Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm - Chăm sóc sức khỏe ban đầu: là những chăm sóc y tế cơ bản thiết yêu dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn cũng như những phương pháp được xã hội chấp nhận và đến với mọi người, mọi gia đình thông qua sự tham gia đầy đủ của cộng đồng với mức chi phí mà cộng đồng và Nhà nước có thể trang trải được, có thể duy trì được ở bất cứ mức phát triển nào với tinh thần tự lo liệu, tự quyết định. - Y tế cơ sở Theo Tổ chức Y tế thế giới năm 1991, hệ thống YTCS dựa trên CSSKBĐ là hệ thống bao gồm một tập hợp các hoạt động có mối liên quan với nhau, góp phần vào việc CSSK tại gia đình, trường học, nơi làm việc, cộng đồng, ngành y tế và các ban ngành kinh tế xã hội liên quan. Tuyến YTCS có các cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực y tế, có thể thuộc chính phủ hay phi chính phủ, cùng với các bệnh viện tuyến quận, huyện và những dịch vụ hỗ trợ thích hợp như chẩn đoán và hậu cần, xét nghiệm.
Hệ thống này có thể phát huy hiệu quả cao nhất nếu nó gắn với việc đào tạo một cách thích đáng đội ngũ cán bộ y tế nhằm hướng tới một phạm vi toàn diện nhất có thể ở nhiều lĩnh vực hoạt động CSSK như nâng cao sức khỏe, phòng ngừa, điều trị và phục hồi chức năng [141], [126]. Khái niệm và vai trò quan trọng của mạng lưới này cũng đã được nêu rõ trong Chỉ thị 06-CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 22/01/2002: “Mạng lưới YTCS (bao gồm y tế thôn, bản, xã, phường, quận, huyện, thị xã) là tuyến y tế trực tiếp gần dân nhất, bảo đảm cho mọi người dân được CSSK cơ bản với chi phí thấp nhất, góp phần thực hiện công bằng xã hội, xoá đói giảm nghèo, xây dựng nếp sống văn hoá, trật tự, an toàn xã hội, tạo niềm tin cho nhân dân với chế độ XHCN [3], [40]. - Tư vấn sức khỏe: là một quá trình đối thoại và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa người tư vấn và đối tượng tư vấn nhằm tạo điều kiện giúp cho đối tượng được tư vấn nâng cao hiểu biết nhằm hỗ trợ xác định, xử lý một vấn đề liên quan đến sức khoẻ [71]. luan an 4 - Nhân viên y tế: là toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế kể cả tổ chức công lập và tư nhân; kể cả biên chế và hợp đồng, bao gồm những người cung cấp dịch vụ y tế: bác sỹ, điều dưỡng, y tế công cộng, dược sỹ, kỹ thuật viên và những người quản lý và nhân viên khác [8].
Tại nghiên cứu này chúng tôi tập trung chủ yếu vào nhóm thực hiện CSSKBĐ bao gồm TTYT huyện, thành phố và TYT xã, phường và nhân viên y tế tại đây. Quá trình hình thành, kết quả và thách thức của chăm sóc sức khỏe ban đầu. Trên thế giới Những năm đầu thập niên 70 thế kỷ trước, phương pháp chăm sóc sức khỏe theo chiều dọc được sử dụng trong chương trình thanh toán sốt rét và đậu mùa bị chỉ trích dữ dội [137]. Phương pháp tiếp cận từ trên xuống bị gạt bỏ nhường đường cho việc hình thành nên một quan điểm mới về phát triển và chăm sóc y tế.
