Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giải phẫu và sinh lý bộ máy hô hấp trẻ em Sơ sinh và nhũ nhi: - Đường hô hấp hẹp và ngắn nên dễ bị tắc và viêm lan tỏa. - Niêm mạc hô hấp nhiều mao mạch nên khi viêm dễ phù nề và xuất tiết gây chít hẹp đường thở. - Số lượng phế nang ít.
Kích thước phế nang nhỏ. - Thông khí bàng hệ kém nên dễ bị xẹp phổi. - Lồng ngực mềm, các xương sườn nằm ngang, dãn nở kém và dễ bị biến dạng. - Các cơ hô hấp hoạt động chưa tốt, trẻ chủ yếu thở bằng bụng.
- Não điều hòa nhịp thở chưa tốt, trẻ dễ có cơn ngưng thở hoặc thở không đều. Trẻ lớn: - Bộ máy hô hấp phát triển nhanh. - Các tiểu phế quản tăng nhanh về đường kính và chiều dài. Số lượng phế nang tăng làm tăng diện tích trao đổi.
Kích thước phế nang phát triển từ 2 – 3 tuổi đến tuổi dậy thì. - Thông khí bàng hệ qua lỗ Kohn và kênh Lambert xuất hiện lúc 2 – 8 tuổi. - Lồng ngực phát triển tốt, cơ hô hấp mạnh hơn và hoạt động vỏ não hoàn chỉnh [8]. Định nghĩa Viêm phổi là tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp dưới, kể cả đường dẫn khí và nhu mô phổi.
Thuật ngữ nhiễm khuẩn hô hấp dưới bao gồm viêm phế quản, viêm tiểu phế quản, viêm phổi hoặc sự kết hợp cả ba bệnh này, có thể khó phân biệt trên lâm sàng [40]. Theo Tổ chức y tế thế giới, viêm phổi bao gồm viêm phế quản, viêm phế quản phổi, viêm phổi thùy, áp xe phổi [8]. Dịch tễ học Theo WHO ước đoán trong năm 2000 đến 2003, có khoảng 2 triệu trẻ tử vong do viêm phổi, chiếm 19% trên tổng số 10,6 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong. Hầu hết tử vong do viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi xảy ra ở các nước đang phát triển, chiếm khoảng 90%, cứ mỗi 7 giây có một trẻ chết vì nhiễm khuẩn hô hấp cấp.
Châu Phi là khu vực có tỉ lệ tử vong cao nhất (40%). So với các nước đang phát triển thì ở các nước phát triển như châu Âu, Mỹ, Tây Thái Bình Dương tử vong chỉ chiếm 2% trên tổng số [38], [43]. Ở Việt Nam, theo giáo sư Nguyễn Đình Hường, tử vong do viêm phổi là 2,8%; chiếm 33% tổng số tử vong do mọi nguyên nhân. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, viêm phổi có tỷ lệ nhập viện cao đứng hàng thứ 2 sau tiêu chảy.
Năm 2004, viêm phổi chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số bệnh lý hô hấp (45%) [8]. Do vi sinh Virus: Đây là nguyên nhân ưu thế gây viêm phổi ở trẻ em. Lây truyền có thể do tiếp xúc trực tiếp hoặc qua các giọt chất tiết lớn hoặc các hạt khí dung. Virus chiếm 80 - 85% nguyên nhân gây viêm phổi ở trẻ em Mỹ, chủ yếu là virus đường hô hấp: virus hợp bào hô hấp (RSV), á cúm, cúm có thể gây dịch; Adenovirus và Picornavirus rải rác quanh năm.
Năm 2004, RSV chiếm 33% nguyên nhân gây viêm phế quản phổi ở trẻ em dưới 2 tuổi tại Bệnh viện Nhi Đồng 2 [8]. pneumoniae là tác nhân gây viêm phổi phổ biến nhất ở trẻ em trên toàn thế giới ở cả hai nhóm bệnh nội trú và ngoại trú, và ở mọi độ tuổi [41], [44]. Theo nghiên cứu ở Peru, S. pneumoniae chiếm 90% trong tổng số các nguyên nhân gây viêm phổi do vi khuẩn [33].
