ĐẶT VẤN ĐỀ Tƣơng tác thuốc là yếu tố quan trọng có thể dẫn đến thất bại điều trị hoặc tăng khả năng xuất hiện các phản ứng có hại (ADR) ở mức độ nặng. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến sai sót trong điều trị, tăng tỷ lệ nhập viện trên mọi đối tƣợng bệnh nhân, trong đó bao gồm cả bệnh nhân nhi [29]. Việc phối hợp nhiều thuốc là khó có thể tránh khỏi. Khi đó, tỷ lệ các phản ứng Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC có hại (ADR) sẽ tăng theo.
Một thống kê dịch tễ học cho thấy tỷ lệ ADR là 7% ở bệnh nhân dùng phối hợp 6-10 loại thuốc, nhƣng tỷ lệ này sẽ là 40% khi dùng phối hợp 16-20 loại [2]. Tƣơng tác thuốc trên bệnh nhân nhi là vấn đề quan trọng cần đƣợc quan tâm do ở trẻ em, nhiều cơ quan chƣa hoàn thiện đầy đủ về chức năng nên hậu quả của tƣơng tác trên trẻ thƣờng nghiêm trọng và khó kiểm soát hơn so với ngƣời trƣởng thành [14]. Nhƣ vậy, thực tế điều trị đặt ra vấn đề cấp thiết là làm thế nào để vừa đạt đƣợc hiệu quả lâm sàng, vừa tránh đƣợc tƣơng tác bất lợi để đảm bảo an toàn cho ngƣời bệnh. Yêu cầu này đòi hỏi cán bộ y tế phải có sự sàng lọc, phát hiện, đánh giá và quản lý tƣơng tác thuốc trong thực hành lâm sàng đặc biệt là dƣợc sĩ lâm sàng.
Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh là bệnh viện chuyên khoa hạng II, tuyến chuyên môn cao nhất về khám chữa bệnh trong lĩnh vực sản phụ khoa và nhi khoa của tỉnh Quảng Ninh. Hằng năm, Bệnh viện tiếp nhận số lƣợng lớn bệnh nhân với loại hình bệnh tật đa dạng của cả trẻ em và phụ nữ. Dƣợc sỹ và bác sỹ của bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở đánh giá việc sử dụng thuốc tại bệnh viện, góp phần tích cực trong thay đổi điều trị. Tuy nhiên, vấn đề tƣơng tác thuốc vẫn chƣa đƣợc thực sự quan tâm đúng mực.
Xuất phát từ nhu cầu của thực tế lâm sàng, để giảm thiểu tối đa tƣơng tác thuốc bất lợi trong quá trình điều trị và hƣớng tới mục tiêu sử dụng thuốc hợp lý, hiệu quả, an toàn, chúng tôi thực hiện nghiên cứu đề tài “Xây dựng danh mục tƣơng tác thuốc bất lợi cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh” với 3 mục tiêu: 1. Xây dựng danh mục tương tác thuốc cần chú ý dựa trên lý thuyết từ danh mục thuốc sử dụng tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh năm 2018. Xây dựng danh mục tương tác thuốc có tần suất gặp cao qua khảo sát bệnh án nội trú. Xây dựng danh mục tương tác thuốc bất lợi cần chú ý trong thực hành lâm sàng tại Bệnh viện Sản Nhi Quảng Ninh qua tổng hợp danh mục tương tác ở mục tiêu 1 và 2.
Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC 2 luan an Chƣơng 1. Khái niệm tương tác thuốc Tƣơng tác thuốc là sự thay đổi tác dụng hoặc độc tính của thuốc khi sử dụng đồng thời với thuốc khác, dƣợc liệu, thức ăn, đồ uống hoặc hóa chất khác [3], [2], [10]. Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC Có nhiều dạng tƣơng tác thuốc khác nhau: tƣơng tác thuốc – thuốc, tƣơng tác thuốc – thức ăn, tƣơng tác thuốc – dƣợc liệu, tƣơng tác thuốc – tình trạng bệnh lý, tƣơng tác thuốc – xét nghiệm [3], [2]. Đôi khi thuật ngữ “tƣơng tác thuốc” đƣợc sử dụng chỉ những phản ứng vật lý – hóa học xảy ra khi các thuốc đƣợc trộn lẫn trong dịch truyền, gây kết tủa, đổi màu hoặc mất tác dụng, những trƣờng hợp này thƣờng đƣợc gọi là tƣơng kị [3], [2].
