ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới. Theo số liệu thống kê của Globocan: trong năm 2020 trên thế giới ước tính có khoảng trên 19 triệu ca mắc mới với số ca tử vong gần 10 nghìn ca [1]. Có nhiều phương pháp để điều trị ung thư, trong đó điều trị nội khoa là một trong những phương pháp được áp dụng phổ biến. Kết quả điều trị nội khoa phụ thuộc vào nhiều yếu tố; trong đó, các yếu tố như lựa chọn phác đồ điều trị (hóa chất và/hoặc thuốc sinh học), liều dùng, cách dùng, khoảng cách giữa các chu kì điều trị và các thuốc dự phòng phản ứng bất lợi đóng vai trò quan trọng.
Đồng thời, phần lớn các thuốc điều trị ung thư là các chất gây độc tế bào, có khoảng điều trị hẹp, độc tính cao. Do đó, các thuốc điều trị ung thư phải được cân nhắc sử dụng đảm bảo đúng liều, đúng liệu trình điều trị, phải theo dõi sát bệnh nhân trong và sau quá trình dùng thuốc để phát hiện, xử lý kịp thời các tác dụng không mong muốn. Nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản lý sử dụng thuốc, lấy bệnh nhân làm trung tâm, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ của nhóm đa ngành: bác sỹ - dược sỹ - điều dưỡng. Với vai trò quan trọng trong hoạt động nhóm đa ngành, dược sỹ lâm sàng có nhiệm vụ cung cấp thông tin thuốc và tư vấn sử dụng thuốc cho bác sỹ, điều dưỡng cũng như bệnh nhân, xem xét sử dụng thuốc, giám sát sử dụng thuốc cho người bệnh, tham gia theo dõi đáp ứng của người bệnh; góp phần phòng tránh, phát hiện và xử trí các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Relate Problem - DRPs) [2].
DRPs có thể xảy ra ở bất cứ giai đoạn nào từ kê đơn đến pha chế, cấp phát, thực hiện và giám sát sau khi sử dụng thuốc trên bệnh nhân. Việc phát hiện ra các DRPs có ý nghĩa quan trọng đối với người bệnh nhất là những đối tượng mắc bệnh lý đặc biệt và/hoặc sử dụng các thuốc có nguy cơ cao như thuốc điều trị ung thư. Từ đó, dược sỹ lâm sàng đề xuất các can thiệp nhằm nâng cao hiệu quả điều trị, giảm tỷ lệ tử vong và chi phí điều trị cho người bệnh [3]. Nhận thấy tầm quan trọng của dược sỹ trong hoạt động nhóm đa ngành, Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội đã triển khai các hoạt động dược lâm sàng để phối hợp với bác sỹ và điều dưỡng trong công tác chăm sóc người bệnh.
Tuy nhiên, với đội ngũ nhân lực còn thiếu, dược sỹ lâm sàng còn phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác. Do đó, việc 1 thẩm định y lệnh, đi buồng, báo cáo ca lâm sàng, hội chẩn đa chuyên ngành, thông tin thuốc, đào tạo, tập huấn, giám sát việc thực hiện thuốc điều trị ung thư của điều dưỡng và theo dõi phản ứng có hại của thuốc trên bệnh nhân để phát hiện DRPs chưa được thực hiện thường xuyên. Bên cạnh đó, hoạt động tư vấn, giáo dục bệnh nhân ngoại trú sử dụng hóa trị liệu đường uống chưa được triển khai; chưa có cơ chế giám sát việc tuân thủ điều trị như đối với người bệnh nội trú. Vì vậy, với mong muốn có cái nhìn khái quát về DRPs trong quá trình sử dụng thuốc trên bệnh nhân ung bướu, chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Phân tích một số vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc ung thư tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội” với hai mục tiêu: 1.
Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc (DRPs) trong quá trình kê đơn thuốc điều trị ung thư trên bệnh nhân nội trú mắc 5 loại ung thư phổ biến tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội. Phân tích các vấn đề liên quan đến thuốc (DRPs) về tuân thủ dùng thuốc hóa trị liệu đường uống trên bệnh nhân ngoại trú mắc 5 loại ung thư phổ biến tại Bệnh viện Ung Bướu Hà Nội. Chúng tôi hy vọng kết quả nghiên cứu bước đầu có thể cho một góc nhìn có tính hệ thống về các vấn đề liên quan đến thuốc trong kê đơn thuốc điều trị ung thư trên bệnh nhân nội trú, cũng như vấn đề tuân thủ dùng thuốc hóa trị liệu đường uống trên bệnh nhân ngoại trú. Từ đó, đưa ra một số kiến nghị và đề xuất mang tính hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thuốc cũng như hoạt động dược lâm sàng tại Bệnh viện.
Tổng quan về bệnh ung thư và các phương pháp điều trị ung thư 1. Bệnh ung thư 1. Khái niệm bệnh ung thư Ung thư là một nhóm bệnh lý phức tạp, đa dạng về nguyên nhân, biểu hiện lâm sàng và tiến triển. Đây là một bệnh lý ác tính tế bào, trong đó các tế bào phân chia vô hạn độ, không theo sự kiểm soát của cơ thể, không chết theo chương trình, các tế bào ung thư xâm lấn phá huỷ tổ chức xung quanh và di căn xa [4, 5].
Dịch tễ bệnh ung thư Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ước tính năm 2020 có khoảng 19,3 triệu ca mắc mới với các loại ung thư phổ biến bao gồm ung thư vú (11,7%), ung thư phổi (11,4%), ung thư đại trực tràng (10%), ung thư tuyến tiền liệt (7,3%), ung thư dạ dày (5,6%), ung thư gan (4,7%), ung thư cổ tử cung (3,1%) và ung thư thực quản (3,1%). Ung thư đang là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trên toàn thế giới, với số lượng ca tử vong tăng từ 9,6 triệu ca (năm 2018) lên 9,9 triệu ca (năm 2020). Gánh nặng ung thư tiếp tục gia tăng trên toàn cầu, gây tác động lớn đến vấn đề thể chất, tâm lý và tài chính của cá nhân, gia đình, cộng đồng và toàn bộ hệ thống y tế; ước tính đến năm 2040, số lượng ca mắc mới có thể lên đến 30,2 triệu ca [1, 6]. Tại Việt Nam, theo số liệu mới nhất của Globocan năm 2020, ước tính khoảng 182,563 ca mắc mới và 122,690 ca tử vong do ung thư, xếp thứ 91/185 quốc gia về tỷ suất mắc mới và thứ 50/185 quốc gia về tỷ suất tử vong trên 100000 người.
Thứ hạng này của năm 2018 lần lượt là 99/185 và 56/185 trên thế giới. Như vậy, có thể thấy là tình hình mắc mới và tử vong do ung thư ở Việt Nam ngày càng tăng [7, 8]. Các phương pháp điều trị ung thư Việc điều trị bệnh ung thư dựa vào nhiều yếu tố như: tuổi, thể trạng, cơ quan mắc bệnh, giai đoạn bệnh, thể mô bệnh học, các dấu ấn sinh học phân tử, xét nghiệm gen, bệnh phối hợp. Phát hiện sớm, chẩn đoán đúng giai đoạn bệnh, lựa chọn phương pháp điều trị hợp lý có ý nghĩa quan trọng để đem lại hiệu quả điều trị cao cho người bệnh.
