phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu, các phụ lục, luận văn có 02 chƣơng sau đây: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn nghiên cứu. Chƣơng 2: Thực trạng công tác chăm sóc sức khỏe Ngƣời cao tuổi tại địa bàn nghiên cứu; công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ chăm sóc sức khỏe Ngƣời cao tuổi tại phƣờng Hà Tu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. NỘ DUN N ÊN ỨU ƢƠN 1. ác khái niệm công cụ Khái niệm ngƣời cao tuổi và một số đặc điểm về tâm, sinh l ngƣời cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về Ngƣời cao tuổi.
Trƣớc đây, ngƣời ta thƣờng dùng thuật ngữ “ngƣời già” để chỉ những ngƣời có tuổi. Hiện nay, thuật ngữ “Ngƣời cao tuổi ” đƣợc dùng nhiều hơn. Hai thuật ngữ này, tuy không khác nhau về mặt khoa học song về tâm l Ngƣời cao tuổi là thuật ngữ mang tính tích cực và thể hiện thái độ tôn trọng. Theo quan điểm y học: Ngƣời cao tuổi là ngƣời ở giai đoạn già hóa, gắn liền với việc suy giảm các chức năng của cơ thể.
Luật Ngƣời cao tuổi Việt Nam số 39/2009/QH12 ngày 23/9/2009, điều 2 Quy định: Ngƣời cao tuổi là tất cả công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Theo tổ chức Y tế Thế giới - WHO thì Ngƣời cao tuổi là những ngƣời từ 70 tuổi trở lên. Ở một số nƣớc phát triển nhƣ Đức, Hoa Kì,… lại quy định Ngƣời cao tuổi là những ngƣời từ đủ 65 tuổi trở lên. Quy định ở mỗi nƣớc có sự khác biệt là do sự khác nhau về lứa tuổi có các biểu hiện về già ở nƣớc đó khác nhau.
Những nƣớc có hệ thống y tế, chăm sóc sức khỏe tốt thì tuổi thọ và sức khỏe của ngƣời dân đƣợc nâng cao. Do các biểu hiện của tuổi già thƣờng đến muộn hơn, vì vậy quy định về tuổi đối với Ngƣời cao tuổi ở các nƣớc là khác nhau. Với đặc thù là một nghề trợ giúp xã hội, công tác xã hội nhìn nhận Ngƣời cao tuổi nhƣ sau: Ngƣời cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh l , lao động - thu nhập, quan hệ xã hội nên sẽ gặp nhiều khó khăn, vấn đề trong cuộc sống. Do đó, Ngƣời cao tuổi là đối tƣợng yếu thế, đối tƣợng cần sự trợ giúp của công tác xã hội [18, tr.
Nhƣ vậy có nhiều quan điểm khác nhau về độ tuổi ngƣời cao tuổi, trong khuôn khổ luận văn tôi sử dụng khái niệm ngƣời cao tuổi theo Luật ngƣời cao tuổi của Việt Nam, “ngƣời cao tuổi là những ngƣời từ 60 tuổi trở lên”. 17 z * Đặc điểm sinh l Lão hóa là quá trình tất yếu của cơ thể sống, lão hóa có thể đến sớm hay muộn tùy thuộc vào cơ thể từng ngƣời. Khi tuổi cao các đáp ứng kém nhanh nhạy, khả năng tự điều chỉnh và thích nghi cũng giảm dần, tất nhiên sức khỏe về thể chất và tinh thần giảm sút. Về thể xác trong giai đoạn này cơ thể bắt đầu có những thay đổi theo chiều hƣớng đi xuống.
Diện mạo thay đổi: tóc bạc, da mồi, có thêm nhiều nếp nhăn. Các mạch máu nhỏ vỡ ra tạo thành các chất xanh đen nhỏ dƣới da. Bộ răng yếu làm cho ngƣời cao tuổi ngại dùng những thức ăn khô, cứng, dai dù thức ăn có giàu đạm, vitamin và khoáng chất. Ngƣời cao tuổi thƣờng chọn thức ăn mềm.
