Nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV và hiệu quả can thiệp tại các phòng khám ngoại trú ở Hà Nội

Luận án tiến sĩ phân tích thực trạng tuân thủ điều trị ARV, các yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp tại phòng khám ngoại trú Hà Nội.

Trường đại học

Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2019

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Điều trị kháng vi-rút và lợi ích của điều trị kháng vi-rút (ARV)

1.2. Tổng quan các thuốc ARV và tiêu chuẩn điều trị ARV

1.3. Lợi ích của điều trị ARV

1.4. Ảnh hưởng của không tuân thủ điều trị ARV

1.5. Tổ chức điều trị ARV cho người nhiễm và theo dõi đáp ứng điều trị ARV

1.6. Định nghĩa, cách đánh giá và các yếu tố có ảnh hưởng tới tuân thủ điều trị

1.7. Định nghĩa và đánh giá tuân thủ điều trị

1.8. Tuân thủ điều trị ARV trên thế giới và tại Việt Nam. Các yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị ARV. Phân loại các can thiệp làm tăng tuân thủ điều trị ARV

1.9. Can thiệp tuân thủ điều trị trong chăm sóc và điều trị theo thường quy

1.10. Can thiệp tuân thủ điều trị chuẩn nâng cao (eSOC)

1.11. Can thiệp tuân thủ điều trị qua điện thoại

1.12. Can thiệp tuân thủ điều trị qua tin nhắn

1.13. Can thiệp tuân thủ điều trị qua tập huấn kỹ năng cho bệnh nhân

1.14. Can thiệp tuân thủ điều trị đa phương tiện

1.15. Can thiệp tuân thủ điều trị qua liệu pháp hành vi nhận thức

1.16. Can thiệp tuân thủ điều trị qua người hỗ trợ

1.17. Can thiệp tuân thủ điều trị qua hỗ trợ tài chính

1.18. Can thiệp tuân thủ điều trị qua thiết bị nhắc dùng thuốc

1.19. So sánh hiệu quả của các can thiệp nhằm tăng tuân thủ điều trị ARV

1.20. Thông tin chung về phòng khám ngoại trú (OPC)

1.21. Khung lý thuyết, câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu. Địa điểm, thời gian và thiết kế nghiên cứu

2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu và phương pháp chọn mẫu

2.2.1. Cỡ mẫu nghiên cứu

2.2.2. Phương pháp chọn mẫu

2.3. Tóm tắt quy trình nghiên cứu

2.4. Nội dung các hoạt động can thiệp

2.4.1. Mục tiêu của can thiệp. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu can thiệp

2.4.2. Nội dung và các hoạt động can thiệp của mô hình

2.4.3. Tổ chức và điều hành hoạt động can thiệp của mô hình

2.4.4. Bộ chỉ số đánh giá hiệu quả của can thiệp

2.5. Công cụ và phương pháp thu thập số liệu. Bộ công cụ đánh giá tuân thủ điều trị. Bộ công cụ thu thập các thông tin nhân khẩu học, xã hội học, bệnh học của bệnh nhân. Quản lý và phân tích số liệu

2.6. Các biện pháp khống chế sai số trong nghiên cứu. Đạo đức trong nghiên cứu

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Một số đặc điểm của đối tượng nghiên cứu trước và sau can thiệp

3.1.1. Một số đặc điểm nhân khẩu học đối tượng tham gia nghiên cứu trước và sau can thiệp

3.1.2. Một số đặc điểm bệnh học đối tượng tham gia nghiên cứu trước và sau can thiệp

3.1.3. Một số đặc điểm xã hội học các đối tượng tham gia nghiên cứu trước và sau can thiệp

3.2. Thực trạng điều trị ARV tại thời điểm trước và sau can thiệp

3.2.1. Phác đồ điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú nghiên cứu

3.2.2. Điều trị dự phòng khác kèm theo điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú nghiên cứu

3.2.3. Xét nghiệm tải lượng vi-rút trong thời gian điều trị ARV

3.2.4. Các hỗ trợ xã hội người nhiễm nhận được từ gia đình, xã hội đối với việc điều trị ARV tại thời điểm trước can thiệp 2016

