CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐẠI CƯƠNG VỀ TĂNG HUYẾT ÁP 1.1 Định nghĩa tăng huyết áp Huyết áp: Là áp lực máu cần thiết tác động lên thành động mạch nhằm đưa máu đến nuôi dưỡng các mô trong cơ thể. Huyết áp thể hiện bằng hai chỉ số: Huyết áp tâm thu, bình thường từ 90 đến 139mmHg; Huyết áp tối thiểu (Huyết áp tâm trương), bình thường từ 60 đến 89mmHg (Bộ Y Tế, 2017). Tăng huyết áp: Tăng huyết áp thường không gây triệu chứng gì đặc biệt, do đó để chẩn đoán tăng huyết áp nhất thiết phải đo huyết áp định kỳ, thường xuyên.2 Chẩn đoán xác định tăng huyết áp và phân loại tăng huyết áp Chẩn đoán xác định tăng huyết áp: Dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình. Ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp thay đổi theo từng cách đo huyết áp.1 Phân độ tăng huyết áp theo Hội Tim mạch học VN 2018 & ESC/ESH 2018 Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương Phân loại (mmHg) (mmHg) Tối ưu <120 và <80 Bình thường 120-129 và/hoặc 80-84 Bình thường cao 130-139 và/hoặc 85-89 THA giai đoạn 1 (Nhẹ) 140-159 và/hoặc 90-99 THA giai đoạn 2 (Trung bình) 160-179 và/hoặc 100-109 THA giai đoạn 3 (Nặng) >180 và/hoặc >110 THA tâm thu đơn độc >140 Và <90 (Hội Tim mạch học VN 2018, ESC/ESH, 2018) 4 - Khi huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương nằm hai mức độ khác nhau, chọn mức độ cao hơn đã phân loại.
Tăng huyết áp tâm thu đơn độc cũng được đánh giá theo mức độ 1, 2 hay 3 theo giá trị của huyết áp tâm thu nếu huyết áp tâm trương <90 mmHg. - Áp lực mạch đập (hiệu số huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương): Tối ưu là 40 mmHg, nếu trên 61 mmHg có thể xem là một yếu tố tiên lượng nặng cho bệnh nhân.2 Phân loại tăng huyết áp dựa mức huyết áp đo tại cơ sở y tế theo ISH 2020 Huyết áp tâm Huyết áp tâm trương Phân loại thu (mmHg) (mmHg) Huyết áp bình thường <130 và <85 Huyết áp bình thường cao 130-139 và/hoặc 85-89 Tăng huyết áp độ 1 140-159 và/hoặc 90-99 Tăng huyết áp độ 2 ≥160 và/hoặc ≥100 (ISH, 2020) 1.3 Tình hình tăng huyết áp trên Thế giới và Việt Nam Trên Thế giới: Trước sự gia tăng và tác động to lớn của tăng huyết áp, WHO (2013) đã có báo cáo toàn cầu về tăng huyết áp: “kẻ sát nhân thầm lặng, cuộc khủng hoảng sức khoẻ cộng đồng toàn cầu”, vào đầu thế kỷ 21, tăng huyết áp là một vấn đề y tế công cộng toàn cầu. Theo đó, người lớn trên thế giới có tỷ lệ tăng huyết áp là 28,5% ở các nước thu nhập cao và 31,5% ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Từ năm 2000 đến 2010, tỷ lệ tăng huyết áp chuẩn hóa theo tuổi đã giảm 2,6% ở các nước có thu nhập cao nhưng tăng 7,7% ở các nước thu nhập thấp và trung bình (WHO, 2013).
