CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Định nghĩa hen phế quản Cho đến nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về hen phế quản và được cập nhật hàng năm, năm 2016 Bộ Y tế định nghĩa : “Hen là tình trạng viêm mạn tính đường thở với sự tham gia của nhiều tế bào và thành phần tế bào làm tăng tính đáp ứng đường thở (co thắt, phù nề, tăng tiết đờm) gây tắc nghẽn, hạn chế luồng khí thở làm xuất hiện các dấu hiệu khò khè, khó thở, nặng ngực và ho tái diễn nhiều lần, thường xảy ra ban đêm và sáng sớm có thể hồi phục tự nhiên hoặc do dùng thuốc.Tình trạng phổi, đường dẫn khí của người bệnh HPQ Thư viện ĐH Thăng Long 4 1. Dịch tễ học hen phế quản Tỷ lệ mắc hen phế quản ở trẻ Song song với sự phát triển của khoa học công nghệ, vấn nạn ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, thói quen hút thuốc lá… không chỉ tác động đến đời sống kinh tế, xã hội mà càng làm gia tăng đáng kể bệnh lý của đường hô hấp đặc biệt là hen.Hiện nay trên thế giới ước tính có khoảng 300 triệu người mắc hen.
Theo các nghiên cứu quốc tế về hen và dị ứng ở trẻ em (ISAAC), tần suất hen ở trẻ giao động từ 3% đến 20% ở các nước khác nhau. Các nước vùng cận nhiệt đới có tỷ lệ trẻ mắc hen cao nhất. Ngược lại ở các nước đang phát triển và các nước thuộc vùng nhiệt đới, tỷ lệ trẻ mắc hen thấp hơn .[49], [52] Tỷ lệ mắc hen ngày càng tăng trên thế giới cũng như ở Việt Nam, làm ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng người bệnh, là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Hiện nay trên thế giới có khoảng 300 triệu người mắc hen, dao động từ 4-12% dân số ở các nước phát triển và đang phát triển [3].
Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới (WHO), cứ 10 năm tỷ lệ mắc hen tăng lên 20-50%, đặc biệt 20 năm qua tốc độ này ngày càng tăng nhanh hơn. Tỷ lệ mắc hen ở mỗi vùng, mỗi lứa tuổi rất khác nhau.Hen hay gặp ở những nước công nghiệp có nền kinh tế phát triển, có tốc độ đô thị hóa cao, ít gặp hơn ở các nước kém phát triển. Các nước như: Anh, Australia, Newzeland có tỷ lệ mắc hen cao trong khi đó Uzơbekistan là nước có tỷ lệ mắc hen thấp nhất thế giới là 1,4%. Tỷ lệ hen ở nhóm trẻ 13-14 tuổi cũng khác nhau tùy từng nước, và thay đổi từ 2% đến 26%.
Tỷ lệ hen thấp ở một số nước đang phát triển và Đông Âu trong khi tỷ lệ này cao ở các nước Mỹ Latin. Nghiên cứu cũng chỉ ra sự tăng tỷ lệ mắc hen ở các nước có tỷ lệ hen thấp. Điều này gợi ý vai trò quan trọng của yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ hen ở trẻ em.[54] 5 Tại Việt Nam, tỷ lệ trẻ em mắc bệnh hen khá cao và có chiều hướng ngày càng gia tăng. Theo công bố của Bộ Y tế, tỷ lệ hen năm 2000 từ 8-9%, đến năm 2004 là 10%.
Đặc biệt, tại thành phố Hồ Chí Minh, theo nghiên cứu của tổ chức quốc tế về hen và dị ứng trẻ em năm 2004, có đến 29,1% trẻ em từng bị khò khè, con số thuộc loại cao nhất châu Á.[19] Một nghiên cứu tại Hà Nội năm 2003 trên trẻ em từ 5-11 tuổi chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ đã từng bị khò khè là 24,9%, khò khè trong vòng 12 tháng qua là 14,9%, từng bị HPQ là 12,1%, HPQ được chẩn đoán bởi bác sĩ là 13,9%. Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đoàn và Trần Thuý Hạnh năm 2011 trên 7 vùng miền khác nhau của Việt Nam cho thấy tỷ lệ mắc hen chung là 3,9%, trong đó tỷ lệ mắc hen ở trẻ em là 3,1%[27]. Tỷ lệ tử vong Tỷ lệ tử vong không phụ thuộc vào độ lưu hành của hen, một số nước có tỷ lệ mắc thấp nhưng tỷ lệ tử vong lại cao như Nga, Uzbekistan, Albani. Tỷ lệ tử vong do hen cũng tăng lên rõ rệt, hàng năm có khoảng 20-25 nghìn người tử vong do hen.