3.3. Một số hành vi nguy cơ của bệnh nhân trong khảo sát trước can thiệp

3.4. Thực trạng tuân thủ điều trị ARV tại thời điểm trước can thiệp 2016

3.4.1. Đánh giá tuân thủ điều trị qua phỏng vấn bệnh nhân

3.4.2. Đánh giá tuân thủ điều trị bằng thang điểm trực quan (VAS) tại thời điểm trước can thiệp

3.4.3. Đánh giá tuân thủ điều trị qua kiểm tra kiến thức sử dụng ARV tại thời điểm trước can thiệp

3.4.4. Đánh giá tuân thủ điều trị qua kiểm đếm số viên trong kỳ tại thời điểm trước can thiệp

3.4.5. Đánh giá tuân thủ điều trị bằng phương pháp kết hợp theo thang đánh giá đa chiều tại thời điểm trước can thiệp

3.4.6. Một số yếu tố có liên quan đến tuân thủ điều trị

3.5. Đánh giá hiệu quả can thiệp theo các chỉ số đánh giá hiệu quả

3.5.1. Tuân thủ điều trị theo phương pháp đánh giá kết hợp sử dụng thang đánh giá đa chiều so sánh trước và sau can thiệp

3.5.2. Tuân thủ điều trị dựa trên phỏng vấn bệnh nhân so sánh trước và sau can thiệp

3.5.3. Tuân thủ điều trị đánh giá bằng công cụ trực quan (VAS) so sánh trước và sau can thiệp

3.5.4. Tuân thủ điều trị qua kiểm tra kiến thức sử dụng ARV so sánh trước và sau can thiệp

3.5.5. Tuân thủ điều trị qua kiểm đếm số viên dùng trong kỳ so sánh trước và sau can thiệp

3.5.6. Sử dụng phác đồ điều trị ARV bậc 1 tại thời điểm sau can thiệp so sánh trước và sau can thiệp

3.5.7. Giá trị CD4 trong lần xét nghiệm gần đây nhất, so sánh trước và sau can thiệp

3.5.8. Xét nghiệm tải lượng vi-rút trong 12 tháng gần đây, so sánh trước và sau can thiệp

3.5.9. Sự hỗ trợ của gia đình và xã hội đối với việc điều trị ARV của bệnh nhân, so sánh trước và sau can thiệp

3.5.10. Các hành vi nguy cơ không có lợi đối với việc điều trị ARV, so sánh trước và sau can thiệp

3.5.11. Gặp phải tác dụng phụ của ARV và dừng thuốc do tác dụng phụ

3.5.12. Mức độ tự tin của bệnh nhân về hiệu quả của ARV cũng như khả năng dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sỹ

3.5.13. Mức độ hài lòng về sức khỏe thể chất và tinh thần của bệnh nhân với điều trị ARV

3.5.14. Mức độ hài lòng của bệnh với các thông tin về cách uống thuốc do bác sỹ phòng khám cung cấp

3.6. Một số đặc điểm và tính đại diện của quần thể nghiên cứu

3.7. Hạn chế của nghiên cứu

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hiệu quả can thiệp ARV

Nghiên cứu về hiệu quả can thiệp ARV tại các phòng khám ngoại trú ở Hà Nội cho thấy rằng việc áp dụng các phương pháp can thiệp có thể cải thiện đáng kể tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV. Các can thiệp này bao gồm việc cung cấp thông tin đầy đủ về thuốc, hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân, và theo dõi thường xuyên tình trạng sức khỏe của họ. Theo một nghiên cứu, tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV đã tăng lên 30% sau khi áp dụng các can thiệp này. Điều này cho thấy rằng can thiệp ARV không chỉ giúp bệnh nhân hiểu rõ hơn về quá trình điều trị mà còn tạo động lực cho họ trong việc duy trì thói quen uống thuốc đúng giờ.

1.1. Các phương pháp can thiệp

Các phương pháp can thiệp được áp dụng bao gồm hỗ trợ điều trị, tư vấn tâm lý, và giáo dục sức khỏe. Những phương pháp này đã được chứng minh là hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức của bệnh nhân về tầm quan trọng của việc tuân thủ điều trị. Một nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân được tham gia vào các buổi tư vấn nhóm có tỷ lệ tuân thủ cao hơn so với những người không tham gia. Điều này cho thấy rằng việc tạo ra một môi trường hỗ trợ có thể giúp bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn khi chia sẻ những khó khăn trong quá trình điều trị.

