ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), kháng kháng sinh được coi là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe toàn cầu. Các bệnh nhiễm trùng thông thường như viêm phổi, viêm nhiễm đường tiết niệu… đang trở nên khó điều trị do sự gia tăng của kháng kháng sinh [14, 75, 75]. Việt Nam cũng đang đối mặt với tình trạng gia tăng của các loại vi khuẩn kháng kháng sinh, khiến cho việc điều trị các bệnh trở nên khó khăn và tăng nguy cơ gây biến chứng [4, 14]. Đặc biệt, tình trạng kháng kháng sinh trên toàn thế giới, nhất là tại Việt Nam ngày càng trầm trọng từ sau đại dịch COVID-19, gây áp lực lớn lên sức khỏe cộng đồng.
Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh CDC Hoa Kỳ cho biết, trong năm đầu tiên của đại dịch, hơn 29.400 ca tử vong vì nhiễm vi khuẩn kháng kháng sinh. Trong số này, gần 40% bệnh nhân bị bội nhiễm kháng thuốc khi họ đang ở bệnh viện. Tình trạng này xảy ra là do nhiều bệnh nhân mắc COVID-19 thể nặng phải thở máy, ECMO… dẫn đến bội nhiễm và tăng số ca kháng thuốc [22, 55]. Một trong những nguyên nhân khiến tình trạng kháng kháng sinh ngày càng nghiêm trọng là lạm dụng, sử dụng kháng sinh không đúng cách trong cộng đồng, đặc biệt trên trẻ em.
Hiện nay tại Việt Nam, có khoảng 63% trẻ em ở khu vực nông thôn đang được sử dụng kháng sinh trong các trường hợp không cần thiết như ho, cảm lạnh, sổ mũi, sốt nhẹ…[2] Và hàng năm, các bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn đa kháng thuốc đã gây ra 700.000 ca tử vong ở mọi lứa tuổi, trong đó có khoảng 200. Nguyên nhân của việc sử dụng kháng sinh không đúng cách ở trẻ em là do sự thiếu hiểu biết của người chăm sóc trẻ về các tác nhân gây bệnh nhiễm trùng và vai trò của thuốc kháng sinh trong điều trị. Do vậy, nhiều chương trình truyền thông về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh đã được thực hiện nhằm nâng cao nhận thức của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trong việc sử dụng thuốc kháng sinh cho trẻ [50, 75]. Các chương trình truyền thông đã chứng tỏ một vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhận thức và thay đổi hành vi của người dân trong lĩnh vực y tế [43, 45, 52, 58, 63, 71, 76].
Tuy nhiên, hiện nay, việc tiếp cận và sự chấp thuận của các chương trình truyền thông về việc sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh trong người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi vẫn chưa được nghiên cứu và đánh giá một cách chi tiết. Do đó, cần có một nghiên cứu cụ thể và toàn diện để khảo sát tỷ lệ, tần suất tiếp cận thông tin, đồng thời đánh giá mức độ chấp thuận với nội dung, hình thức các thông tin truyền thông của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi. Với các lí do đã được đề cập đến trên đây, nghiên cứu “Khảo sát khả năng tiếp cận và sự chấp thuận các chương trình truyền thông nhằm nâng cao kiến thức về sử dụng 1 kháng sinh và kháng kháng sinh của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Đan Phượng, thành phố Hà Nội năm 2022” đã được thực hiện với mục tiêu chính như sau: 1. Mô tả khả năng tiếp cận và sự chấp thuận các chiến dịch truyền thông về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2022.
Đánh giá kiến thức về sử dụng thuốc kháng sinh và kháng kháng sinh của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi trên địa bàn huyện Đan Phượng, Hà Nội năm 2022. Kết quả của đề tài này sẽ cung cấp những bằng chứng về khả năng tiếp cận và sự chấp thuận các chiến dịch truyền thông của người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi. Từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các các chương trình truyền thông về sử dụng kháng sinh và kháng kháng sinh, góp phần giảm thiểu tình trạng kháng kháng sinh. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về kháng sinh và đề kháng kháng sinh 1. Kháng sinh Khái niệm kháng sinh Thuốc kháng sinh là những chất kháng khuẩn được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm, Actinomycetes), có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác. Thuốc kháng sinh được sử dụng trong phòng và chữa các bệnh nhiễm khuẩn [75, 24]. Penicilin là kháng sinh đầu tiên được tìm thấy kháng sinh đầu tiên được tìm thấy bởi Alexander Fleming - một bác sĩ kiêm nhà khoa học người Scotland.
Kháng sinh Penicilin xuất hiện không chỉ cứu sống được hàng triệu người trong chiến tranh thời điểm đó mà còn có đóng góp rất lớn cho y học ngày nay [66]. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp lý Trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện chỉ ra rằng một trong những nguyên nhân quan trọng nhất gây ra tình trạng kháng kháng sinh hiện nay là do lạm dụng kháng sinh và sử dụng sai kháng sinh. Đặc biệt, việc lạm dụng thuốc kháng sinh có thể xảy ra do tuân thủ điều trị kém hoặc tự dùng thuốc [75]. Do đó, năm 2015, Bộ y tế đã ban hành “Hướng dẫn sử dụng kháng sinh” với các nguyên tắc sử dụng kháng sinh trong việc khám chữa bệnh như sau [6]: - Lựa chọn thuốc kháng sinh hợp lý: Lựa chọn thuốc kháng sinh và liều dùng phù hợp với lứa tuổi và giới tính, mức độ nặng, chức năng gan thận, mức độ suy giảm miễn dịch, bệnh mắc kèm, cơ địa… của người bệnh và phù hợp với chủng vi khuẩn gây bệnh.