Theo GINA năm 2010, số bệnh nhân tử vong do hen là 250. Trung bình cứ 250 người tử vong có 1 người tử vong liên quan đến hen. Không có mối liên quan giữa tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong do hen.[42] Ở Việt Nam hiện chưa có con số thống kê đầy đủ, tuy nhiên với khoảng 4 triệu người mắc hen thì chắc chắn tỷ lệ tử vong không phải là thấp. Tỷ lệ tử vong phụ thuộc độ lưu hành hen tăng, chẩn đoán và điều trị hen không đúng, chủ quan trong việc quản lý, kiểm soát hen.
Việc quản lý và điều trị dự phòng tái diễn cũng như cung cấp kiến thức nhằm đáp ứng yêu cầu về phòng chống hen GINA [7], [28]. Gánh nặng bệnh tật Đối với trẻ khi bị hen: khi cơn hen khởi phát kiến trẻ nghỉ học nhiều ngày ảnh hưởng đến học tập đến sinh hoạt hàng ngày khiến trẻ mệt mỏi với chính căn bệnh của mình và cũng là một trong những nguyên nhân khiến trẻ phải nghỉ học nhiều ngày. Có tới 40 % trẻ phải nghỉ học mỗi khi phát bệnh, trung bình trẻ mắc HPQ phải nghỉ học 10 – 15 ngày trong năm 5 Thư viện ĐH Thăng Long 6 Đối với gia đình: Hen phế quản khiến tốn kém thời gian, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày của gia đình. Đối với xã hội: Thiệt hại do hen gây ra cho xã hội bao gồm các chi phí trực tiếp (khám bệnh, xét nghiệm, thuốc, viện phí.) và cả các chi phí gián tiếp (ngày nghỉ việc, nghỉ học, giảm khả năng lao động, chất lượng cuộc sống giảm sút), số ngày nghỉ làm việc của người lớn trong gia đình tăng lên do phải chăm sóc trẻ, năng suất lao động giảm sút, thiếu nhiệt tình, giới hạn hoạt động, thiếu hoà nhập xã hội.
Theo WHO (1998) chi phí cho bệnh HPQ của nhân loại lớn hơn hai căn bệnh hiểm nghèo là HIV và lao cộng lại. Theo GINA chi phí trực tiếp cho phòng chống hen phế quản chiếm 1 – 3% tổng chi phí y tế ở hầu hết các quốc gia [42], [15]. Theo tác giả Trương Văn Lâm, gánh nặng kinh tế xã hội của bệnh hen nghiên cứu trên 1.762 trẻ em nhập viện tại khoa Hô hấp, Bệnh viện Nhi Đồng II từ tháng 7/2006 đến tháng 6/2007: tổng số ngày nằm viện: 10.545 ngày, tổng số ngày nghỉ học: 864 ngày, chi phí bình quân cho một đợt điều trị mỗi bệnh nhân là 466. Những con số thống kê ở Hà Nội cho thấy, mỗi bệnh nhân hen nếu không được kiểm soát tốt mỗi năm phải vào viện cấp cứu trung bình 2 – 4 lần, mỗi lần nhập viện chi phí 2 – 3 triệu đồng, chưa kể các tổn thất gây ra do nghỉ học, nghỉ việc, mất việc và giảm chất lượng cuộc sống [25].
Cơ chế bệnh sinh - Viêm mạn tính đường thở: là yếu tố chủ yếu trong bệnh sinh của hen phế quản, có sự tham gia của nhiều tế bào, thành phần tế bào và các hóa chất trung gian. - Co thắt phế quản - Tăng tính phản ứng của đường thở với các tác nhân kích thích. 7 Yếu tố nguy cơ (làm phát sinh bệnh hen) Viêm phế quản mạn tính Tăng đáp ứng Yếu tố nguy cơ Co thắt cơ đường thở (Gây cơn hen cấp) trơn phế quản Triệu chứng của Hen Hình 1. Hen cấp với các triệu chứng khó thở, khò khè, ho và nặng ngực.