II. Tuân thủ điều trị ARV

Tuân thủ điều trị ARV là một yếu tố quan trọng trong việc kiểm soát bệnh HIV. Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ tuân thủ điều trị ARV tại các phòng khám ngoại trú ở Hà Nội còn thấp, với nhiều bệnh nhân gặp khó khăn trong việc duy trì thói quen uống thuốc. Các yếu tố như tình hình sức khỏe, hỗ trợ từ gia đình, và khả năng tiếp cận dịch vụ y tế đều ảnh hưởng đến tỷ lệ tuân thủ. Việc đánh giá chính xác tình hình tuân thủ điều trị là cần thiết để có thể đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ

Nhiều yếu tố có thể ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị ARV, bao gồm tình trạng tâm lý, mức độ hiểu biết về bệnh, và hỗ trợ xã hội. Bệnh nhân có sự hỗ trợ từ gia đình thường có tỷ lệ tuân thủ cao hơn. Một nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân có người thân đồng hành trong quá trình điều trị có khả năng tuân thủ tốt hơn 40% so với những người không có sự hỗ trợ này. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xây dựng một mạng lưới hỗ trợ cho bệnh nhân HIV.

III. Đánh giá hiệu quả điều trị ARV

Đánh giá hiệu quả điều trị ARV không chỉ dựa vào tỷ lệ tuân thủ mà còn phải xem xét các chỉ số sức khỏe khác như tải lượng vi-rútgiá trị CD4. Nghiên cứu cho thấy rằng những bệnh nhân tuân thủ điều trị tốt có tải lượng vi-rút thấp hơn và giá trị CD4 cao hơn. Điều này chứng tỏ rằng việc tuân thủ điều trị ARV có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bệnh nhân. Việc theo dõi thường xuyên các chỉ số này là cần thiết để đánh giá hiệu quả của các can thiệp đã thực hiện.

3.1. Tác động của tuân thủ đến sức khỏe

Tác động của tuân thủ điều trị đến sức khỏe bệnh nhân HIV là rất rõ ràng. Nghiên cứu cho thấy rằng bệnh nhân có tỷ lệ tuân thủ cao có khả năng sống lâu hơn và chất lượng cuộc sống tốt hơn. Một nghiên cứu đã chỉ ra rằng những bệnh nhân tuân thủ điều trị ARV có tỷ lệ tử vong thấp hơn 50% so với những người không tuân thủ. Điều này cho thấy rằng việc duy trì thói quen uống thuốc đúng giờ không chỉ giúp kiểm soát bệnh mà còn cải thiện sức khỏe tổng thể của bệnh nhân.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ thực trạng tuân thủ điều trị arv một số yếu tố liên quan và hiệu quả can thiệp tại một số phòng khám ngoại trú tại hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Điều trị kháng vi-rút và lợi ích của điều trị kháng vi-rút (ARV) 1. Tổng quan các thuốc ARV và tiêu chuẩn điều trị ARV Ngày 19/3/1987 được coi là một cột mốc quan trọng khi lần đầu tiên Cơ quan quản lý Dược phẩm và Thực phẩm Hoa Kỳ (US FDA) chính thức chấp thuận, phê duyệt Zidovudine (Azidothymidine, AZT, ZDV), một thuốc được nghiên cứu phát triển vào năm 1960 để ngăn ngừa ung thư, làm thuốc điều trị HIV/AIDS đầu tiên. Đây được xem là một bước đột phá trong quản lý điều trị HIV.

Kể từ đó tới nay, các nỗ lực trong nghiên cứu, phát triển thuốc đã cho phép sự ra đời của nhiều loại thuốc ARV được ứng dụng vào điều trị. Các thống kê của US FDA cho thấy tính tới thời điểm hiện tại có hơn 40 loại thuốc ARV đã được cấp phép lưu hành và cũng đang có hàng chục các nghiên cứu phát triển các ARV mới khác đang được tiến hành trên thế giới [18]. Về cơ bản, các thuốc ARV được chia làm 5 nhóm chính theo cơ chế tác dụng gồm: • Thuốc ức chế men sao chép ngược (NRTI) • Thuốc ức chế men sao chép ngược Non-nucleoside (NNRTI) • Thuốc ức chế men Protease (PI) • Thuốc ức chế hòa màng/xâm nhập • Thuốc ức chế men tích hợp Các thuốc ức chế men sao chép ngược (NRTI), thuốc ức chế men sao chép ngược Non-nucleoside (NNRTI) và thuốc ức chế men Protease (PI) là các thuốc được sử dụng phổ biến tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới [18]. Thuốc ức chế hòa màng/xâm nhập và thuốc ức chế men tích hợp là các nhóm thuốc mới hiện ít được sử dụng trong nước.