Campbell, Tej Khalsa và cộng sự (2016), tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ hàng đầu đối với tử vong và tàn tật trên toàn cầu, là nguyên nhân gây ra khoảng 10,3 triệu người chết và 208 triệu người tàn tật năm 2013. Cứ 10 người lớn trên 25 tuổi thì có khoảng 4 người mắc tăng huyết áp, và ước tính 9 trong số 10 người lớn sống đến 80 tuổi sẽ bị tăng huyết áp. Hai phần ba số người bị tăng huyết áp là ở các nước đang phát triển (Norm et al, 2016). Khalsa và cộng sự (2015) tiến hành đánh giá nhu cầu các Tổ chức tăng huyết áp Quốc gia Châu Phi Tiểu vùng Sahara, về các chương trình phòng ngừa và kiểm soát tăng huyết áp cho thấy: Ở khu vực Châu Phi, tăng huyết áp là một 5 trong những gánh nặng bệnh tật lớn nhất, với tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp ở người lớn trên 25 tuổi là 46% và tỷ lệ tăng huyết áp đang gia tăng ở hầu hết các quốc gia ở Châu Phi vùng hạ Sahara (Tej K.Khalsa et al, 2015) Tại Việt Nam: Theo một cuộc điều tra toàn quốc về yếu tố nguy cơ bệnh không lây nhiễm năm 2015, có 18,9% người trưởng thành trong độ tuổi 18-69 tuổi bị tăng huyết áp, trong đó có 14,9% nữ giới và 23,1% nam giới.
Còn nếu xét từ 18-25 tuổi thì tỷ lệ tăng huyết áp tăng từ 15,3% năm 2010 lên 20,3% năm 2015. Như vậy, trung bình cứ 5 người trưởng thành 25-64 tuổi thì sẽ có 1 người bị tăng huyết áp (Đỗ Thị Phương Hà, 2018). Theo thông báo của Bộ Y tế tại Hội nghị về công tác phòng, chống bệnh không lây nhiễm ở Việt Nam, các bệnh không lây nhiễm đã chiếm đến 66% tổng gánh nặng bệnh tật và 73% tổng số ca tử vong hằng năm. Có đến 60% người mắc tăng huyết áp chưa được phát hiện bệnh, chỉ có 14% bệnh nhân tăng huyết áp, thông qua các cuộc điều tra có một tỷ lệ lớn về tăng huyết áp được phát hiện tình cờ, tình trạng bỏ sót chẩn đoán tăng huyết áp đã và đang xảy ra (Vũ Ngọc Trâm và Trần Thuý Loan, 2017; Bộ Y tế, 2017).
Với sự gia tăng các yếu tố nguy cơ thì tỷ lệ người mắc bệnh cũng gia tăng nhưng được phát hiện và quản lý tại cộng đồng lại rất thấp. Như vậy, tăng huyết áp là một vấn đề sức khỏe cộng đồng ở Việt Nam. Tỷ lệ người lớn mắc tăng huyết áp là khá cao, trong khi tỷ lệ nhận thức đúng, tham gia điều trị và kiểm soát tăng huyết áp còn thấp. Việt Nam cần phải xây dựng chiến lược quốc gia để cải thiện các biện pháp phòng chống và kiểm soát tăng huyết áp (Bộ Y tế, 2017).4 Các yếu tố nguy tố cơ tim mạch Các bệnh không lây nhiễm thường không xác định được nguyên nhân cụ thể mà chỉ có các yếu tố góp phần làm bệnh phát triển gọi là yếu tố liên quan (YTLQ).
Theo Tổ chức Y tế thế giới, yếu tố liên quan là bất cứ thuộc tính, đặc điểm nào làm tăng khả năng mắc bệnh không lây nhiễm. Các yếu tố liên quan của bệnh không lây nhiễm gồm: Hành vi lối sống, môi trường và các yếu tố sinh học (WHO, 2013; Đào Thị Thùy, 2019). Một số yếu tố hành vi lối sống Hút thuốc (lá, lào): Những người hút thuốc có nguy cơ mắc bệnh mạch vành gấp 2-4 lần và tử vong nhiều hơn khoảng 70% do bệnh này. Hút thuốc nói chung làm tăng 6 gấp đôi nguy cơ nhồi máu cơ tim trong 10 năm, với xu hướng nổi bật ở những bệnh nhân (<55 tuổi) hút thuốc có nguy cơ cao hơn ~7 lần so với những người không hút thuốc (Wang et al, 2022; Piepoli et al, 2016).