Các quá trình bệnh lý trong hen phế quản (GINA 2004) Các quá trình bệnh lý trên kết hợp với các yếu tố nguy cơ từ môi trường làm xuất hiện cơn 1. Phân bậc hen phế quản. Phân bậc hen theo mức độ nặng nhẹ. * Đối với trẻ ≤ 5 tuổi.
[1],[14] Chia làm 3 mức độ - Hen ngắt quãng không thường xuyên: + Trên 6 - 8 tuần mới có một đợt bùng phát + Giữa các đợt trẻ hoàn toàn bình thường + Đợt bùng phát kéo dài 1 - 2 ngày - Hen ngắt quãng thường xuyên: Thư viện ĐH Thăng Long 8 + Dưới 6 - 8 tuần có một đợt bùng phát. + Có rất ít các triệu chứng giữa các đợt bùng phát. + Mức độ nặng của cơn hen cũng thay đổi tùy theo bệnh. - Hen dai dẳng: + Triệu chứng có ở hầu hết các ngày, triệu chứng bao gồm: Bị thức giấc do ho, khò khè hoặc khó thở.
+ Ảnh hưởng tới giấc ngủ và hoạt động thể lực. + Các đợt bùng phát rất hay xảy ra. + Mức độ nặng đợt bùng phát khác nhau, tùy từng bệnh nhân. * Đối với trẻ lớn > 5 tuổi [1],[10],[14] Bậc Triệu chứng Hạn chế vậ Triệu chứng PEV1 hoặc Dao động động về đêm PEF(% theo PEV hoặc dự tính) PEF Bậc 1: <1 lần/ tuần Nhẹ < 2 lần/ >80 <20% Nhẹ cách tháng quãng Bậc 2: >1 lần/ tuần Có thể ảnh > 2 lần/ >80 20 – 30% Nhẹ dai <1 lần/ hưởng đến tháng dẳng ngày hoạt động và giấc ngủ Bậc 3: Hàng ngày Có thể ảnh >1lần/ tuần 60 – 80% >30% Vừa dai hưởng đến dẳng hoạt động và giấc ngủ Bậc 4: Hàng ngày Thường Thường < 60% > 30% Nặng dai xuyên xuyên dẳng 9 1.
Phân bậc hen theo mức độ kiểm soát. *Phân loại mức độ kiểm soát hen ở trẻ ≤ 5 tuổi [7],[20] Bảng 1. Bảng phân loại mức độ kiểm soát hen ở trẻ dưới 5 tuổi Kiểm soát một Đặc điểm Kiểm soát Không kiểm soát phần Triệu chứng ban < 2 lần/ tuần > 2 lần/ tuần ngày Hạn chế Hoạt động Không Bất kỳ ≥ 3 điểm của kiểm soát hen một Triệu chứng ban Không Bất kỳ phần trong bất kỳ tuần nào đêm Nhu cầu thuốc cắt 2 ngày/tuần > 2 ngày/tuần cơn * Đối với trẻ trên 5 tuổi [7],[16],[20]. Bảng phân loại mức độ kiểm soát hen ở trẻ trên 5 tuổi Kiểm soát Kiểm soát 1 phần Không kiểm soát Triệu chứng ban ≤ 2 lần/ tuần >2 lần/ tuần Có 3 hoặc nhiều ngày hơn triệu chứng của kiểm soát hen Hạn chế hoạt động Không Một phần một phần trong một tuần Triệu chứng về Không Một phần đêm/ thức giấc Đòi hỏi điều trị ≤ 2 lần/ tuần >2 lần/ tuần Chức năng phổi Bình thường <80% giá trị lý (PEV1) thuyết Cơn hen cấp Không 1 lần/ năm 1 lần/ tuần Thư viện ĐH Thăng Long 10 1.
Yếu tố nguy cơ gây HPQ Các yếu tố nguy cơ của HPQ chia ra làm 2 loại: các yếu tố liên quan tới nguyên nhân gây bệnh và các yếu tố làm kịch phát cơn hen.