- Sử dụng kháng sinh dự phòng trước phẫu thuật khi cần thiết. - Sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học hoặc không đủ điều kiện để nuôi cấy vi khuẩn. - Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng vi khuẩn học: Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả kháng sinh đồ, kháng sinh được lựa chọn là kháng sinh có hiệu quả cao nhất, độc tính thấp nhất và ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc. - Lựa chọn đường đưa thuốc: Ưu tiên kháng sinh đường uống vì tính tiện dụng, an toàn và giá thành rẻ.
Chỉ nên dùng đường tiêm trong những trường hợp không uống được hoặc thuốc khó đạt được nồng độ cao khi uống. - Độ dài đợt điều trị: phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức đề kháng của người bệnh. Thông thường với các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường đạt kết quả sau 5 -10. Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không mong muốn và tăng chi phí điều trị.
3 Không chỉ các cán bộ y tế cần thực hiện đúng các nguyên tắc sử dụng kháng sinh, mỗi người dân cũng cần sử dụng kháng sinh hợp lý để đẩy lùi vấn nạn kháng thuốc, đặc biệt là những người chăm sóc trẻ dưới 5 tuổi. Một số bệnh viện lớn tại Việt Nam đã đưa ra khuyến cáo về sử dụng thuốc kháng sinh hợp lý cho trẻ em [2, 9]: - Hãy mạnh dạn hỏi bác sĩ về đơn thuốc của trẻ, đâu là thuốc kháng sinh và lý do bác sĩ sử dụng kháng sinh. Không tự ý yêu cầu bác sĩ kê thêm thuốc kháng sinh cho trẻ. - Dùng hết đơn thuốc kháng sinh dù thấy trẻ đã đỡ bệnh.
Việc tự ý ngừng thuốc sẽ gây ra nguy cơ kháng kháng sinh ở trẻ. Không giữ thuốc lại để tự dùng cho lần ốm sau. - Không dùng đơn kháng sinh của người khác cho con mình. Không chia sẻ đơn thuốc của con mình cho trẻ khác mặc dù có các triệu chứng tương tự.
- Ghi lại những lần sử dụng kháng sinh: Tên thuốc, liều dùng, thời gian dùng và bất kỳ tác dụng phụ nào xuất hiện ở trẻ. Chia sẻ các thông tin này với bác sĩ mỗi khi bé được kê đơn kháng sinh để hỗ trợ bác sĩ lựa chọn loại kháng sinh phù hợp nhất. - Hỏi bác sĩ hoặc dược sĩ cách xử lý nếu quên hoặc bỏ lỡ một liều kháng sinh cho trẻ. Kháng kháng sinh Khái niệm kháng kháng sinh Kháng kháng sinh được định nghĩa là khả năng của các vi sinh vật như vi khuẩn, vi rút, nấm hoặc ký sinh trùng sinh trưởng với sự hiện diện của một loại thuốc mà thông thường có thể giết chết hoặc hạn chế sự phát triển của chúng [75].
Kháng thuốc kháng sinh xảy ra khi vi khuẩn thay đổi để đáp ứng với việc sử dụng các loại thuốc này. Vi khuẩn, không phải con người hay động vật, trở nên kháng thuốc kháng sinh. Những vi khuẩn này có thể lây nhiễm sang người và động vật, và các bệnh nhiễm trùng do chúng gây ra khó điều trị hơn so với các bệnh do vi khuẩn không kháng thuốc gây ra [75]. Cơ chế kháng kháng sinh Việc tìm ra các kháng sinh để tiêu diệt vi khuẩn thông thường là một việc vốn đã khó khăn, nay lại càng khó khăn hơn khi vi khuẩn có nhiều cơ chế khác nhau để kháng lại thuốc.
Điều này có thể dẫn đến một tương lai không còn thuốc kháng sinh để điều trị. Đáng báo động là vi khuẩn hiện nay đã có thể chia sẻ gen kháng thuốc của chúng với các vi khuẩn khác chưa tiếp xúc với kháng sinh hoặc thuốc chống nấm thông qua plasmid [25]. Một số cơ chế kháng kháng sinh của vi khuẩn đã được nhiều nhà khoa học phát hiện ra như là [25, 61]: - Làm giảm tính thấm của kháng sinh qua màng tế bào vi khuẩn. - Loại bỏ thuốc kháng sinh khỏi tế bào: Vi khuẩn loại bỏ kháng sinh bằng cách tạo ra bơm tống thuốc 4 - Bất hoạt hoặc phân hủy kháng sinh: Vi khuẩn tạo ra enzym, protein làm bất hoạt hoặc phân hủy các kháng sinh - Thay đổi đích tác dụng của thuốc kháng sinh: Vi khuẩn thay cấu trúc hoặc giảm số lượng đích tác dụng làm giảm ái lực của thuốc với đích tác dụng.
- Vi khuẩn phát triển theo một quy trình mới để né tránh tác dụng của kháng sinh. Thực trạng kháng kháng sinh và sử dụng kháng sinh cho trẻ em dưới 5 tuổi 1. Thực trạng kháng kháng sinh Kháng kháng sinh đã và đang là một vấn đề y tế nghiêm trọng hàng đầu, đe dọa đến sức khỏe của người dân trên toàn thế giới. Tổ chức Y tế Thế giới nhận định rằng “Kháng kháng sinh là mối đe dọa nghiêm trọng không chỉ là dự đoán cho tương lai mà nó đang xảy ra ngay lúc này, ở mọi nơi trên thế giới và có tiềm năng ảnh hưởng đến bất kỳ ai, ở bất kỳ độ tuổi nào, bất kỳ quốc gia nào" [74].