Luận án tiến sĩ về đột biến gen và kiểu hình thalassemia ở bệnh nhi tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng

Luận án tiến sĩ y tế nghiên cứu phát hiện một số đột biến gen và đối chiếu kiểu gen với kiểu hình của bệnh nhi thalassemia tại bệnh, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Chuyên ngành

Nhi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

148
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh Thalassemia

1.2. Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm

1.3. Tổng quan phương pháp lập và phân tích phả hệ bệnh Thalassemia

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Phương pháp nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đột biến gen gây bệnh Thalassemia ở bệnh nhi tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng

3.2. Đối chiếu kiểu gen với kiểu hình của các bệnh nhi Thalassemia ở Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng

3.3. Mô tả đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng theo gen đột biến và bước đầu xây dựng 1 số phả hệ

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Xác định đột biến gen gây bệnh Thalassemia ở bệnh nhi tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng. Đối chiếu kiểu gen với kiểu hình của các bệnh nhi Thalassemia ở Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng

4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng theo gen đột biến và bước đầu xây dựng 1 số phả hệ

NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI

PHƯƠNG HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH SÁCH BỆNH NHÂN

Tóm tắt

I. Đặc điểm dịch tễ học bệnh Thalassemia

Bệnh thalassemia là một trong những bệnh di truyền phổ biến nhất trên thế giới, liên quan đến nguồn gốc dân tộc. Tỷ lệ người mang gen bệnh thalassemia chiếm khoảng 7% dân số toàn cầu. Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 10 triệu người mang gen bệnh này, trong đó có khoảng 20.000 bệnh nhân cần điều trị, và 44% trong số đó là trẻ em. Tại Hải Phòng, việc chẩn đoán và điều trị bệnh thalassemia đã được thực hiện tích cực nhưng chưa đạt hiệu quả như mong đợi. Nguyên nhân chủ yếu là do nguồn gen bệnh chưa được quản lý chặt chẽ, dẫn đến việc lan truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Việc phát hiện sớm và tư vấn di truyền là rất cần thiết để ngăn ngừa sự phát triển của bệnh. Theo thống kê, tỷ lệ người mang gen thalassemia ở các tỉnh miền núi cao hơn so với các vùng khác. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các biện pháp phòng ngừa và quản lý hiệu quả hơn.

II. Đột biến gen gây bệnh Thalassemia

Nghiên cứu đã xác định một số đột biến gen chính gây bệnh thalassemia ở trẻ em tại Hải Phòng. Các đột biến này chủ yếu tập trung vào gen HBB, với các kiểu đột biến như CD41/42, CD17, và CD26. Những đột biến này dẫn đến sự thiếu hụt tổng hợp chuỗi beta globin, gây ra tình trạng thiếu máu. Việc phân tích gen giúp xác định chính xác kiểu gen của bệnh nhân, từ đó có thể đưa ra phương pháp điều trị phù hợp. Các nghiên cứu trước đây cho thấy tỷ lệ đột biến gen ở trẻ em mắc bệnh thalassemia tại Hải Phòng có sự khác biệt rõ rệt so với các khu vực khác. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nghiên cứu đột biến gen trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh. Việc phát hiện sớm các đột biến gen có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân và giảm thiểu gánh nặng cho gia đình và xã hội.

III. Kiểu hình và kiểu gen của bệnh nhi Thalassemia

Việc đối chiếu giữa kiểu gen và kiểu hình của bệnh nhi mắc thalassemia tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng cho thấy có sự tương quan rõ rệt. Các bệnh nhi có kiểu gen khác nhau thể hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau, từ nhẹ đến nặng. Những trẻ có kiểu gen β-thalassemia thường có triệu chứng nặng hơn so với α-thalassemia. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc phân tích kiểu gen trong việc dự đoán diễn biến bệnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc xây dựng phả hệ và theo dõi các thế hệ có người mang gen bệnh là cần thiết để hiểu rõ hơn về sự di truyền của bệnh. Việc này không chỉ giúp trong việc chẩn đoán mà còn trong việc tư vấn di truyền cho các gia đình có nguy cơ cao. Sự hiểu biết về mối liên hệ giữa kiểu gen và kiểu hình sẽ hỗ trợ trong việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh nhi mắc thalassemia.