Tóm tắt các thuốc ARV đang được sử dụng tại Việt Nam được trình bày trong bảng dưới đây. luan an 4 Bảng 1.1 Một số thuốc và nhóm thuốc ARV chính tại Việt Nam Thuốc ức chế Thuốc ức chế Thuốc ức chế Thuốc ức Thuốc ức chế men sao chép men sao chép men Protease chế hòa men tích hợp ngược (NRTI) ngược Non- (PI) màng/xâm nucleoside nhập (NNRTI) Abacavir Efavirenz Atazanavir Elvitegravir Maraviroc Lamivudin Nevirapin Ritonavir Dolutegravir Tenofovir Etravirin Lopinavir và Raltegravir Zidovudin Rilpivirin ritonavir Emtricitabin Cobicistat Stavudin Darunavir Fosamprenavir Saquinavir Tipranavir Trong khi sự đa dạng và phong phú xét trên cơ chế điều trị cũng như sự đa dạng về chủng loại thuốc trong từng phân nhóm là cơ hội tốt, cho phép bệnh nhân tiếp cận với nhiều điều trị khác nhau; sự đa dạng các loại thuốc này cũng cho thấy tính chất phức tạp của điều trị ARV cũng như các khó khăn tiềm ẩn đối với vấn đề tuân thủ điều trị. Một điểm nữa cũng cần lưu ý đó là ngoài việc sử dụng các thuốc ARV, bệnh nhân HIV/AIDS còn được điều trị dự phòng với các thuốc khác nữa trong trường hợp cần thiết như điều trị dự phòng với Co-trimoxazol, điều trị dự phòng lao (Isoniazid), điều trị bệnh do nấm (Amphotericin B, Fluconazol, Itraconazol…), việc điều trị này làm tăng thêm tính chất phức tạp cũng như gây khó khăn hơn vấn đề tuân thủ điều trị. Tại Việt Nam, việc điều trị kháng vi-rút (ARV) đối với bệnh nhân HIV/AIDS đã được chuẩn hóa trong Hướng dẫn Quản lý, Điều trị và Chăm sóc HIV/AIDS, được ban hành kèm theo Quyết định số 3047/QĐ-BYT ngày 22 tháng 7 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Y tế, và sau đó được cập nhật trong Hướng dẫn Điều trị và Chăm sóc HIV/AIDS, được ban hành kèm theo Quyết định số 5418/QĐ-BYT ngày 1 tháng 12 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ Y tế [1].

Các hướng dẫn này nêu rõ mục đích của điều trị ARV là để ngăn chặn tối đa và lâu dài quá trình nhân lên của HIV trong cơ thể và phục hồi chức năng miễn dịch. Bốn nguyên tắc điều trị ARV cũng đã được trình bày đầy đủ trong hướng dẫn trong đó có nguyên tắc điều trị liên tục, suốt đời và nguyên tắc đảm bảo tuân thủ luan an 5 điều trị ARV. Cụ thể hơn, nguyên tắc tuân thủ điều trị nêu rõ người bệnh cần thực hiện uống thuốc đúng liều, đúng giờ, đúng cách theo chỉ định đã cho thấy tầm quan trọng của tuân thủ điều trị ARV. Hướng dẫn Điều trị và Chăm sóc HIV/AIDS ngày 01 tháng 12 năm 2017 của Bộ Y Tế nêu nguyên tắc chung đó là tất cả người nhiễm HIV không phụ thuộc giai đoạn lâm sàng và số lượng tế bào CD4 đều có thể bắt đầu được điều trị.

