ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm màng não là tình trạng viêm các màng não bao quanh não và tủy sống. Tình trạng viêm thường do vi khuẩn hoặc siêu vi gây ra, chúng thường xâm nhập từ đường tiêu hóa hoặc hô hấp qua đường máu vào màng não. Viêm màng não do virus ở trẻ em là một bệnh truyền nhiễm phổ biến, chủ yếu do nhiễm enterovirus và arbovirus. Tại Hoa Kỳ, có khoảng 75.000 trường hợp xảy ra mỗi năm, phần lớn xảy ra ở trẻ em [10].
Ở Trung Quốc, enterovirus là nguyên nhân chính gây viêm màng não do virus [11]. Ở các vùng ôn đới, tỷ lệ mắc bệnh tăng lên trong mùa hè và đầu mùa thu, nhưng không đổi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [12]. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tuổi nhỏ, suy giảm miễn dịch, giới tính nam, tiếp xúc với trẻ em bị viêm màng não và tiếp xúc với nguồn nước bị ô nhiễm [13]. Viêm màng não do virus ở trẻ em thường có tiên lượng tốt, nhưng có thể gặp các biến chứng về hệ thần kinh trung ương như co giật, mất trí nhớ, hội chứng tiết hormone chống bài niệu không phù hợp, rối loạn hành vi và chậm nói [11].
Suy hô hấp là một biến chứng phổ biến, đặc biệt khi nhiễm trùng do enterovirus 71 và có liên quan đến tỷ lệ tàn tật và tử vong cao. Nó đòi hỏi sự can thiệp kịp thời để cải thiện tiên lượng [14]. Điều này đặc biệt quan trọng vì can thiệp sớm có thể cải thiện tiên lượng một cách hiệu quả [15]. Việc chăm sóc bệnh nhân, nhất là với bệnh nhân nhi lại có những đặc thù riêng, điều dưỡng phải luôn theo dõi toàn diện bệnh nhân để kịp thời phát hiện các dấu hiệu trở nặng nhằm phối hợp với bác sĩ để điều trị tốt nhất.
Điều này càng đặc biệt hơn vì ở lứa tuổi này các bé chưa biết nói và cũng chưa thể miêu tả chính xác các triệu chứng bệnh của mình nên quá trình thăm khám cũng như điều trị bệnh gặp không ít khó khăn. Đội ngũ điều dưỡng luôn có vai trò rất quan trọng trong chăm sóc sức khỏe. Chính vì vậy Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định dịch vụ chăm sóc người bệnh của điều dưỡng là một trong những trụ cột của hệ thống y tế. Trên thực tế, điều dưỡng đóng vai trò không thể thiếu trong chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho người bệnh.
Họ là những người đầu tiên tiếp cận người bệnh khi đến bệnh viện, có trách nhiệm chăm sóc, theo dõi, phối hợp đồng nghiệp, cán bộ y tế khác nhằm 2 thực hiện những can thiệp chăm sóc, điều trị toàn diện với chất lượng tốt nhất cho người bệnh trong suốt quá trình điều trị. Tại Trung tâm bệnh nhiệt đới Bệnh viện Nhi Trung ương mỗi năm điều trị cho hàng trăm trẻ bị viêm màng não, trong quá trình chăm sóc chúng tôi nhận thấy trẻ bị viêm màng não thường có những diễn biến nhanh và đột ngột dẫn đến tiên lượng xấu, Tại Bệnh viện Nhi Trung ương trong những năm gần đây công tác chăm sóc của điều dưỡng đã có nhiều thay đổi tích cực tuy nhiên trong quá trình chăm sóc bệnh nhi viêm màng não chúng tôi gặp rất nhiều khó khăn vì các triệu chứng thần kinh thường xuất hiện một cách đột ngột không có dấu hiệu báo trước và với các hình thái khác nhau. Cho tới thời điểm này, ở Việt Nam chưa có nhiều đề tài của điều dưỡng nghiên cứu về công tác chăm sóc bệnh nhi viêm màng não virus vì vậy để đánh giá nhu cầu chăm sóc của bệnh nhi viêm màng não và nâng cao chất lượng công tác theo dõi, chăm sóc bệnh người bệnh, chúng tôi tiến hành đề tài: ―Kết quả chăm sóc bệnh nhi viêm màng não virus tại Trung tâm bệnh nhiệt đới Bệnh viện Nhi Trung ương năm 2022.” nhằm mục tiêu sau: 1. Mô tả nhu cầu chăm sóc của bệnh nhi viêm màng não virus tại Trung tâm bệnh nhiệt đới Bệnh Viện Nhi Trung ương năm 2022.