IV. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng theo gen đột biến

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhi mắc thalassemia có sự khác biệt rõ rệt theo từng loại đột biến gen. Các triệu chứng như thiếu máu, vàng da, và lách to thường gặp ở những bệnh nhi có kiểu gen β-thalassemia. Các xét nghiệm cận lâm sàng như điện di huyết sắc tố và xét nghiệm gen giúp xác định chính xác loại bệnh và mức độ nặng nhẹ của bệnh. Việc mô tả các đặc điểm này không chỉ giúp trong việc chẩn đoán mà còn trong việc theo dõi và điều trị bệnh. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể cải thiện đáng kể chất lượng cuộc sống của bệnh nhi. Hơn nữa, việc xây dựng phả hệ và theo dõi các thế hệ có người mang gen bệnh là cần thiết để hiểu rõ hơn về sự di truyền của bệnh, từ đó có các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ phát hiện một số đột biến gen và đối chiếu kiểu gen với kiểu hình của bệnh nhi thalassemia tại bệnh viện trẻ em hải phòng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: TỔNG QUAN 1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh Thalassemia 1. Dịch tễ học Thalassemia là một trong những bệnh rối loạn di truyền phổ biến nhất trên thế giới, bệnh có liên quan đến nguồn gốc dân tộc. Bệnh phân bố toàn cầu, song có tính địa dư, thường gặp ở vùng Địa Trung Hải, khu vực Trung Đông, Đông Nam Á và Bắc Phi [4], [6].

Theo báo cáo của Liên đoàn Thalassemia quốc tế, số người mang gen bệnh Thalassemia chiếm khoảng 7% dân số toàn cầu [7]. Ở Đông Nam Á, tỷ lệ người mang gen bệnh Thalassemia rất cao. Theo Suthat Fucharoen (2011), vùng biên giới giữa các nước Thái Lan, Lào và Campuchia có tới 30 - 40% người mang gen bệnh α-Thalassemia, 1 - 9% người mang gen bệnh β-Thalassemia; 50 - 60% mang gen bệnh HbE [8]. Tỷ lệ người mang gen Thalassemia ở Quảng Đông (Trung Quốc) là 11,07% [9], ở Quảng Tây là 19,8% [10].

Hiện nay, Việt Nam được xếp vào khu vực có nguy cơ cao với ước tính có khoảng hơn 10 triệu người mang gen bệnh. Ở Việt Nam, qua một số nghiên cứu giai đoạn 2010 - 2020 cho thấy người mang gen Thalassemia gặp với tỷ lệ khá cao. Thalassemia xuất hiện ở mọi vùng miền và ở tất cả các dân tộc Việt Nam, tỷ lệ người mang gen bệnh khác và đặc biệt cao ở các tỉnh miền núi [11]. Một nghiên cứu gần đây của Trần Thị Thúy Minh thống kê tỷ lệ trẻ em từ 1-5 tuổi mang gen bệnh -Thalassemia ở 2 dân tộc Êđê và M’nông là 24,6%.

Cũng theo tác giả này, tỷ lệ mắc -Thalassemia ở dân tộc khác Stiêng (63,9%), Ê đê (32,2%), M’Nông (24,2%), Mường (22,6%), Kinh (19,5%), Thái (16,6%), Nùng, Dán Dìu (14,3%), RacLay (14,5%), Tày (12,5%), Dao (12,1%) [12]. Do điều kiện khó khăn và kỹ thuật nên không có nhiều nghiên cứu trước đây về tỷ lệ lưu hành người mang gen -Thalassemia ở Việt Nam. Tuy TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 4 nhiên, theo Dương Bá Trực nghiên cứu máu cuống rốn ở trẻ sơ sinh có khoảng 2,3% trẻ mang gen bệnh sống ở Hà Nội gồm 2 thể bệnh alpha1 và alpha2 và cũng theo tác giả có 13,75% bệnh nhi HbH trong tổng số bệnh Thalassemia đến khám bệnh, trong đó người Kinh chiếm 84,7% và bệnh nhi thuộc dân tộc ít người chiếm 15,3%. Điều này cho thấy α-Thalassemia lưu hành khá phổ biến ở nước ta với nhiều thể bệnh.