Hướng dẫn này cũng nêu rất rõ các chỉ định của việc sử dụng các phác đồ bậc 1, bậc 2 và bậc 3 cho bệnh nhân [1]. Hiện nay phần lớn các thuốc điều trị ARV trong nước cũng như kinh phí phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam chủ yếu từ nguồn viện trợ nước ngoài [67]. Tuy nhiên, từ khi Việt Nam được công nhận là nước có mức sống trung bình thì nguồn viện trợ giảm dần, thay vào đó là nguồn ngân sách Nhà nước và Quỹ bảo hiểm y tế. Việc điều trị ARV do vậy càng cần phải kiểm soát chặt chẽ để hạn chế tình trạng kháng thuốc dẫn tới phải sử dụng các phác đồ bậc cao với chi phí cao hơn đáng kể so với phác đồ bậc 1.

Lợi ích của điều trị ARV Lợi ích của điều trị ARV là việc không cần phải bàn cãi và điều này đã được minh chứng trong nhiều nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng cũng như trong thực hành theo thường quy [118],120]. Việc điều trị ARV sẽ giúp bệnh nhân có cơ hội duy trì được tải lượng virus thấp trong máu và ở dưới ngưỡng không phát hiện được (dưới 200 bản sao/ml máu), điều này đã được xác nhận là vừa có tác dụng bảo vệ sức khoẻ của bệnh nhân và vừa ngăn ngừa lây nhiễm HIV sang bạn tình [122]. Các báo cáo chính thức của UNAID cho rằng “một mức tải lượng vi rút HIV không phát hiện được có nghĩa là HIV không còn khả năng lây truyền”. Các công bố này của UNAID [122] được hỗ trợ dựa trên ba nghiên cứu khác nhau được thực hiện trên các cặp bạn tình dị nhiễm HIV ở châu Phi, châu Á, châu Âu, Úc, Brazil và Thái Lan cho thấy điều trị ARV có thể giảm nguy cơ lây truyền HIV qua bạn tình tới 96%.

Các báo cáo khoa học khác cũng cho thấy: “Không có trường hợp nào bị lây nhiễm HIV từ bạn tình nhiễm HIV khi họ có tải lượng HIV <200 bản sao/ml và không dùng bao cao su hay PrEP”.Điều này có nghĩa là khi người bệnh uống thuốc ARV hàng ngày theo chỉ định, đạt được và duy trì tải lượng HIV dưới ngưỡng phát hiện sẽ thực sự không có nguy cơ làm lây truyền HIV sang bạn tình HIV âm tính”. Báo cáo cũng đã kết luận người nhiễm HIV được điều trị bằng thuốc luan an 6 ARV có tải lượng HIV trong máu dưới ngưỡng phát hiện thì không có nguy cơ lây truyền HIV qua quan hệ tình dục [122]. Ảnh hưởng của không tuân thủ điều trị ARV Kháng thuốc điều trị HIV có thể xuất hiện do việc lây truyền vi-rút kháng thuốc hoặc mắc phải khi đang dùng ARV [21], [22], [23], [25]. Kháng thuốc do lây truyền khác nhau nhiều tùy vào nước và ổ dịch [90], [91], [95], [100].

Tại Việt Nam, kháng thuốc do lây truyền vẫn tương đối thấp (<5%) [37], [91, [105], [106]. Tuy nhiên, kháng thuốc do lây truyền tại các nước châu Á khác tương đối cao hơn (5-15%) và có khuynh hướng tăng ở các nhóm có nguy cơ cao, điển hình như nhóm nam tình dục đồng giới (MSM) [106], [108] Chưa nghiên cứu nào định lượng được chính xác việc không tuân thủ ở mức độ nào và trong thời gian bao lâu sẽ dẫn đến tình trạng kháng thuốc, tuy nhiên điểm thống nhất cao trong tất cả các nghiên cứu và nhận định đều nêu rõ không tuân thủ điều trị gây ra nguy cơ kháng thuốc và do vậy việc xác định được những bệnh nhân không tuân thủ điều trị để có biện pháp hỗ trợ kịp thời là cần thiết. Ngoài mục tiêu giảm tỷ lệ tử vong do HIV/AIDS thì một trong những mục tiêu khác nữa của điều trị ARV là cần đạt được tình trạng ức chế vi-rút. Đã có nhiều nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV với tình trạng ức chế vi-rút cho thấy tuân thủ điều trị ARV dưới 95% làm tăng nguy cơ không đạt được tình trạng này [100], [105], [106].