Trong phạm vi đề tài này, chúng tôi chỉ đề cập đến tƣơng tác thuốc – thuốc. Tƣơng tác thuốc - thuốc là tƣơng tác xảy ra khi nhiều thuốc đƣợc sử dụng đồng thời [3]. Ví dụ, phối hợp furosemid với gentamicin làm tăng độc tính trên thận và tai, do có cùng tác dụng phụ dẫn đến tăng nguy cơ suy thận và độc tính trên thính giác [3]. Phân loại tương tác thuốc Tƣơng tác thuốc đƣợc phân loại thành hai nhóm dựa trên cơ chế của tƣơng tác, bao gồm tƣơng tác dƣợc dƣợc động học và tƣơng tác dƣợc lực học [3], [2], [10] 1.
Tương tác dược động học Tƣơng tác dƣợc động học là tƣơng tác tác động lên các quá trình hấp thu, phân bố, chuyển hóa, thải trừ của thuốc trong cơ thể. Từ đó, dẫn đến sự thay đổi nồng độ của thuốc trong huyết tƣơng, làm thay đổi tác dụng dƣợc lý hoặc độc tính của thuốc. Tƣơng tác dƣợc động học là loại tƣơng tác xảy ra trong suốt quá trình tuần hoàn của thuốc trong cơ thể, khó đoán trƣớc và không liên quan đến cơ chế tác dụng của thuốc [3]. Tương tác dược lực học Tƣơng tác dƣợc lực học là khi một thuốc gây ảnh hƣởng tới đáp ứng sinh học hoặc tới độ nhạy cảm của mô trong cơ thể khi dùng cùng một thuốc khác.
Những thuốc gặp tƣơng tác này sẽ có tác dụng đối kháng hoặc hiệp đồng với nhau [2]. 3 luan an Tƣơng tác dƣợc lực học là loại tƣơng tác đặc hiệu, có thể biết trƣớc dựa vào tác dụng dƣợc lý và phản ứng có hại của thuốc. Các thuốc có cùng cơ chế tác dụng sẽ có cùng kiểu tƣơng tác dƣợc lực học [3]. Dịch tễ của tương tác thuốc Các nghiên cứu khác nhau báo cáo tỷ lệ xuất hiện tƣơng tác thuốc thƣờng rất khác nhau.
Nhiều yếu tố góp phần dẫn đến sự khác biệt này, nhƣ phƣơng pháp Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC nghiên cứu (tiến cứu hay hồi cứu), đối tƣợng nghiên cứu (bệnh nhân nội trú hay ngoại trú; bệnh nhân cao tuổi hay trẻ tuổi), cỡ mẫu nghiên cứu, tính đa dạng trong tiêu chí thu thập dữ liệu (tất cả tƣơng tác thuốc, tƣơng tác bất lợi hay chỉ những tƣơng tác nghiêm trọng). Nghiên cứu của Diksis N. và cộng sự trên bệnh nhân tim nội trú tại Trung tâm Y tế Đại học Jimma, Tây Nam Ethiopia có 673 đơn thuốc của 200 bệnh nhân đƣợc phân tích có tới 521 đơn thuốc có tƣơng tác thuốc tiềm tàng với tổng số 967 tƣơng tác. Tỷ lệ xuất hiện tƣơng tác thuốc tiềm tàng trên mỗi bệnh nhân là 4,83%, mỗi đơn thuốc là 1,44% bất kể mức độ nghiêm trọng.
Tỷ lệ gặp tƣơng tác thuốc tiềm tàng lên đến 74,41% [15]. Hay nghiên cứu của Bethi Y. và cộng sự trên bệnh nhân khoa nội của một bệnh viện đại học ở Ấn Độ, có tới 433 đơn thuốc (46%) có tƣơng tác tiềm tàng, với phạm vi từ 1-13 tƣơng tác trên mỗi đơn thuốc. Tổng cộng có 1395 tƣơng tác thuốc đã đƣợc tìm thấy, với 866 tƣơng tác thuốc trung bình (62%), 435 tƣơng tác nghiêm trọng (31,1%) và 89 tƣơng tác nhẹ (6,3%) và chỉ có ba tƣơng tác chống chỉ định (0,2%) [11].