Các cơ quan cảm giác, thính giác, vị giác, khứu giác cùng với tuổi càng cao thì hoạt động cũng càng kém hiệu quả. Các cơ quan nội tạng nhƣ tim, phổi và các cơ quan khác đều giảm sút. Tim phụ thuộc vào hoạt động của hệ tuần hoàn, tim giảm sút liên quan đến quá trình lão hóa. Phổi ngƣời già hoạt động kém, việc đƣa ô xy vào cũng giảm đi, do vậy ngƣời già hay bị cảm lạnh, nhiệt độ có thể hạ thấp ảnh hƣởng nghiêm trọng đến sức khỏe của họ.
Khả năng tình dục giảm, do sự thay đổi của nội tiết tố, khả năng tình dục giảm. Hơn nữa xƣơng khớp của ngƣời già không còn linh hoạt, mềm dẻo, các cơ yếu dần, mọi hoạt động đều chậm chạp, vụng về. Ngƣời già hay bị mệt mỏi, mọi hành vi cử chỉ yêu đƣơng gặp khó khăn. Vì những đặc điểm sinh l trên mà ngƣời cao tuổi thƣờng có những bệnh về tim mạch, huyết áp (cao huyết áp, nhồi máu cơ tim, loạn nhịp tim…); các bệnh về xƣơng khớp (thoái hóa khớp, loãng xƣơng, bệnh gút…); các bệnh về hô hấp (cảm sốt, viêm họng mũi, cúm, viêm phế quản, viêm phổi, ung thƣ phổi…); các bệnh răng miệng (khô miệng, sâu răng, bệnh nha chu…); các bệnh về tiêu hóa và dinh dƣỡng: rối loạn tiêu hóa và dinh dƣỡng; ngoài ra ngƣời cao tuổi còn hay mắc các bệnh về ung bƣớu, thần kinh và các bệnh về sức khỏe tâm thần…[6, tr 8-10] 18 z * Đặc điểm tâm l Trạng thái tâm l và sức khỏe ngƣời cao tuổi không chỉ phụ thuộc vào nội lực của bản thân mà còn phụ thuộc vào môi trƣờng xã hội, đặc biệt là môi trƣờng văn hóa - tình cảm và quan trọng nhất là môi trƣờng gia đình.
Khia bƣớc sang giai đoạn tuổi già, những thay đổi tâm l của mỗi ngƣời mỗi khác, nhƣng tập trung ở những đặc điểm nội bật nhƣ: hƣớng về quá khứ (thích hồi tƣởng lại chuyện xƣa, thích hội họp, ôn lại chuyện cũ, tái hiện kinh nghiệm sống cũng nhƣ hƣớng về cội nguồn…); chuyển từ trạng thái tích cực sang trạng thái tiêu cực (đó là bƣớc ngoặt lớn lao chuyển từ trạng thái lao động sang trạng thái nghỉ ngơi, dễ gặp phải hội chứng về hƣu). Những biểu hiện tâm l dễ nhận thấy nhất là: sự cô đơn và mong đƣợc quan tâm chăm sóc nhiều hơn từ phía gia đình con cháu, sợ ở nhà một mình, sợ bị lãng quên; cảm thấy bất lực và tủi thân (do sức khỏe giảm sút phụ thuộc nhiều vào con cháu, dễ nảy sinh tâm trạng chán nản, dễ tủi thân sợ con cháu coi thƣờng); nói nhiều hoặc trầm cảm (vì muốn truyền đạt kinh nghiệm sống cho con cháu, muốn con cháu theo khuôn phép thế hệ mình nên thƣờng bắt lỗi và nói nhiều; ngƣời cao tuổi có những hoài bão tuổi trẻ chƣa hoàn thành đƣợc có thể xuất hiện triệu chứng bệnh trầm cảm: hay ghen tỵ, can thiệp sâu vào chuyện của con cháu); sợ phải đối mặt với cái chết (có cụ chuẩn bị tâm l và những việc cần thiết – viết di chúc nhƣng có cụ không chấp nhận, lảng tránh điều đó và sợ chết) [6, tr. Ngƣời cao tuổi với những thay đổi về tâm sinh l , là một trong những đối tƣợng yếu thế của xã hội do đó các NVXH cần đẩy mạnh các hoạt động công tác xã hội chuyên nghiệp để trợ giúp, hỗ trợ ngƣời cao tuổi và những ngƣời thân trong gia đình ngƣời cao tuổi nhƣ: tìm hiểu tâm tƣ, nguyện vọng; tƣ vấn, hỗ trợ tâm l cho ngƣời cao tuổi và gia đình; kết nối với các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể để cùng giải quyết vấn đề khó khăn của ngƣời cao tuổi; tạo môi trƣờng thuận lợi cho ngƣơi cao tuổi; tham vấn cho gia đình ngƣời cao tuổi nắm bắt đƣợc tâm sinh l ngƣời cao tuổi; chế độ dinh dƣỡng, sự quan tâm và cách ứng xử của con cháu với ngƣời cao tuổi. 19 z Khái niệm sức khỏe Theo Tổ chức Y tế thế giới - WHO thì “sức khỏe” có thể hiểu “là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ không chỉ không có bệnh hay thƣơng tật”.