Phân tích kết quả chăm sóc và theo dõi bệnh nhi viêm màng não virus. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm sinh lý màng não trẻ em 1.1 Cấu trúc màng não và lưu thông dịch não tủy - Cấu trúc màng não Hình 1.1 Cấu trúc màng não ngƣời (nguồn: Atlas giải phẫu ngƣời, năm 2011 [1]). Màng não cứng cấu tạo bằng mô liên kết collagen. Mặt ngoài của màng dính với cốt mạc nội sọ, trừ những nơi có xoang tĩnh mạch màng cứng đi giữa màng cứng và xương sọ (cũng có những mô tả cho rằng cốt mạc nội sọ là lớp ngoài của màng cứng).
Mặt trong có những vách đi vào trong ngăn cách các phần của não. Liềm đại não ngăn cách hai bán cầu đại não, lều tiểu não ngăn cách các đại não với tiểu não, liềm tiểu não ngăn cách hai bán cầu tiểu não, hoành yên tạo thành mái hố tuyến yên. Các xoang tĩnh mạch màng cứng đi giữa màng cứng và cốt mạc nội sọ (thường dọc theo chỗ bám của các vách màng cứng vào xương sọ) hoặc đi trong màng cứng. Xoang tĩnh mạch màng cứng chỉ được lót bên trong bằng lớp nội sọ.
4 - Màng tủy cứng (spinal dura mater): Màng tuỷ cứng không dính với thành xương xung quanh như màng não cứng mà ngăn cách với thành ống sống bằng khoang ngoài cứng, một khoang chứa mỡ và đám rối tĩnh mạch sống. Nó cũng không có những vách tiến vào trong và không có xoang tĩnh mạch như màng não cứng. Trông toàn bộ, màng tủy cứng như một túi kéo dài từ quanh lổ chẩm tới ngang đốt sống cùng II. Từ đây trở xuống, nó bao quanh dây tận rồi dính vào xương cụt.
Màng nhện (arachnoid mater) Đây là một màng mỏng nằm giữa màng cứng và màng mềm nhưng ngăn cách với màng mềm bằng khoang dưới nhện chứa đầy dịch não tuỷ. Có những dải mỏ liên kết băng qua khoang dưới nhện nối màng nhện với màng mềm. Màng nhện não áp sát mặt trong màng não cứng và bề mặt các vách màng não cứng; màng nhện tuỷ lót mặt trong ống màng cứng. Khoang dưới nhện của não có những chỗ giãn rộng, tạo nên các bể dưới nhện.
Khoang này thông với hệ thống não thất qua các lỗ giữa và bên ở mái não thất bốn, và liên hệ với các xoang tĩnh mạch màng cứng bằng các hạt màng nhện. Hạt màng nhện là những mỏm của màng nhện lồi vào xoang màng cứng có tác dụng dẫn lưu dịch não tuỷ từ khoang dưới nhện về xoang tĩnh mạch. Màng mềm (pia mater) Màng mềm là màng mô liên kết chứa nhiều vi mạch bọc sát bề mặt não và tuỷ sống. Màng não mềm lách cả vào các khe của bán cầu não; nó dày lên ở quanh các não thất và tạo nên các tấm mạch mạc và các đám rối mạch mạc.
Màng tuỷ mềm trở thành dây tận kể từ đỉnh nón tuỷ trở xuống. Màng mềm có vai trò nuôi dưỡng các nơron của não và tuỷ sống.2 Sinh lý bài tiết và lưu thông dịch não tủy Dịch não tủy được tiết ra trong các não thất bên tại các đám rối màng mạch, từ não thất bên đổ vào não thất 3 qua lỗ monro, sau đó qua cống Sylvius vào não thất 4, từ đó chảy vào khoang dưới nhện qua lỗ Magendie và Luschka. Cuối cùng dịch não tủy được hấp thu trở lại hệ tuần hoàn bởi các hạt Pacchioni (là tổ chức đặc biệt của màng nhện, lưu thông vào hệ tuần hoàn qua các xoang tĩnh mạch, các màng bạch huyết. 5 Thành phần một số chất có trong dịch não tủy: Protein, glucose, muối, bạch cầu.