Tác giả Stallones Reuel (2015), nghiên cứu mối liên quan giữa hút thuốc lá và bệnh tim mạch vành, cho thấy hút thuốc là liên quan đến nguyên nhân của bệnh tim mạch (Satllones, 2015). Lạm dụng rượu, bia: Theo quy chuẩn của WHO, lượng rượu, bia uống trung bình trên ngày trên 4 đơn vị chuẩn đối với phụ nữ và trên 5 đơn vị chuẩn đối với nam được coi là lạm dụng rượu bia (WHO, 2013). Một nghiên cứu khác gần đây hơn phân tích 599.912 người uống rượu hiện tại từ 83 nghiên cứu tiền cứu đã chứng minh rõ ràng rằng tử vong do mọi nguyên nhân bắt đầu tăng ở những người uống rượu tiêu thụ >100 g/tuần so với những người tiêu thụ 0-25 g/tuần, mặc dù họ thực sự có giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim (Wood et al, 2018; Collaborators GA, 2016; Đào Thị Thùy, 2019). Ăn nhiều muối: Một khái niệm được chấp nhận chung rằng việc giảm lượng natri sẽ làm giảm huyết áp.
Việc giảm nhẹ lượng natri ăn vào 1g/ngày đã dẫn đến huyết áp tâm thu giảm 3,1 mmHg ở người tăng huyết áp và 1,6 mmHg ở người không cao huyết áp từ một phân tích tổng hợp ban đầu (Neal et al, 2021; Wang et al 2022). Nhiều nghiên cứu dịch tễ và thử nghiệm lâm sàng cho thấy có mối liên quan giữa chế độ ăn giảm muối và con số huyết áp. Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới, người bình thường chỉ nên tiêu thụ dưới 5 g muối/người/ngày (WHO, 2021). Tác giả Hồng Mùng Hai (2014) khi nghiên cứu tình hình tăng huyết áp tại huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau cho thấy, ăn mặn có nguy cơ tăng huyết áp gấp 1,1 lần (Hồng Mùng Hai, 2014).
Ăn ít rau quả: Khoảng 2,7 triệu người trên thế giới được cứu sống nếu khẩu phần ăn có đủ rau xanh. Trong tổng số gánh nặng bệnh tật do ăn thiếu rau xanh gây ra thì bệnh tim mạch chiếm 85%, ung thư 15%. WHO khuyến nghị ăn ít nhất 400 g rau, quả/ngày, dung môi hòa tan vitamin (A, D, E, K). Sử dụng nhiều chất béo gây thừa cân béo phì, rối loạn lipid máu, hội chứng chuyển hóa.
Tăng cholesterol máu ước tính gây ra 56% bệnh mạch vành toàn cầu, tương đương 4,4 triệu tử vong (7,9%). Thay thế việc sử dụng nhiều chất béo no nguồn gốc động vật bằng chất béo không no nguồn gốc thực vật được chứng minh giảm nguy cơ đái tháo đường týp 2 và bệnh mạch vành (WHO, 2013; Hồ Minh Hoàng, 2021). Ít hoạt động thể lực: Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, do kinh tế phát triển, cuộc sống có đầy đủ điều kiện vật chất hơn làm cho con người dễ sa vào lối sống ít 7 vận động thể lực, bên cạnh đó một chế độ ăn uống không hợp lý (quá nhiều calo, nhiều mỡ động vật, nhiều chất ngọt.), lối sống luôn căng thẳng nhất là ở các thành phố lớn tạo điều kiện cho bệnh tim mạch phát triển, trong đó tăng huyết áp chiếm một tỷ lệ không nhỏ (WHO, 2013). Bệnh nhân tăng huyết áp nên tham gia ít nhất 30 phút tập thể dục nhịp điệu cường độ trung bình (đi bộ nhanh, đạp xe chậm, chạy bộ hoặc bơi) (Pelliccia et al, 2020; Liang et al, 2020).
Đối với những người lớn tuổi hoặc suy nhược không thể tập thể dục nhịp điệu, có thể đề xuất các bài tập thể dục hoặc rèn luyện thần kinh vận động, chẳng hạn như thái cực quyền, yoga và thiền (Guan et al, 2020; Park et al, 2017; Guo et al, 2020; Phan Hùng Duy Hậu, 2020). Một số yếu tố sinh học Tỷ lệ tăng huyết áp tăng theo tuổi, có hơn một nửa số người ở độ tuổi 60-90 và ba phần tư số người 70 tuổi trở lên bị tăng huyết áp. Nghiên cứu của Élodie Giroux và cộng sự sử dụng mô hình ramingham đã đưa ra nguy cơ trong toàn bộ cuộc đời, tăng huyết áp là gần 90% cho cả nam và nữ, những người chưa trị tăng huyết áp ở tuổi 55 hoặc 65 và sống tới độ tuổi 80-85.