Thống kê tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương năm 2019 thấy tỉ lệ mẹ mang gen alpha Thalassemia là 78%, trong đó có đến 73,2% là người mang gen dị hợp tử SEA [13]. Nghiên cứu của Nguyễn Khắc Hân Hoan [14], thấy 98,7% bệnh -Thalassemia do 4 loại alen đột biến: --SEA,-3. Theo Nguyễn Thu Phương (2019), khi tiến hành nghiên cứu đột biến gen trên 58 bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên thấy kiểu alen đột biến phổ biến nhất vẫn là kiểu --SEA [15]. Các nghiên cứu về -Thalassemia cho thấy, bệnh gặp nhiều ở Mường chiếm tỉ lệ khá cao, như nghiên cứu của Bùi Văn Viên và CS [16], khi khảo sát bệnh Thalassemia ở nhóm người dân tộc Mường huyện Kim Bôi tỉnh Hoà Bình cho thấy bệnh -Thalassemia rất phổ biến với tần suất là 10,67%.

Theo một tác giả khác thống kê được tần suất người mang gen Thalassemia/huyết sắc tố ở dân tộc Thái và Mường lần lượt là 38,0% và 41,4% [17]. Bên cạnh -Thalassemia thì sự lưu hành HbE ở Việt Nam với tỉ lệ cao. Bùi Văn Viên thấy tỷ lệ lưu hành HbE ở người Mường - Hòa Bình là 12,3% [16]. Qua khảo sát 124 người dân tộc Gia Jai, Nguyễn Văn Dũng nhận thấy tỷ lệ lưu hành bệnh hemoglobin là 39% trong đó sự lưu hành HbE là 34% [18].

Theo Bạch Quốc Khánh và CS (2021) thấy tỷ lệ lưu hành HbE ở nhóm người dân tộc Thái - Mường là 18,4% [17]. Với nguồn gen phổ biến và khổng lồ của gen -Thalassemia và HbE nên đã tạo ra nhiều thể lâm sàng nặng. Theo Lâm Thị Mỹ thống kê tại bệnh viện Nhi đồng I thấy trẻ β-Thalassemia/HbE chiếm 42,8%; β-Thalassemia 34,5%; HbH 15,4% [19]. Nghiên cứu của Khamkhanxay Mangnomek tại TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 5 Bệnh viện Nhi Trung ương thấy tỉ lệ β-Thalassemia/HbE là 35,6% và β- Thalassemia chiếm 42,8% [20].

Bệnh -thalasemia cũng phổ biến ở khu vực Đông Nam Á. Tần suất gen bệnh này cao nhất ở vùng Đông Nam Á như Lào, Thái Lan, Miến Điện, dao động từ 10 - 30 % dân số. Đông Nam Á gồm 10 nước và có khoảng 400 triệu dân, tỷ lệ mang gen bệnh -Thalassemia khác nhau tùy quốc gia, dân tộc. Tỷ lệ mang gen bệnh -Thalasemia ở Bắc Thái Lan và Lào từ 30 - 40%, 4,5% ở Malaysia, 5% các đảo Philippines, tại Trung Quốc là 7,19% [21], [22].