Khái niệm mới này gọi là - Phát triển con người hướng đến việc xây dựng sức khỏe con người thông qua việc cung cấp các dịch vụ y tế thiết yếu, cơ bản theo hướng từ dưới lên trên [114]. Với công thức mới này, các nhà quản lý y tế công cộng đề xuất khái niệm CSSKBĐ, đòi hỏi sự cải tổ tình trạng kinh tế xã hội, phân bổ lại nguồn lực, tập trung phát triển hệ thống y tế và chú trọng đến các dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản. Xuất phát từ những thực tế và động lực kể trên, nhiều quốc gia công nghiệp hóa thời điểm đó ủng hộ cho việc xây dựng chương trình CSSKBĐ trên toàn thế giới [97]. Từ ngày 6 đến 12 tháng 9 năm 1978, hội nghị quốc tế về CSSKBĐ được tổ chức tại Alma-Alta với hơn 3000 đại biểu từ 134 quốc gia và 67 tổ chức phi chính phủ và đa quốc gia tham dự [137].
Tại hội nghị này, Tuyên Ngôn Alma-Alta ra đời trong đó tuyên bố sức khỏe là một quyền của con người và quy định trách nhiệm của quốc gia là phải duy trì sức khỏe và nâng cao sức khỏe tốt của cộng đồng dân cư trong quốc gia đó. Tuyên ngôn này cũng lập lại quan điểm: để đạt được sức khỏe không chỉ cần hành động trong lĩnh vực y tế mà còn cần phải có sự tham gia của chính phủ trong việc xây dựng chính sách quốc gia phát triển cơ sở hạ tầng dành cho CSSKBĐ [141]. Đó là, nội dung 1 (ND1) giáo dục sức khỏe, (ND2) cung cấp thực phẩm và dinh dưỡng thích hợp, (ND3) cung cấp nước sạch và thanh khiết môi luan an 5 trường, (ND4) chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em và kế hoạch hoá gia đình, (ND5) tiêm chủng mở rộng, (ND6) khống chế các bệnh dịch lưu hành ở địa phương, (ND7) chữa các bệnh, vết thương thông thường, (ND8) cung cấp thuốc thiết yếu [44], [56], [139]. Tuyên bố này là một bước ngoặt trong lịch sử y tế toàn cầu, tiền thân của Chiến lược toàn cầu vì sức khỏe cho tất cả mọi người vào năm 2000 được WHO cùng các đối tác theo đuổi trong suốt phần còn lại của thế kỷ 20 và Phát triển bền vững.
Nhờ đó mà đến nay thế giới đã đạt được những tiến bộ tuyệt vời về sức khỏe toàn cầu, với những thay đổi lớn đến mức tuổi thọ hiện nay tăng lên khoảng 10 năm so với năm 1978, nguy cơ tử vong trước 5 tuổi đã giảm khoảng hai phần ba [135]. Tuy nhiên sau nhiều năm, các hoạt động chính của tuyên ngôn Alma-Alta không còn phù hợp vì thế giới có nhiều thay đổi [141]. Các quốc gia đã rút kinh nghiệm để đổi mới thực hiện CSSKBĐ phù hợp hơn nhằm đạt các mục tiêu đề ra [54]. Đặc biệt là sự xuất hiện của các bệnh mới như (SARS), MERS Co–V, Vi rút Ebola, Dịch cúm A(H7N9), cúm A(H5N6), H1N1, H5N1 có tiềm năng gây dịch lớn, một số bệnh tuy có vắc xin nhưng do yếu kém trong truyền thông và an toàn tiêm chủng nên vẫn để xảy ra dịch bệnh [75].
Các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh không lây nhiễm ngày càng phổ biến đặc biệt là nhưng thói quen thiếu khoa học (chế độ ăn không hợp lý, hút thuốc lá, uống rượu bia, thiếu vận động thể lực…) làm cho bệnh không lây nhiễm trở thành một gánh nặng y tế không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở cả các nước đang phát triển. Nguy cơ và tai nạn thương tích cũng gia tăng mạnh như tai nạn lao động, giao thông, hỏa hoạn, đuối nước… Bạo lực gia đình, xung đột vũ trang hiện nay cũng là một trong những nguyên nhân làm cho gánh nặng bệnh tật toàn cầu thêm trầm trọng [96]. Khoa học kỹ thuật phát triển trong đó có sự phát triển vượt bậc của nền y học thế giới, làm cho sức khỏe và tuổi thọ trung bình của dân số toàn cầu ngày càng gia tăng, đồng nghĩa với sự già hóa dân số cũng diễn ra mạnh mẽ tại các quốc gia phát triển và đang phát triển. Khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm người trong cùng một quốc gia cũng ngày càng nới rộng, sự phân bố bệnh tật không luan an 6 đồng đều, tập trung chủ yếu ở các nhóm dễ tổn thương trong xã hội như người nghèo, người già, trẻ em và phụ nữ có thai [135].
