 phút và đọc phản ứng ngưng kết (dương tính khi tạo đám kết tủa li ti màu xanh; âm tính khi hỗn dịch đồng nhất; nghi ngờ khi ngưng kết không rõ).
  • Phương pháp tiêm truyền động vật thí nghiệm: Tiêm 0,2 ml máu tươi trâu nghi nhiễm vào xoang phúc mạc của chuột bạch khỏe mạnh (khối lượng 18 - 20 g/con, không dùng chất chống đông). Theo dõi biểu hiện lâm sàng hàng ngày và kiểm tra máu đuôi chuột bằng phương pháp xem tươi dưới kính hiển vi quang học (độ phóng đại 10 x 20 và 10 x 40).
  • Phương pháp kiểm tra trực tiếp: Soi tươi giọt máu giữa phiến kính và lamen; nhuộm giemsa tiêu bản máu khô cố định bằng cồn methanol 2 phút và nhuộm dung dịch Giemsa (tỷ lệ 1:9) trong 25 phút, soi kính hiển vi ở độ phóng đại 10 x 100.
  • Thử nghiệm điều trị: Thiết kế 3 phác đồ điều trị kết hợp giữa thuốc diệt ký sinh trùng đặc hiệu với thuốc trợ tim (Cafein 20%), dung dịch truyền tĩnh mạch (nước sinh lý mặn 0,9%) và thuốc trợ sức, trợ lực (Vitamin C 5%, Vitamin B1 2,5%). Trong đó, thuốc trợ tim và trợ lực bắt buộc sử dụng trước thuốc diệt ký sinh trùng 30 phút.
  • Xử lý số liệu: Các số liệu dịch tễ học và điều trị được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh học theo giáo trình của Nguyễn Văn Thiện (2008), sử dụng phần mềm Microsoft Excel 2007.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Chương này tập trung trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm địa lý, chăn nuôi của huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn và thực trạng thiệt hại do bệnh tiên mao trùng gây ra cho đàn trâu cày kéo. Tác giả chỉ rõ các phương pháp chẩn đoán thông thường có độ nhạy thấp, khó phát hiện gia súc mang trùng thể ẩn hoặc mãn tính, từ đó xác lập sự cần thiết của việc ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2. Chương mở đầu công bố 3 mục tiêu cụ thể, làm rõ ý nghĩa khoa học trong việc cung cấp cứ liệu dịch tễ học ký sinh trùng đường máu bằng kỹ thuật sinh học phân tử - huyết thanh học, đồng thời nêu rõ ý nghĩa thực tiễn trong việc xây dựng hướng dẫn chẩn đoán và điều trị hiệu quả cho cán bộ thú y và người chăn nuôi tại địa phương.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương tổng quan tài liệu gồm hệ thống dẫn liệu khoa học toàn diện về loài Trypanosoma evansi. Tác giả phân tích nguồn gốc phát hiện, vị trí phân loại học, đặc điểm hình thái kích thước (chiều dài 18 - 34 µm, trung bình 25 µm; chiều rộng 1,5 - 2 µm) với cấu trúc vi ống và roi vận động xuất phát từ thể kinetoplast. Phần sinh lý bệnh phân tích chi tiết cơ chế tác động của độc tố Trypanotoxin lên trung khu điều nhiệt gây các cơn sốt ngắt quãng (39,5°C - 41,7°C), tác động phá hủy tế bào máu dẫn đến giảm số lượng hồng cầu, giảm huyết sắc tố, biến đổi thành phần bạch cầu (bạch cầu lympho và ái toan tăng, bạch cầu trung tính giảm). Dịch tễ học bệnh Surra được tổng hợp trên phạm vi toàn cầu (châu Phi, châu Á, Nam Mỹ) và lịch sử nghiên cứu tại Việt Nam từ năm 1960. Tác giả khảo cứu vai trò truyền lây cơ học của 53 loài mòng (họ Tabanidae) và 4 loài ruồi hút máu (họ Muscidae, phân họ Stomoxydinae), chỉ ra thời gian tồn tại của mầm bệnh trong vòi hút côn trùng kéo dài đến 53 giờ (hoạt lực mạnh nhất trong 34 giờ đầu). Đồng thời, chương này tổng kết ưu nhược điểm của các phương pháp chẩn đoán (soi tươi, Giemsa, tập trung Haematocrit, tách cột DEAE-cellulose, tiêm truyền chuột, SAT, LATEX, CATT, IFAT, ELISA, PCR) và các loại hóa dược trị bệnh như Naganin, Novarsenobenzol, Berenyl, Trypamidium samorin, Trypazen.

