phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trƣờng mầm non ngoài công lập. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trƣờng mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trƣờng mầm non ngoài công lập trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng. 8 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG C M SÓC SỨC KHỎE CHO TRẺ TRONG TRƢỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG L P 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Một cơ thể khoẻ mạnh về thể chất và tinh thần trong những năm đầu đời là tiền đề, là điều kiện cần và đủ cho sự phát triển về mọi mặt sau này của đứa trẻ, vì thế vấn đề chăm sóc trẻ em luôn đƣợc đặt lên hàng đầu. Chính vì thế, QL hoạt động CSSK cho trẻ trong trƣờng MN là một trong những vấn đề luôn đƣợc các quốc gia cũng nhƣ các trƣờng MN trên thế giới đặc biệt quan tâm. Ở Liên Bang Nga, nhà GD ngƣời Nga Y.Fausek là ngƣời đầu tiên thực hiện phƣơng pháp GD M.Montessori tại trƣờng MN do chính Bà thành lập (1993) sau nhiều lần học hỏi kinh nghiệm ở nƣớc ngoài và trở thành ngƣời đầu tiên nghiên cứu và phổ biến phƣơng pháp GD M.Montessori tại nƣớc Nga.
Với phƣơng pháp này những đứa trẻ bắt đầu đƣợc CSSK, ND, GD cẩn thận, chu đáo, việc học tập vui chơi của trẻ không chỉ giúp trẻ giảm bớt căng thẳng và mệt mỏi về thần kinh và cơ bắp mà còn tăng cƣờng chức năng của hệ thần kinh trung ƣơng, hình thành cảm xúc tích cực, làm giảm sự lo lắng và kích thích hoạt động của não, tăng cƣờng sức khỏe tâm sinh lý. Ở Singapore, thơ ấu là một chặng đƣờng dài trong việc ngăn ngừa các bệnh truyền nhiễm Y tế nhà nƣớc Singapore. Ông Amy Khor cho biết: “Tăng cường sức khoẻ từ thời và phát huy các thói quen bảo vệ sức khỏe tốt ở tuổi trưởng thành (News, 2012). Trẻ em từ 3 tuổi ở trƣờng MN sẽ đƣợc dạy những thói quen lành mạnh, theo một khuôn khổ toàn diện gọi là CHERISH Junior.
CHERISH viết tắt của Championing Efforts Resulting in Improved School Health (Những nỗ lực nâng cao sức khoẻ trong trƣờng học), nhằm đẩy mạnh một 9 môi trƣờng học tập tăng cƣờng kinh nghiệm tự chăm sóc sức khỏe cho trẻ em. Ở Ôxtrâylia, Một trong các tiêu chuẩn đánh giá chất lƣợng trƣờng MN ở Ôxtrâylia đó là “sức khỏe và an toàn của trẻ” (Childrens health and safety). Vì thế, các kế hoạch đƣợc xây dựng dựa theo Luật và quyền trẻ em “trẻ em đƣợc an toàn thì trẻ học tốt hơn”. Và các chƣơng trình GDMN của Ôxtrâylia luôn lấy hoạt động vui chơi làm trung tâm và phát huy tối đa năng lực, tƣ duy của trẻ.
(Tạp chí GDMN, 2016, p. Ở Anh, Giáo sƣ Miriam Stoppard đã từng đƣợc Bounty Mums bầu chọn là chuyên gia trong việc nuôi nấng con cái số 1 tại Anh Quốc và nhận đƣợc rất nhiều giải thƣởng về y học nhƣ: Honorary Doctorates of Science, Honorary Doctorate of Law, OBE. là một trong những ngƣời đầu tiên kết hợp phƣơng tiện kỹ thuật y khoa và cách chăm sóc điều trị tại gia đình một cách hiệu quả và kịp thời nhất. Đến nay, Dr Miriam Stoppard đã cho xuất bản hơn 80 quyển sách với hơn 25 triệu bản trên toàn thế giới, xoay quanh việc mang thai và sinh con, CS và phát triển con trẻ, trong số đó có cuốn “Cẩm nang chăm sóc và điều trị bệnh trẻ em” (ngƣời dịch Bác sĩ Nguyễn Lân Đính nguyên giám đốc Trung tâm dinh dƣỡng trẻ em Thành phố Hà Nội).
Qua cuốn sách này, tác giả muốn gửi đến ngƣời đọc những cẩm nang về cách CS và phòng bệnh cho trẻ em mỗi khi có thắc mắc hoặc biết cách xử trí các bệnh trong quá trình CS-ND trẻ. Các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, những ngƣời trực tiếp tham gia các hoạt động CS, ND, khám chữa bệnh cho trẻ ở cấp Quốc gia về công tác chăm sóc sức khỏe trẻ ở bậc học MN đƣợc nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau. Nhƣng quy hình chung điều hƣớng đến một mục tiêu chung nâng cao chất lƣợng, hiệu quả trong công tác CSSK cho trẻ MN. Đây sẽ là những gợi mở cho tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu vấn đề “Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ trong trƣờng mầm non ngoài công lập tại thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dƣơng” hiện nay.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Nhằm góp phần nâng cao chất lƣợng quản lý, phong phú thêm các biện pháp quản lý công tác chăm sóc cho trẻ MN, những năm gần đây có một số tác giả đã nghiên cứu và đề xuất các biện pháp có thể áp dụng hiệu quả ở một số địa phƣơng. Đầu tiên là các công trình nghiên cứu của tác giả Tào Thị Hồng Vân, tiếp nối các công trình nghiên cứu gồm năm 2007, “bàn về cách đánh giá chất lượng chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo. Quan niệm và nội dung” và năm 2008, “thực trạng đảm bảo môi trường cho trẻ mẫu giáo nông thôn, đáp ứng yêu cầu đổi mới”, năm 2009, tác giả đã bảo vệ thành công Đề tài Luận án Tiến sĩ chuyên ngành Vệ sinh xã hội học và tổ chức ý tế “Chăm sóc sức khỏe trẻ mẫu giáo trong trường mầm non – đề xuất giải pháp can thiệp”. Luận án đã tiếp cận tổng thể, toàn diện về mục tiêu chăm sóc sức khỏe, chỉ ra thực trạng chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo trong trƣờng mầm non nông thôn còn nhiều bất cập.