Ngoài ra còn có nhiều tác nhân gây bệnh khác, trong đó có tác nhân không điển hình như: Mycoplasma pneumoniae, Clamydophila pneumoniae,. Tùy vào các lứa tuổi khác nhau mà tác nhân gây bệnh có thể khác nhau. Tác nhân phổ biến gây VP dựa theo tuổi NHÓM TUỔI TÁC NHÂN THƯỜNG GẶP Sơ sinh Streptococcus nhóm B, vi khuẩn gram âm đường ruột Chlamydia trachomatis, Ureaplasma urealyticum, siêu vi, 1 – 3 tháng Bordetella pertussis Siêu vi, S. influenzae, Staphylococcus aureus, 1 – 12 tháng Moraxella catarrhalis Siêu vi, S.
pneumoniae, Clamydophila 1 – 5 tuổi pneumoniae Trên 5 tuổi S. pneumoniae, Chlamydophila pneumoniae “Nguồn: Kendig' s Disorders of The Respiratory Tract in Children (2012)” [41] Nấm Histoplasma capsulatum (theo vùng địa lý, tiếp xúc với chim, dơi), Cryptococcus neoformans (tiếp xúc chim), Aspergillus species (cơ địa suy giảm miễn dịch),. Ký sinh trùng Pneumocystic carinii (cơ địa suy giảm miễn dịch, steroid) [44]. Không do vi sinh - Hít, sặc: thức ăn, dịch vị, dị vật, dầu hôi.
- Quá mẫn, thuốc, chất phóng xạ [8]. Cơ chế bệnh sinh Bình thường đường hô hấp dưới vô trùng do cơ chế đề kháng của đường hô hấp: - Phản xạ đóng thanh quản khi nuốt, hít. - Phản xạ đẩy các chất dịch ra khỏi khí phế quản. - Lớp lông chuyển bám dính chất lạ đẩy ra ngoài.
- IgA đường hô hấp chống virus và ngưng kết vi khuẩn. - IgG trong huyết thanh và đường hô hấp dưới ngưng kết vi khuẩn, thúc đẩy hóa hướng động bạch cấu hạt và đại thực bào, trung hòa độc tố vi khuẩn. - Đại thực bào phế nang thực bào. - Bạch cầu đa nhân trung tính huy động giết vi khuẩn.
6 Tác nhân gây bệnh vào phổi theo 2 đường: Qua đường hô hấp: - Viêm phổi thường sau nhiễm virus do rối loạn hoạt động của lớp trụ lông, ức chế đại thực bào, gây rối loạn miễn dịch tế bào. - Hít không khí có vi trùng, hóa chất gây tổn thương cấp tính cơ chế đề kháng của phổi. Qua đường máu: ít gặp hơn, sau ổ nhiễm trùng nơi khác (viêm nội tâm mạc, viêm da cơ) [8]. Triệu chứng lâm sàng của viêm phổi 1.1 Giai đoạn khởi phát: với các triệu chứng không đặc hiệu như sốt, ho, sổ mũi, nôn ói, biếng ăn, quấy khóc,… 1.
Giai đoạn toàn phát: biểu hiện đầy đủ các dấu hiệu và triệu chứng của viêm phổi. Có thể gồm 4 nhóm dấu hiệu và triệu chứng sau: Nhóm dấu hiệu, triệu chứng không đặc hiệu: sốt, mệt mỏi, quấy khóc, nôn ói, tiêu chảy, chướng bụng,… Nhóm dấu hiệu, triệu chứng tại phổi: có giá trị nhất cho chẩn đoán viêm phổi nhưng nhiều khi không biểu hiện rõ ở trẻ nhỏ. - Ho: lúc đầu ho khan, sau đó ho có đàm, có thể không ho ở trẻ nhỏ. - Thở nhanh: ngưỡng thở nhanh theo WHO: + Trẻ <2 tháng: thở nhanh khi nhịp thở ≥60 lần/phút.
+ Trẻ 2 – <11 tháng: thở nhanh khi nhịp thở ≥50 lần/phút. + Trẻ 1 – 5 tuổi: thở nhanh khi nhịp thở ≥40 lần/phút [51]. Theo Shamo’ on và cs, thở nhanh là triệu chứng thực thể nhạy nhất (99%) và có độ đặc hiệu cao (88%) trong chẩn đoán viêm phổi [39]. Các dấu hiệu khác liên quan đến độ nặng của viêm phổi như rút lõm lồng ngực, phập phồng cánh mũi và tím tái [34].
Khò khè không giúp xác định độ nặng nhưng nó xuất hiện khoảng 30% trong viêm phổi do M. Co lõm ngực và/hoặc thở >50 lần/phút có giá trị tiên đoán dương 45% và giá trị tiên đoán âm 83% đối với bằng chứng X quang đông đặc phổi [26]. 7 - Nghe có thể có phế âm thô, tiếng vang thanh khí phế quản, giảm phế âm, ran nổ, ran ẩm nhỏ hạt thường ở trẻ lớn và có thể không có ở trẻ nhũ nhi. - Gõ đục khi có đông đặc phổi hoặc tràn dịch màng phổi, gõ đục sớm nhất ở vùng liên bả vai, dưới góc xương bả vai và vùng nách.