Việc chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng bao gồm: chẩn đoán hình ảnh, nội soi, sinh hoá, mô bệnh học, y học hạt nhân, sinh học phân tử,…trong đó mô bệnh học đóng vai trò là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán xác định. 3 Đặc tính chung của bệnh ung thư là tiến triển tại chỗ, xâm lấn tổ chức xung quanh, di căn theo đường bạch huyết và di căn xa qua đường máu tới các cơ quan khác. Do vậy, điều trị bệnh ung thư là điều trị đa mô thức, có thể sử dụng một hoặc phối hợp nhiều phương pháp bao gồm phẫu thuật, xạ trị, hóa trị, nội tiết, điều trị đích và điều trị miễn dịch. Trong đó, phẫu thuật là phương pháp điều trị tại chỗ; xạ trị là phương pháp điều trị tại vùng; hóa chất, nội tiết, điều trị đích, miễn dịch là phương pháp điều trị toàn thân.
Khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư, người bệnh thường có tâm lí hoang mang, lo lắng về bệnh, thậm chí một số trường hợp có biểu hiện trầm cảm. Bệnh ung thư giai đoạn muộn thường khiến người bệnh suy kiệt do các tế bào ung thư tăng sinh vô hạn độ, nhân lên không chịu kiểm soát của cơ thể, xâm lấn, di căn. Do đó, ngoài việc điều trị bệnh ung thư, việc điều trị tâm lý và dinh dưỡng rất quan trọng. Hơn nữa, người bệnh ung thư đa số trên 50 tuổi, một số mắc các bệnh lý phối hợp, việc lựa chọn các thuốc điều trị nhằm mang lại hiệu quả cao, ít tác dụng phụ, ít có sự tương tác thuốc rất quan trọng [2, 4, 9].
Vì vậy, sự phối hợp giữa Bác sỹ và Dược sỹ lâm sàng ngày càng cần thiết. Tại một số bệnh viện đã thành lập các tiểu ban, các nhóm hội chẩn đa chuyên khoa để cùng đưa ra chẩn đoán và lựa chọn phương pháp điều trị tối ưu nhất cho người bệnh. Các phương pháp điều trị tại chỗ, tại vùng Phẫu thuật: Phẫu thuật điều trị bệnh ung thư có 2 loại phẫu thuật chính là phẫu thuật triệt căn và phẫu thuật triệu chứng. Phẫu thuật dùng để điều trị triệt căn với trường hợp bệnh nhân ở giai đoạn sớm - tổn thương khu trú chưa có di căn xa; bằng cách cắt rộng, lấy toàn bộ khối ung thư và một phần tổ chức lành bao quanh, vét toàn bộ hạch vùng với mục đích không còn để sót lại tế bào ung thư; thường áp dụng cho các loại ung thư như dạ dày, đại trực tràng, vú, cổ tử cung,.
Phẫu thuật điều trị triệu chứng chỉ định cho trường hợp bệnh ở giai đoạn muộn, tổn thương đã lan rộng. Trong trường hợp này phẫu thuật không thể lấy hết được những tổ chức ung thư đã xâm lấn rộng ra xung quanh, do đó có thể dẫn đến tái phát tại chỗ kèm theo di căn xa nếu chỉ được điều trị bằng phẫu thuật đơn độc [4, 9]. Xạ trị: Là phương pháp dùng tia bức xạ ion hóa có năng lượng cao để tiêu diệt các tế bào ung thư, phương pháp này tiêu diệt được các tế bào ung thư đã xâm lấn rộng ra các vùng xung quanh khối u nguyên phát, là nơi mà không thể phẫu thuật được. Xạ trị có thể dùng đơn độc, ví dụ trong ung thư vòm họng; hoặc phối hợp với phẫu thuật, hóa chất.
Xạ trị phối hợp với phẫu thuật thường được áp dụng trong trường hợp ung thư đã phát triển tương đối lớn; có khi xạ trị trước mổ nhằm giảm bớt thể tích u, hạn chế di căn xa trong lúc mổ; có khi xạ trị sau mổ nhằm diệt nốt những tế bào ung thư còn sót lại 4 sau mổ. Xạ trị phối hợp với hoá chất để tăng khả năng diệt tế bào ung thư tại một khu vực mà điều trị hoá chất không đủ khả năng diệt hết [4, 9].