Để nâng cao chất lƣợng chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi tại các trƣờng MN thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, tác giả Hồ Thị An nghiên cứu thực trạng hoạt động và thực trạng QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi với đề tài: “QL hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ 5 – 6 tuổi ở trường MN thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An”. Nhằm phân tích rõ thực trạng QL, chỉ đạo bồi dƣỡng GV về chuyên môn CS-ND trẻ và đề xuất các biện pháp tăng cƣờng công tác QL hoạt động CS-ND trẻ tại địa phƣơng, năm 2014 tác giả Dƣơng Thị Hiền đã nghiên cứu đề tài: “Quản lí hoạt động CS-GD của Hiệu trưởng các trường MN thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc”. Nghiên cứu đã đề xuất các biện pháp quản lí hiệu quả công tác CS – ND trẻ ở thành phố Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Tiếp theo năm 2016 tác giả Nguyễn Thị Kim Nhi đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương”.
Nghiên cứu góp phần nâng cao chất lƣợng cũng nhƣ khắc phục những hạn chế, tồn tại đang xảy ra trong các trƣờng mầm non ở 11 thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng nói riêng, ngành GDMN nói chung. Và gần đây nhất là năm 2017, tác giả Lê Thị Hƣơng Giang đã nghiên cứu đề tài: “Quản lý hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng tại các trường mầm non quận Long Biên, Hà Nội”. Với từng biện pháp đề xuất đều chứa đựng những vấn đề, những nội dung cơ bản có tính hệ thống, có sự tƣơng hỗ, tác động qua lại lẫn nhau dựa trên nền tảng lý luận về chăm sóc giáo dục trẻ mầm non và xuất phát từ thực tế đòi hỏi của ngành giáo dục, xã hội. Bên cạnh đó, hiện nay có nhiều tài liệu cho các trƣờng MN nghiên cứu và thực hiện trong công tác CSSK cho trẻ lứa tuổi MN, cụ thể nhƣ: Quyển sách “Bệnh học và sơ cấp cứu nhi khoa” của tác giả Phạm Thị Nhuận do nhà xuất bản Đại học sƣ phạm Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2017.
Đây là những kiến thức rất cần thiết cho các bà mẹ, các giáo sinh, đặc biệt các trƣờng MN đang trực tiếp CS nuôi dạy trẻ có thể áp dụng để ND-CS trẻ với phƣơng châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh, phòng TN hơn xử trí TN”. Hoặc nghiên cứu về việc CSSK cho trẻ do Nxb Giáo dục Việt Nam xuất bản: “Cẩm nang CSSK trẻ em trong trường MN” vào năm 2012 của các tác giả Hồng Thu, Anh Sơn, Thu Hiền. Công trình nghiên cứu đã giúp cho CBQL GDMN, GV và những ngƣời làm công tác y tế trƣờng học thực hiện tốt các văn bản quy phạm pháp luật, có kiến thức và kĩ năng thực hành CS bảo vệ SK cho trẻ trong trƣờng học. Một cuốn sách khác của Nhà xuất bản GD Việt Nam do tác giả: Hồng Thu, Trần Văn Lộc viết cũng cung cấp và hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản và cần thiết trong cách phòng tránh tai nạn thƣơng tích cho trẻ em, nhằm giúp cán bộ y tế, GV trong trƣờng MN biết cách tổ chức thực hiện các hoạt động CS, bảo vệ sức khỏe trẻ em trong nhà trƣờng.
Đồng thời cuốn sách còn tuyên truyền, hƣớng dẫn cho các bậc Cha mẹ trẻ (CMT) các kiến thức ND, CSSK cho trẻ em. 12 Nghiên cứu về tác động của trình độ đào tạo của GV với chất lƣợng CS- ND-GD trẻ em, của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2007) đã cho thấy, những GV có trình độ cao hơn nhƣ trình độ cử nhân thì có tác động tích cực đến chất lƣợng CS, GD trẻ. Nghiên cứu đã chỉ ra, ảnh hƣởng về kết quả CS, GD trẻ của những GV có trình độ cử nhân khác đáng kể so với kết quả CS, GD từ các GV có trình độ GD thấp hơn. Trƣớc yêu cầu của xã hội ngày càng cao đối với Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), Đảng và Nhà nƣớc đã tập trung đƣa ra những quyết sách lãnh đạo đối với các trƣờng MN trong việc CS, ND trẻ, trong đó đề cập đến việc CSSK cho trẻ, cho thấy CSSK không chỉ là trách nhiệm của những bậc làm cha mẹ mà còn là trách nhiệm, tình yêu thƣơng, hạnh phúc của cộng đồng và xã hội.
Chẳng hạn nhƣ: Quyết định số 711/QĐ-TTg của Thủ tƣớng Chính phủ về Chiến lƣợc phát triển GD 2011-2020 và đề ra mục tiêu cụ thể đối với GDMN. (Ban chấp hành trung ƣơng Đảng, 2017),… nhằm đảm bảo về quyền lợi cho trẻ em.