- Những dấu hiệu ở phổi trẻ lớn hơn bao gồm: gõ đục, giảm rung thanh, giảm phế âm và ran nổ trên vùng bệnh. Nhóm triệu chứng màng phổi: đau ngực khi thở, hội chứng ba giảm. Nhóm triệu chứng ngoài phổi: - Nhọt da, viêm cơ đi kèm với viêm phổi do liên cầu nhóm A hoặc tụ cầu. - Viêm tai giữa, viêm xoang, viêm màng não đi kèm với viêm phổi do phế cầu hoặc Haemophilus influenzae type b.
- Viêm thanh thiệt, viêm màng ngoài tim đi kèm với viêm phổi do Haemophilus influenzae type b [8]. Cận lâm sàng 1. X quang phổi: giúp xác định chẩn đoán, góp phần xác định nguyên nhân và cho biết độ nặng của viêm phổi. Bóng mờ ở phổi được chia làm 3 loại, tùy bệnh lý phế nang hay mô kẽ: Viêm phổi thùy, phân thùy (thường do phế cầu hoặc các vi khuẩn khác): - Mờ đồng nhất thùy hoặc phân thùy.
- Có hình ảnh khí nội phế quản trên bóng mờ. Viêm phổi mô kẽ (thường do virus hoặc Mycoplasma): - Sung huyết mạch máu phế quản - Dày thành phế quản. - Tăng sáng phế trường. - Mờ từng mảng do xẹp phổi.
Viêm phế quản phổi (thường do tụ cầu hoặc các vi khuẩn khác): - Rốn phổi đậm, có thể phì đại hạch rốn phổi. - Tăng sinh tuần hoàn phổi ra 1/3 ngoài phế trường. - Thâm nhiễm lan ra ngoại biên cả hai phế trường. 8 Tuy nhiên X quang không tương xứng với biểu hiện lâm sàng nhất là ở nhũ nhi và trẻ nhỏ.
Thường thấy tổn thương nặng trên X quang trong khi không có dấu hiệu lâm sàng. Dấu hiệu X quang vẫn còn tồn tại vài tuần sau khi cải thiện lâm sàng nên không cần thiết chụp phổi lúc ra viện [8]. Xét nghiệm máu Bạch cầu tăng >15.000/mm3 với ưu thế đa nhân trung tính gợi ý viêm phổi do vi khuẩn. Bạch cầu bình thường hoặc tăng nhẹ với ưu thế lympho gợi ý viêm phổi do virus.
Tiểu cầu tăng trong >90% viêm phổi do vi khuẩn. VS, CRP: là dấu hiệu chỉ điểm không đặc hiệu của tình trạng viêm, ít hữu ích trong điều trị. VS tăng trong viêm phổi mạn, kéo dài hoặc có biến chứng. CRP tăng ≥ 20mg/l trong viêm phổi cấp, gợi ý do vi khuẩn [8].
Cấy máu Là phương pháp đặc hiệu giúp xác định tác nhân gây bệnh nhưng tỉ lệ dương tính thường rất thấp. - Tỉ lệ phần trăm cấy máu dương tính ở bệnh nhi cấp cứu VP là 3 – 11%. - Tỉ lệ phần trăm cấy máu dương tính VP mắc phải trong bệnh viện 2 – 5%. - Tỉ lệ phần trăm cấy máu dương tính trong viêm phổi do phế cầu hoặc H.
influenzae type b là 25 – 95%, và do tụ cầu là 33,3% [8]. Cấy đàm Mẫu đàm chỉ có giá trị khi không được lẫn vi trùng vùng miệng hầu và phải lấy từ đường hô hấp dưới. Mẫu đàm được xem là đạt chuẩn khi có tế bào trụ, <10 tế bào biểu mô và >25 bạch cầu đa nhân trên một quang trường 100 [8], [46]. Hút dịch khí quản qua đường mũi (NTA): đây là phương pháp chẩn đoán không xâm lấn, an toàn, dễ thực hiện.
Mẫu đàm lấy được có thể lẫn vi trùng đường hô hấp trên. Tuy nhiên, kết quả có thể tham khảo được nếu lấy đúng kỹ thuật. Mẫu đàm có thể bị ngoại nhiễm bởi các vi trùng thường trú tại miệng hầu do đó cần phải được đánh giá trước khi tiến hành nuôi cấy.