Một nghiên cứu ở bệnh nhân nhi ngoại trú (từ 0 đến 17 tuổi) ở Thụy Điển báo cáo tập trung vào các tƣơng tác tiềm năng liên quan đến lâm sàng, nhóm D (nên tránh) và nhóm C (có thể đƣợc xử lý, ví dụ hiệu chỉnh liều). Trong nhóm bệnh nhân này, có 0,14% có tƣơng tác D tiềm tàng và 1,3% có tƣơng tác C tiềm tàng. Với 80% tƣơng tác D và 58% tƣơng tác C xảy ra ở bệnh nhân từ 12 đến 17 tuổi [21]. Ở Việt Nam, Nghiên cứu của Lê Huy Dƣơng năm 2017 báo cáo có 1063 bệnh án có tƣơng tác chiếm 47% trong 2232 bệnh án đƣa vào nghiên cứu, với 2920 lƣợt tƣơng tác từ mức độ trung bình trở lên [6].
Một nghiên cứu khác của Lê Thị Ni Na, Trần Anh Vũ, Nguyên Trần Anh Thƣ năm 2019 tại bệnh viện Phụ Sản Nhi Đà Nẵng với hai khoa lâm sàng: khoa Hồi sức nhi tần suất xuất hiện tƣơng tác 4 luan an là >2% khi khảo sát 413 bệnh án và khoa Gây mê hồi sức tần suất xuất hiện tƣơng tác >1% khi khảo sát 207 bệnh án [7]. Ý nghĩa của tương tác thuốc trong thực hành lâm sàng Tƣơng tác thuốc là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến biến cố sử dụng thuốc, gây sai sót trong điều trị, làm tăng tỷ lệ nhập viện trên mọi đối tƣợng bệnh nhân, trong đó bao gồm cả bệnh nhân nhi [29]. Trung tâm DI & ADR Quốc gia - Tài liệu chia sẻ tại CANHGIACDUOC.VN và facebook CANHGIACDUOC Tƣơng tác thuốc có thể chiếm 1% số ca nhập viện trong dân số nói chung và 2- 5% nhập viện ở ngƣời cao tuổi [24]. Nghiên cứu của Bethi Y.
và cộng sự trên bệnh nhân khoa nội của một bệnh viện đại học ở Ấn Độ đã chỉ ra rằng biến cố sử dụng thuốc liên quan đến tƣơng tác gây hậu quả đến 5% tỷ lệ nhập viện mỗi năm và tăng thời gian nằm viện) [11]. Một nghiên cứu khác của Veloso RCSG. và công sự trên 237 ngƣời cao tuổi, báo cáo tỷ lệ tƣơng tác thuốc tiềm tàng và ADR liên quan đến tƣơng tác lần lƣợt là 87,8% và 6,8%. Nghiên cứu cũng cho thấy có ý nghĩa thông kê giữa tƣơng tác thuốc và tỷ lệ nhập viện (OR 8.
Trong một số trƣờng hợp, tƣơng tác thuốc có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, thậm chí tử vong ở đối tƣợng trẻ em, nhƣ các trƣờng hợp sốc phản vệ do tƣơng tác giữa ceftriaxon với các sản phẩm có chứa canxi trên trẻ sơ sinh [26]. Hậu quả tƣơng tác thuốc không chỉ ảnh hƣởng trực tiếp đến bệnh nhân, nhân viên, cơ sở y tế mà còn ảnh hƣởng tới các công ty Dƣợc phẩm. Nhân viên y tế có thể bị đình chỉ công tác, chịu trách nhiệm pháp lý, hay cơ sở điều trị phải chịu tổn thất về chi phí, nguồn lực để điều trị cũng nhƣ ƣu tín nếu tƣơng tác thuốc nghiêm trọng, để lại hậu quả nặng nề cho bệnh nhân. Với các công ty Dƣợc phẩm, tổn thất về chi phí đầu tƣ, thời gian, tài chính là rất lớn nếu một thuốc bị rút ra khỏi thị trƣờng vì xảy ra tƣơng tác nghiêm trọng trên lâm sàng.
Thực tế cho thấy, trong khoảng thời gian từ năm 1998 đến 2003, 5 đến 10 thuốc bị rút số đăng ký ra khỏi thị trƣờng Hoa Kỳ do gây ra các tƣơng tác thuốc nghiêm trọng [22]. Tƣơng tác thuốc trên các đối tƣợng bệnh nhân đặc biệt 1. Tương tác thuốc trên bệnh nhân nhi 1.