Tỷ lệ người mang gen Thalassemia tại Việt Nam (tổng hợp nhiều nghiên cứu) Tỉnh Dân tộc Tỷ lệ mang gen (%) Năm Tác giả Sơn La – Mường 20,8 2021 Bạch Quốc Khánh [17] Nghệ An Thái 26,1 Dao 10,0 Bắc Cạn Tày 14,3 2017 Nguyễn Thị Ánh [23] DT khác 15,4 Quảng Bình Kinh 19,3 2011 Phan T. Thùy Hoa [24] Stiêng 63,9 Ê đê 32,2 Khánh Hòa- M’ Nông 24,2 Sean O’Riordan 2010 Bình Phước RacLay 14,5 Tran Tinh Hien Oxfort Tày 12,8 [25] Nùng 11,7 Kinh 19,8 An Giang Khmer 0,74 2010 Phạm Ngọc Dũng [26] Hoa 0,38 Sóc Trăng- Khmer 25,4 2012 Lê Thị Hoàng Mỹ Bạc Liêu TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 6 Tại Bệnh viện đa khoa Thái Nguyên, Nguyễn Văn Sơn thấy rằng có 3 alen đột biến chiếm tỉ lệ cao là CD41/42 (35,29%), CD17 (25,10%), và CD26 (14,71%) [27]. Nghiên cứu của Đặng Thị Hồng Thiện khi áp dụng kĩ thuật ARMS - PCR trên bệnh nhân Thalassemia tại Bệnh viện Nhi Trung ương cho kết quả trong bảng: Bảng 1. Đột biến trên gen Hb (tổng hợp từ nhiều nghiên cứu) CD IVS IVS CD IVS Đột biến CD17 -28M HBE 41/42 1-1 1-5 71/72 2-054 Đặng Thị Hồng 5,7 2,5 0,0 0,8 0,0 0,8 0,0 5,7 Thiện [13] Saovaros và 20,5 35,3 7,3 6,0 0,0 7,3 7,3 31,0 CS [28] Hiện nay, hiện tượng giao thoa giữa các dân tộc và sự dịch chuyển địa lý khiến gen bệnh lan rộng và gia tăng đáng kể khắp cả nước.

Tại các thành phố lớn đã xuất hiện rất nhiều người mang gen bệnh. Những nghiên cứu ở nước ta gần đây cho thấy, thalassemia/bệnh huyết sắc tố ở nước ta thực sự là vấn đề nghiêm trọng, đe dọa chất lượng dân số và giống nòi. Những con số rất đáng chú ý và báo động như: Tất cả 63 tỉnh và 54 dân tộc đều có người mang gen bệnh thalassemia; tỷ lệ mang gen chung trên toàn quốc ước tính là 13,8% (khoảng 13- 14 triệu người); sự phân bổ của bệnh có tính dân tộc và địa lý rõ rệt [29]. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 7 Bảng 1.

Tỉ lệ người mang gen ở nước ta (tổng hợp từ nhiều nghiên cứu) Beta Alpha Tỷ lệ gen Dân tộc HbE Thalassemia Thalassemia Thalassemia Stiêng 0,3% 28,0% 35,6% 63,9% Êđê 0,8% 31,4% 32,2% Khmer 2,8% 26,1% 28,2% Mường 10,12% 11,62% 21,74% Tày 4,1% 7,3% 1,4% 12,8% Nùng 3,9% 6,8% 1,0% 11,7% Kinh 0,7% 3,5% 1,7% 4,9% 1. Nhắc lại cấu trúc Hb bình thường. Hemoglobin (Hb) có trọng lượng phân tử 4.400 Dalton, gồm hai thành phần, nhóm ngoại gọi là hem và phần protein là globin. Ngoài ra trong phân tử Hb còn có 2,3 diphosphoglycerat có tác động tới ái lực của Hb đối với Oxy.

Hem là protoporphyrin gắn với nguyên tử Fe++ ở trung tâm. Nguyên tử Fe++ có 6 liên kết; 4 liên kết với 4 N của nhân pyrol của hem, và 2 liên kết nối với imidazol và histidin của globin. Globin gồm 4 mạch polypeptid, 2 mạch loại α, 2 mạch loại β, liên kết với nhau bởi những tương tác đồng hóa trị [30]. Mỗi mạch polypeptid nối với một hem, nên một phân tử Hb có thể nhận 4 phân tử oxy.

Các loại Hb bình thường và thành phần sinh lý: Sự tổng hợp các chuỗi polypeptide và thành phần các Hb sinh lý thay đổi qua các thời kỳ và lứa tuổi khác nhau. TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 8 Bảng 1. Cấu trúc globin của Hb sinh lý Cấu trúc Hb sinh lý Thời kỳ xuất hiện globin HbA1 22 Bào thai 6 tuần, Hb chủ yếu ở người bình thường HbA2 22 Thai nhi gần đẻ, Hb ở người bình thường HbF 22 Bào thai 5 tuần, Hb chủ yếu ở thai nhi Hb Gower 1 22 Phôi thai 2-3 tuần, có trong 2 tháng đầu của thai Hb Gower 2 22 Xuất hiện và có cùng Hb Gower 1 Hb Porland 22 Phôi thai 2-3 tuần *Nguồn: theo Gamal Abdul Hamid (2013) [31] Như vậy, sau khi sinh, ở người bình thường chỉ còn lại 3 loại hemoglobin, đó là HbA1, HbA2, HbF. Hemoglobin chủ yếu, nhiều nhất thấy trong hồng cầu bình thường là HbA1.