Phần 3: Đối tượng, vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 quy định chuẩn hóa vật liệu và phương pháp thực nghiệm. Đối tượng khảo sát là đàn trâu tại 5 xã của huyện Chi Lăng; vật liệu chẩn đoán là Kit CATT chứa kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2 phủ hạt latex, chuột nhắt trắng khỏe mạnh đạt trọng lượng 18 - 20 g. Quy trình phản ứng ngưng kết CATT được chuẩn hóa theo từng bước: sử dụng 10 µl kháng nguyên và 10 µl huyết thanh pha loãng, quan sát phản ứng sau 3 - 5 phút. Quy định điều tra dịch tễ phân chia đàn trâu thành 4 nhóm tuổi (≤ 2 tuổi; > 2 - 5 tuổi; > 5 - 8 tuổi; > 8 tuổi), phân chia theo tính biệt (đực, cái) và theo dõi trong 5 tháng (tháng 6, 7, 8, 9, 10). Nội dung thử nghiệm xây dựng 3 phác đồ điều trị được thiết kế như sau:

Thành phần phác đồ Phác đồ 1 Phác đồ 2 Phác đồ 3
Thuốc đặc trị Phar - trypazen (0,5 mg/kg TT, tiêm sâu bắp thịt) Trypamidium samorin (1 mg/kg TT, tiêm bắp) Trypanosoma (1 mg/kg TT, tiêm bắp)
Thuốc trợ tim Cafein 20% (15 ml/con, tiêm bắp) Cafein 20% (15 ml/con, tiêm bắp) Cafein 20% (15 ml/con, tiêm bắp)
Dung dịch bù dịch Nước sinh lý mặn (200 ml/con, truyền tĩnh mạch) Nước sinh lý mặn (200 ml/con, truyền tĩnh mạch) Nước sinh lý mặn (200 ml/con, truyền tĩnh mạch)
Thuốc trợ sức, trợ lực Vitamin C 5% (20 ml/con) + Vitamin B1 2,5% (20 ml/con, tiêm bắp) Vitamin C 5% (20 ml/con) + Vitamin B1 2,5% (20 ml/con, tiêm bắp) Vitamin C 5% (20 ml/con) + Vitamin B1 2,5% (20 ml/con, tiêm bắp)
Nguyên tắc áp dụng Dùng trợ tim, trợ lực trước thuốc đặc trị 30 phút Dùng trợ tim, trợ lực trước thuốc đặc trị 30 phút Dùng trợ tim, trợ lực trước thuốc đặc trị 30 phút

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Chương kết quả công bố các số liệu định lượng thu được từ thực địa và phòng thí nghiệm trên tổng số 220 trâu điều tra:

  • Tỷ lệ nhiễm theo địa bàn: Kiểm tra 220 trâu tại 5 xã bằng cả hai phương pháp (Kit CATT và tiêm truyền chuột bạch) đều phát hiện 59 trâu dương tính, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 26,81%. Trong đó, xã Mai Sao có tỷ lệ nhiễm cao nhất đạt 33,33% (12/36 trâu), tiếp đến là xã Hữu Kiên đạt 31,25% (15/48 trâu), xã Bắc Thủy đạt 26,92% (14/52 trâu), xã Quang Lang đạt 23,68% (9/38 trâu), và xã Hòa Lạc có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 19,56% (9/46 trâu). Sự sai khác này được tác giả giải thích do Mai Sao có mạng lưới sông ngòi, ao hồ và diện tích lúa nước lớn, trâu chăn thả tập trung trên các bãi hẹp tạo mật độ tiếp xúc cao với mòng và ruồi hút máu, trong khi xã Hòa Lạc các hộ có bãi chăn thả riêng biệt.
  • Tỷ lệ nhiễm theo lứa tuổi: Tỷ lệ nhiễm có xu hướng tăng lũy tiến theo độ tuổi của trâu. Nhóm trâu dưới 2 tuổi có tỷ lệ nhiễm thấp nhất là 19,35% (12/62 trâu); nhóm trâu từ > 2 - 5 tuổi đạt tỷ lệ nhiễm 24,56% (14/57 trâu); nhóm trâu từ > 5 - 8 tuổi đạt tỷ lệ nhiễm 31,88% (22/69 trâu); và nhóm trâu già trên 8 tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất là 34,38% (11/32 trâu). Tác giả phân tích trâu non có mức độ tiếp xúc với vector ít hơn, khả năng tái tạo máu nhanh và còn kháng thể thụ động từ mẹ; ngược lại, trâu trên 8 tuổi sức đề kháng suy giảm, thời gian tiếp xúc tích lũy với côn trùng dài và phải chịu áp lực lao tác cày kéo, sinh sản liên tục.
  • Tỷ lệ nhiễm theo tính biệt: Khảo sát trên 84 trâu đực và 136 trâu cái ghi nhận tỷ lệ nhiễm ở trâu đực là 25,00% (21/84 trâu) và trâu cái là 27,94% (38/136 trâu), cho thấy sự chênh lệch giữa hai giới tính là không lớn, phản ánh nguy cơ nhiễm bệnh phụ thuộc chính vào mức độ tiếp xúc với vật truyền lây chứ không mang tính biệt hóa rõ rệt theo giới tính.

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Chương tổng kết các phát hiện dịch tễ học cốt lõi tại địa bàn huyện Chi Lăng, khẳng định giá trị thực tiễn của Kit CATT RoTAT 1.2 trong chẩn đoán nhanh tại thực địa tương đương với phương pháp chuẩn tiêm truyền động vật thí nghiệm, đồng thời đưa ra các đề xuất về biện pháp kỹ thuật thú y nhằm quản lý đàn trâu, kiểm soát côn trùng môi giới và quy trình điều trị hóa dược định kỳ tại địa phương.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu mang lại những kết quả định lượng cụ thể về dịch tễ học ký sinh trùng đường máu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn trong năm 2014, được tổng hợp qua bảng số liệu sau:

Tiêu chí phân loại dịch tễ Phân nhóm khảo sát Số trâu kiểm tra (con) Số trâu nhiễm Kit CATT (con) Số trâu nhiễm Tiêm truyền chuột (con) Tỷ lệ nhiễm (%)
Địa bàn hành chính (xã) Mai Sao 36 12 12 33,33
Hữu Kiên 48 15 15 31,25
Bắc Thủy 52 14 14 26,92
Quang Lang 38 9 9 23,68
Hòa Lạc 46 9 9 19,56
Lứa tuổi ≤ 2 tuổi 62 12 12 19,35
> 2 – 5 tuổi 57 14 14 24,56
> 5 – 8 tuổi 69 22 22 31,88
> 8 tuổi 32 11 11 34,38
Tính biệt Trâu đực 84 21 21 25,00
Trâu cái 136 38 38 27,94
Tính chung toàn huyện Toàn bộ mẫu 220 59 59 26,81

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở hai khía cạnh học thuật và thực tiễn:

  • Đánh giá năng lực chẩn đoán của Kit CATT: Kết quả thử nghiệm trên 220 mẫu huyết thanh thực địa cho thấy Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2 cho kết quả phát hiện trùng khớp 100% với phương pháp tiêm truyền chuột bạch (cùng phát hiện 59 ca dương tính, tỷ lệ 26,81%). Điều này chứng minh Kit CATT hoàn toàn có thể thay thế phương pháp tiêm truyền chuột bạch vốn đòi hỏi thời gian nuôi dưỡng, theo dõi động vật phức tạp và kéo dài.
  • Xây dựng giải pháp phòng trị đồng bộ: Khóa luận đã hệ thống hóa quy trình can thiệp lâm sàng thông qua 3 phác đồ điều trị có sự phối hợp bắt buộc giữa thuốc diệt ký sinh trùng (Phar - trypazen, Trypamidium samorin, Trypanosoma) và các thuốc nâng đỡ thể trạng (Cafein natri benzoat 20%, truyền dung dịch mặn sinh lý, Vitamin C, Vitamin B1) trước 30 phút nhằm hạn chế hiện tượng sốc thuốc và kiệt sức ở trâu bệnh.
  • Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Tỷ lệ nhiễm 26,81% tại Chi Lăng phù hợp và bổ sung dữ liệu thực địa cho các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Doanh tại Bắc Thái (26,57%), Hà Bắc (25,94%) và Phan Lục tại một số tỉnh phía Bắc (26,92%), cung cấp bức tranh chi tiết về dịch tễ học ký sinh trùng đường máu tại vùng núi Lạng Sơn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện của sinh viên đại học:

  • Giới hạn về thời gian và mùa vụ: Đề tài thực hiện trong vòng 6 tháng (từ tháng 6 đến tháng 11 năm 2014), chu kỳ theo dõi dịch tễ chỉ tập trung vào các tháng nóng ẩm (tháng 6, 7, 8, 9, 10). Nghiên cứu chưa theo dõi được trọn vẹn diễn biến dịch tễ vào mùa đông - xuân, thời điểm trâu bị rét và thiếu thức ăn, là giai đoạn bệnh dễ bùng phát thể cấp tính theo lý thuyết đã nêu.
  • Phạm vi địa bàn và đối tượng: Nghiên cứu mới dừng lại ở phạm vi 5 xã thuộc huyện Chi Lăng và chỉ tập trung trên đối tượng trâu, chưa mở rộng khảo sát trên đàn bò và các loài gia súc khác cùng chăn thả trong khu vực.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được văn bản định hướng:

  • Mở rộng phạm vi điều tra dịch tễ học bệnh tiên mao trùng quanh năm (đủ 12 tháng) trên nhiều huyện khác nhau của tỉnh Lạng Sơn nhằm xác lập bản đồ dịch tễ hoàn chỉnh.
  • Triển khai ứng dụng Kit CATT rộng rãi ở cấp trạm thú y huyện và mạng lưới thú y viên cơ sở để phục vụ công tác kiểm dịch động vật lưu thông, chẩn đoán sớm và giám sát hiệu quả phác đồ điều trị trên diện rộng.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Thú y, Chăn nuôi Thú y và Ký sinh trùng học động vật: Cung cấp tài liệu tổng quan chi tiết về hình thái, cơ chế biến đổi kháng nguyên VSG, sinh lý bệnh và phương pháp chẩn đoán ký sinh trùng đường máu.
  • Cán bộ kỹ thuật tại các Trạm Thú y, Chi cục Thú y các tỉnh miền núi: Có thể trực tiếp ứng dụng quy trình kỹ thuật sử dụng Kit CATT RoTAT 1.2 (liều lượng 10 µl, thời gian đọc 3 - 5 phút) để chẩn đoán sàng lọc nhanh tại hiện trường mà không cần phòng nuôi động vật thí nghiệm.
  • Người chăn nuôi và cán bộ điều trị thực địa: Tham khảo nguyên tắc thiết kế 3 phác đồ điều trị, đặc biệt là quy tắc bổ trợ thuốc trợ tim Cafein và dung dịch điện giải, vitamin trước khi tiêm thuốc đặc trị 30 phút để bảo vệ an toàn tính mạng cho gia súc bệnh.

Câu hỏi thường gặp

1. Kháng nguyên sử dụng trong Kit CATT của nghiên cứu này là loại nào và bộ kit gồm những thành phần gì?
Kháng nguyên sử dụng trong Kit CATT là kháng nguyên RoTAT 1.2 chế tạo từ công nghệ tái tổ hợp, được phủ lên các hạt latex. Bộ kit hoàn chỉnh gồm có: 1 tube màu vàng chứa 1,5 ml kháng nguyên RoTAT 1.2 phủ hạt latex; 1 tube màu xanh chứa 1 ml huyết thanh âm tính chuẩn; 1 tube màu đỏ chứa 1 ml huyết thanh dương tính chuẩn đặc hiệu với T. evansi; 1 ống Falcon 20 ml chứa dung dịch pha loãng huyết thanh; 3 card phản ứng và 5 que khuấy nhựa.

2. Tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng ở trâu tại huyện Chi Lăng qua điều tra là bao nhiêu và phân bố giữa các xã như thế nào?
Tổng số trâu được kiểm tra là 220 con tại 5 xã, ghi nhận 59 trâu nhiễm bệnh, đạt tỷ lệ nhiễm chung là 26,81%. Phân bố tỷ lệ nhiễm theo từng xã lần lượt là: Mai Sao cao nhất với 33,33% (12/36 trâu), Hữu Kiên đạt 31,25% (15/48 trâu), Bắc Thủy đạt 26,92% (14/52 trâu), Quang Lang đạt 23,68% (9/38 trâu), và Hòa Lạc thấp nhất với 19,56% (9/46 trâu).

3. Tại sao trâu trên 8 tuổi lại có tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng cao nhất trong các nhóm tuổi?
Trâu trên 8 tuổi có tỷ lệ nhiễm cao nhất (34,38%) do nhiều yếu tố kết hợp: đây là nhóm trâu già có sức đề kháng suy giảm; thời gian sống dài khiến cơ hội tiếp xúc và bị ruồi, mòng đốt hút máu tích lũy nhiều hơn; đồng thời người dân vẫn sử dụng trâu già để lao tác cày kéo nặng hoặc trâu cái vẫn phải sinh sản, làm suy yếu thể trạng và tạo điều kiện thuận lợi cho ký sinh trùng nhân lên trong máu.

4. Ba phác đồ điều trị tiên mao trùng trong khóa luận sử dụng những hóa dược đặc hiệu nào và liều lượng ra sao?
Ba phác đồ sử dụng ba loại thuốc diệt ký sinh trùng khác nhau gồm: Phác đồ 1 dùng Phar - trypazen liều 0,5 mg/kg thể trọng (tiêm sâu bắp thịt); Phác đồ 2 dùng Trypamidium samorin liều 1 mg/kg thể trọng (tiêm bắp); Phác đồ 3 dùng Trypanosoma liều 1 mg/kg thể trọng (tiêm bắp). Cả ba phác đồ đều dùng chung công thức trợ tim, trợ lực gồm Cafein 20% (15 ml/con), truyền tĩnh mạch 200 ml nước sinh lý mặn, tiêm bắp Vitamin C 5% (20 ml/con) và Vitamin B1 2,5% (20 ml/con) trước khi tiêm thuốc đặc trị 30 phút.

5. Kết quả thử nghiệm Kit CATT có sự sai lệch nào so với phương pháp tiêm truyền chuột bạch hay không?
Trong nghiên cứu này không có sự sai lệch. Kiểm tra 220 mẫu trâu tại 5 xã cho thấy cả hai phương pháp Kit CATT và tiêm truyền chuột bạch đều xác định chính xác 59 mẫu dương tính, cùng đạt tỷ lệ 26,81%. Điều này chứng minh Kit CATT có độ chính xác tương đương phương pháp tiêm truyền chuột bạch trên thực địa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Liễu Bích Diệp đã thực hiện thành công việc ứng dụng Kit CATT chế tạo từ kháng nguyên tái tổ hợp RoTAT 1.2 để xác định tỷ lệ nhiễm tiên mao trùng (Trypanosoma evansi) trên đàn trâu tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đạt mức 26,81%. Nghiên cứu làm sáng tỏ các đặc điểm dịch tễ học quan trọng về sự phân bố mầm bệnh theo địa bàn chăn thả, lứa tuổi và tính biệt của gia súc. Đồng thời, công trình đã chuẩn hóa quy trình xét nghiệm nhanh và thiết lập hệ thống phác đồ điều trị phối hợp hóa dược đặc hiệu với thuốc trợ sức, đóng góp cơ sở khoa học và giải pháp kỹ thuật thiết thực cho công tác thú y tại các địa phương miền núi.