Tuân thủ điều trị ARV được xem là yếu tố tiên lượng tốt đối với tình trạng ức chế vi-rút và ngược lại tuân thủ điều trị kém làm giảm ức chế vi-rút, tăng khả năng kháng thuốc và giảm thời gian sống của bệnh nhân [100], [105], [106]. Biểu đồ dưới đây mô tả mối quan hệ giữa mức tuân thủ điều trị với các thuốc ức chế men sao chép ngược transcriptase nonnucleoside (nonnucleoside reverse-transcriptase inhibitors) (NNRTIs) và tình trạng ức chế vi-rút trong một nghiên cứu quan sát trên 2.821 bệnh nhân trưởng thành nhiễm HIV. So sánh tỷ lệ đạt được ức chế vi-rút khi giữa các bệnh nhân tuân thủ điều trị 80% đến 89% với tuân thủ điều trị 100%, và giữa các bệnh nhân tuân thủ điều trị 90% đến 99% so với tuân thủ điều trị 100% [81]. luan an 7 Biểu đồ 1.1 Mối quan hệ giữa tuân thủ điều trị và tình trạng ức chế vi-rút Nguồn: Nachega et all 2007 Biểu đồ này cho thấy tỷ lệ bệnh nhân đạt được ức chế vi-rút được định nghĩa là HIV-1 RNA dưới mức 400 bản sao/ml tăng lên đáng kể khi tỷ lệ tuân thủ điều trị tăng lên.

Tuân thủ điều trị làm tăng thời gian sống của bệnh nhân và ngược là các bệnh nhân không tuân thủ điều trị tốt sẽ có thời gian sống ngắn hơn [105], [106]. Một nghiên cứu thực hiện tại Ấn Độ trên 239 bệnh nhân cho thấy có 57% bệnh nhân được xác định là tuân thủ ART. Nghiên cứu ghi nhận 104 bệnh nhân tử vong trong thời gian 358,5 bệnh nhân-năm và do vậy tác giả tính toán được tỷ lệ tử vong là 29 trên 100 bệnh nhân- năm (95% khoảng tin cậy (CI): 23,9–35,2) và trung vị thời gian sống của bệnh nhân là 6,5 tháng (95% KTC: 2,7–10,9). Tỷ lệ tử vong cao hơn có ý nghĩa thống kê trong nhóm bệnh nhân không tuân thủ điều trị ART (64,5, 95% KTC: 50,5–82,4) so với các bệnh nhân có tuân thủ điều trị (15,4 95% KTC: 11,3–21,0).

Nguy cơ tử vong trong các bệnh nhân không tuân thủ điều trị ARV cao hơn gấp 04 lần so với bệnh nhân không tuân thủ ARV (Tỷ số nguy hại hiệu chỉnh: 3,9; 95% KTC: 2,6–6,0) [95]. luan an 8 Biểu đồ 1.2 Ước tính Kaplan Mayer thời gian sống thêm, so sánh giữa nhóm tuân thủ điều trị và không tuân thủ điều trị ARV Nguồn: Rai S, et al.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án "Nghiên cứu về tuân thủ điều trị ARV và hiệu quả can thiệp tại các phòng khám ngoại trú ở Hà Nội" của tác giả Đào Đức Giang, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Anh Tuấn và PGS. Bùi Đức Dương, được thực hiện tại Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá mức độ tuân thủ điều trị ARV (thuốc kháng virus) và hiệu quả của các can thiệp tại các phòng khám ngoại trú ở Hà Nội. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình điều trị ARV mà còn đưa ra những khuyến nghị quan trọng nhằm cải thiện hiệu quả điều trị cho bệnh nhân.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực y tế công cộng và các can thiệp điều trị, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023, nơi nghiên cứu nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc của bệnh nhân điều trị ngoại trú, và Tuân thủ quy trình đặt và chăm sóc kim luồn tĩnh mạch ngoại vi của điều dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang năm 2021, nghiên cứu về quy trình chăm sóc y tế tại các cơ sở điều trị. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến tuân thủ điều trị và can thiệp y tế.