Bên cạnh HbA1 hồng cầu bình thường còn chứa hai loại hemoglobin có tỉ lệ ít, đó là HbA2 và HbF, cấu trúc globin tương ứng là α2δ2 và α2γ1. Polypeptid δ và γ có cấu trúc gần giống polypeptid β, chỉ khác vài acid amin. Cơ chế bệnh sinh của Thalassemia Thalassemia là một nhóm bệnh rối loạn tổng hợp huyết sắc tố có tính chất di truyền do giảm hoặc mất tổng hợp chuỗi alpha globin hay beta globin trong globin của nhân hem. Tác giả Valentin và Neel cho rằng, Thalassemia là một bệnh di truyền gen lặn trên nhiễm sắc thể thường.

Những thay đổi gen kiểm soát sự tổng hợp hemoglobin như đột biến điểm, đứt đoạn, trao đổi đoạn dẫn đến thay đổi số lượng hoặc chất lượng các chuỗi polypeptid của globin [1]. Một hiện tượng chung nhất trong nhóm bệnh Thalassemia là sự thiếu hụt một loại chuỗi polypeptid của globin, dẫn đến dư thừa tương đối loại chuỗi kia [32]. Trường hợp thiếu hụt chuỗi β globin gọi là bệnh β- Thalassemia, thiếu hụt chuỗi α globin được gọi là bệnh α-Thalassemia. Hiện TIEU LUAN MOI download : skknchat123@gmail.com moi nhat 9 tượng này xảy ra ở các mức độ khác nhau phụ thuộc vào từng thể bệnh, song hậu quả chung của nó là: - Giảm tổng hợp Hb do thiếu phần Globin.

- Mất cân bằng giữa các chuỗi  và các chuỗi không . Hậu quả thứ nhất: Giảm tổng hợp Hb. Đây là hậu quả trực tiếp của việc thiếu hụt tổng hợp phần globin. Do thiếu một loại chuỗi polypeptid nào đó mà việc tổng hợp globin bị giảm.

Biểu hiện của việc giảm tổng hợp Hb này là hồng cầu nhược sắc và tăng sinh các hồng cầu non trong tủy. Ở thể nhẹ, sự mất cân bằng giữa các chuỗi alpha và beta không nặng nề thì hậu quả của sự giảm tổng hợp Hb là biểu hiện rõ rệt của Thalassemia. Ở những người dị hợp tử thì biểu hiện chủ yếu là hồng cầu nhỏ nhược sắc và tăng sinh hồng cầu non trong tủy.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Luận án tiến sĩ về đột biến gen và kiểu hình thalassemia ở bệnh nhi tại Bệnh viện Trẻ em Hải Phòng" của tác giả Đỗ Thị Quỳnh Mai, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngọc Sáng và TS. Bạch Thị Như Quỳnh, tập trung vào việc nghiên cứu các đột biến gen liên quan đến thalassemia ở trẻ em tại Hải Phòng. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về kiểu hình của bệnh mà còn giúp nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời cho bệnh nhi. Đặc biệt, luận án này có thể hỗ trợ các bác sĩ và nhà nghiên cứu trong việc phát triển các phương pháp điều trị hiệu quả hơn cho bệnh thalassemia.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến thalassemia và nghiên cứu gen, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu như "Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu kiểu hình và kiểu gen ở bệnh nhi beta-thalassemia", nơi cung cấp thông tin chi tiết về kiểu gen và kiểu hình của bệnh beta-thalassemia, hoặc "Luận án tiến sĩ về đặc điểm cận lâm sàng của HBV và HCV ở người nghiện ma túy tại TP.HCM", nghiên cứu về các đặc điểm gen trong bối cảnh bệnh lý khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các nghiên cứu gen trong y học.