Các thành phần này có trong dịch não tủy với hàm lượng rất thấp, khi có vi khuẩn gây viêm màng não thì sẽ có phản ứng làm thay đổi thành phần các chất như protein, glucose, bạch cầu [2]. Tác nhân gây bệnh thường xuất hiện trong dịch não tủy với nồng độ giảm dần từ khi được điều trị đúng và quá trình điều trị sẽ kết thúc khi dịch não tủy trở lại vô trùng. Trong quá trình đó, chúng ta có thể làm các xét nghiệm tìm sự hiện diện của căn nguyên gây bệnh trong dịch não tủy như vi khuẩn, virus [3], [16]. Giá trị một số thành phần trong dịch não tủy bình thường [3].1: Đặc điểm dịch não tủy bình thƣờng ở trẻ em Tuổi Tính chất dịch não tủy Sơ sinh Ngoài sơ sinh Áp lực 5 – 10 CmH2O 10 – 20 CmH2O Màu sắc Trong, ánh vàng Trong Số lượng bạch cầu/mm3 < 30 < 10 Tỷ lệ đa nhân trung tính (%) < 60 < 10 Protein (g/l) 0,4 – 0,8 < 0,45 Glucose > 60% glucose máu > 50% glucose máu 1.2 Đặc điểm dịch tễ bệnh viêm màng não 1.1 Tỷ lệ mắc 1.1 Trên thế giới Tác giả I.
Luksic’s phân tích 71 báo cáo về gánh nặng bệnh tật do viêm màng nào não nhiễm khuẩn đã thấy rằng ước tính tỷ lệ mắc trên toàn cầu là 34,0/100. Tại khu vực được coi là ―Vành đai viêm màng não‖ thì tỷ lệ mắc 143,6/100.000 trẻ /năm, tiếp theo là khu vực Tây Thái Bình Dương là 42,9/100.000, sau đó là Trung Đông 34,5/100. Tỷ lệ tử vong trung bình là 14,4% (5,3 – 26,2%) cao nhất là khu vực Châu Phi (31,3%) [18]. Hoa kỳ là quốc gia phát triển, có nền khoa học y học phát triển cơ sở y tế, thiết bị hiện đại cùng với việc áp dụng nhiều thành tự khoa học kỹ thuật trong Y học 6 đã giảm tỷ lệ mắc nhiều loại bệnh.
Tuy nhiên theo báo cáo năm 2011 cho thấy tỷ lệ mắc viêm màng não do vi khuẩn là từ 1,38 – 2/100.000 trẻ, tỷ lệ tử vong từ 14,3 – 15,7% [19]. Báo cáo của Namaitijiang Maimaiti về căn nguyên gây bệnh viêm màng não do vi khuẩn ở một số nước khu vực Đông Nam Á cho thấy tỷ lệ mắc từ 18,4% - 24,6%/100. Một số quốc gia có báo cáo về bệnh do phế cầu như Malaysia, Thailand, Singapore cho thấy tỷ lệ viêm màng não do phế cầu ở các nước cũng khác nhau từ 0,1 – 8,6%/100.2 Tại Việt Nam Việt Nam cũng như các nước đang phát triển khác mặc dù đã áp dụng nhiều thành tự khoa học kỹ thuật trong chẩn đoán cũng như điều trị nhưng tần suất mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, di chứng vẫn còn cao. Tại Việt Nam báo cáo năm 2001 – 2002 cho thấy tỷ lệ mắc viêm màng não do não mô cầu ở lứu tuổi 7 – 11 tháng tuổi là 21,8/100.000, tính chung ở trẻ dưới 5 tuổi là 2,6/100.
Tại bệnh viện Nhi trung ương từ năm 2006 – 2011 số trẻ mắc bệnh đứng thứ 3 trong số các bệnh vào điều trị tại khoa Truyền nhiễm [5].