Thế giới đang trải qua sự phát triển nhanh chóng về kinh tế, công nghệ, môi trường và nhân khẩu học thay đổi, tất cả đều ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống. Những tác động này không phải lúc nào cũng có lợi, xu hướng đặt ra những thách thức đáng kể. Tăng trưởng kinh tế liên quan trực tiếp đến sức khỏe, đời sống được cải thiện, tuy nhiên lại không đồng đều trên thế giới; đặc biệt châu Phi cận Sahara đã bị tụt lại phía sau trong những thập kỷ gần đây. Bất bình đẳng trong nước đã gia tăng ở nhiều quốc gia và một loạt cú sốc kinh tế và khủng hoảng đã xảy ra ở cả cấp độ toàn cầu và khu vực, tác động tiêu cực đến sức khỏe và đời sống.
Hơn nữa, một số quốc gia đã bị ảnh hưởng bởi xung đột, chiến tranh, hòa bình, ổn định có ý nghĩa quan trọng đối với tình trạng sức khỏe của cả quần thể. Ước tính 68,5 triệu người đã bị buộc phải di dời khỏi nhà của họ, mức cao nhất được ghi nhận [135]. Hàng trăm triệu người đã di cư đến thành thị kết quả là hơn 55% dân số thế giới hiện đang sống ở các thành phố [118], ảnh hưởng của điều này đối với sức khỏe và đời sống có thể là tích cực hoặc tiêu cực. Biến đổi khí hậu dẫn đến sự gia tăng đáng kể số người sống trong tình trạng cực kỳ nghèo khổ [103], được coi là mối đe dọa sức khỏe toàn cầu lớn nhất của thế kỷ 21 [91].
CSSKBĐ cho phép xã hội và các hệ thống y tế đáp ứng với những thách thức này. Một loạt các bên liên quan đã rút kinh nghiệm ở cấp quốc gia hoặc địa phương để kiểm tra và đưa ra các chính sách giải quyết các vấn đề xã hội, kinh tế, môi trường, sức khỏe. Đối xử với mọi người và cộng đồng như những tác nhân chính trong việc bảo đảm sức khỏe, đời sống của chính họ là rất quan trọng để hiểu và đáp ứng với bối cảnh của những thay đổi phức tạp. Tiến bộ đáng kể đã được thể hiện trong việc cải thiện sức khỏe và đời sống hơn 40 năm kể từ sau tuyên bố Alma-ata, với sự giảm đáng kể các trường hợp tử vong ở bà mẹ, trẻ sơ sinh và trẻ em, tử vong từ các nguyên nhân như HIV/AIDS, sốt rét, bệnh lao và các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin.
CSSKBĐ đã đóng góp cho những tiến bộ này, hiện nay có rất nhiều bằng chứng về hiệu quả của CSSKBĐ, đặc biệt liên quan đến một số nguyên nhân hàng đầu gây bệnh và tỷ lệ tử vong [116], [108]. luan an 7 CSSKBĐ cũng đã được chứng minh là làm giảm tổng chi phí chăm sóc sức khỏe và tăng hiệu quả bằng cách cải thiện quyền tiếp cận với các dịch vụ phòng ngừa, tư vấn, chẩn đoán sớm, điều trị vô điều kiện và chăm sóc theo nhu cầu của mọi người, giảm bớt tình trạng quá tải cho các bệnh viện [124],[133], [125], [100].