Nhƣ vậy, sức khỏe là tổng hợp về tình trạng của cơ thể con ngƣời cả về thể chất lẫn tinh thần. Sức khỏe không chỉ phản ánh tính chất cá nhân mà còn mang tính chất xã hội nhƣ thế sức khỏe bao gồm ba mặt: sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần và sức khỏe xã hội. Sức khỏe thể chất: Là khả năng hoạt động cơ bắp, có sức nâng, kéo đẩy… làm công việc chân tay một cách thoải mái nhƣ mang vác, sử dụng công cụ, khả năng phản ứng của chân tay nhanh nhạy, có sự dẻo dai và khả năng chịu đƣợc những khắc nghiệt của môi trƣờng. Sức khỏe tinh thần: Là cảm thấy có đủ khả năng tự tin, có thể đối mặt với những tình trạng căng thẳng ở bình thƣờng, luôn giữ đƣợc các mối quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập và dễ hồi phục sau những tình huống khó khăn… Sức khỏe xã hội: Sự hòa nhập của cá nhân với cộng đồng đƣợc gọi là sức khỏe xã hội nhƣ C.
Mác đã nói “Con ngƣời là sự tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Sức khỏe xã hội thể hiện ở sự thoải mái trong các mối quan hệ giữa các thành viên: gia đình, nhà trƣờng, bạn bè, làng xóm, nơi công cộng, cơ quan. Nó thể hiện ở sự đƣợc chấp nhận và tán thành của xã hội. Càng hòa nhập với mọi ngƣời đƣợc mọi ngƣời đồng cảm, yêu mến càng có sức khỏe xã hội tốt và ngƣợc lại.
Cơ sở của sức khỏe xã hội là sự thăng bằng giữa hoạt động và quyền lợi cá nhân với hoạt động và quyền lợi của xã hội, của những ngƣời khác; sự hòa nhập giữa cá nhân, gia đình và xã hội. Ba yếu tố sức khỏe thể chất, tinh thần và xã hội liên quan chặt chẽ với nhau. Nó là sự cân bằng hài hòa của tất cả những khả năng sinh học, tâm l và xã hội của con ngƣời. Ngƣời cao tuổi thể hiện rõ nhất là sự lão hóa, suy yếu các cấu trúc chức năng của cơ thể, vì vậy ngƣời cao tuổi cần đƣợc quan tâm tới chăm sóc sức khỏe đặc biệt là sức khỏe thể chất.
20 z Chăm sóc sức khỏe là một trong những quyền cơ bản của con ngƣời, quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe nằm trong quyền đƣợc có mức sống thích đáng đƣợc nêu ở Điều 25 Tuyên ngôn nhân quyền Quốc tế: “Mọi ngƣời đều có quyền đƣợc hƣởng một mức sống thích đáng, đủ để đảm bảo sức khoẻ và phúc lợi của bản thân và gia đình, về các khía cạnh ăn, mặc, ở, chăm sóc y tế và các dịch vụ xã hội cần thiết, cũng nhƣ có quyền đƣợc bảo hiểm trong trƣờng hợp thất nghiệp, đau ốm, tàn phế, góa bụa, già nua hoặc thiếu phƣơng tiện sinh sống do những hoàn cảnh khách quan vƣợt quá khả năng đối phó của họ”[72, tr 22]. Chăm sóc sức khỏe là chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa bệnh tật, thƣơng tích và các khiếm khuyết về thể chất và tinh thần trong con ngƣời [71, tr 30].