chương 1. 42 Chương 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ. 43 XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU. Tổng quan địa bàn địa bàn nghiên cứu.
Khái quát lịch sử hình thành trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nhiệm vụ, quyền hạn. Cơ cấu tổ chức và bộ máy. Khái quát về người cao tuổi và quy trình dịch vụ công tác xã hội.
Đặc điểm nhân khẩu học - xã hội và sức khỏe. Quy trình chung về dịch vụ công tác xã hội. Thực trạng cung cấp dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Dịch vụ vui chơi, giải trí. Dịch vụ tư vấn, tham vấn. Dịch vụ kết nối nguồn lực. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Yếu tố về năng lực nhân viên cung cấp dịch vụ công tác xã hội. Yếu tố về cơ chế chính sách. Yếu tố năng lực của cơ sở cung cấp dịch vụ. Yếu tố đặc điểm của người cao tuổi.
96 Tiểu kết chương 2. 100 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU. Phân tích một số giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã hội cho người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Một số giải pháp nâng cao năng lực cung cấp dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Hoàn thiện khung pháp lý liên quan đến người cao tuổi. Đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và đa dạng hóa các loại hình dịch vụ công tác xã hội. Nâng cao năng lực cho đội ngũ nhân viên cung cấp dịch vụ công tác xã hội với người khuyết tật. Đẩy mạnh công tác truyền thông về hoạt động cung cấp dịch vụ công tác xã hội của Trung tâm.
Thúc đẩy xã hội hóa và kết nối nguồn lực để thực hiện các mô hình cung cấp dịch vụ công tác xã hội. Đối với Nhà nước. Đối với Sở Lao động- Thương binh và xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đối với gia đình, người chăm sóc, cộng đồng.
Đối với Trung tâm bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. 116 Tiểu kết chương 3. 118 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 125 viii DANH MỤC BẢNG Bảng 2.
Nghề nghiệp, sức khỏe, thời gian sống tại trung tâm BTXH tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu của NCT tham gia khảo sát. Nhận định của NCT về quy trình cung cấp dịch vụ CTXH. Dịch vụ chăm sóc sức khỏe đối với NCT. Tương quan theo giới tính và nhận định của NCT về dịch vụ chăm sóc sức khỏe.
Dịch vụ vui chơi, giải trí đối với NCT. Nhận định của NCT về dịch vụ vui chơi, giải trí phân theo thời gian sống tại trung tâm. Dịch vụ tư vấn, tham vấn đối với NCT. Dịch vụ kết nối nguồn lực hỗ trợ NCT.
Yếu tố năng lực nhân viên ảnh hưởng đến DVCTXH. Yếu tố cơ chế chính sách ảnh hưởng đến DVCTXH. Yếu tố năng lực nhân viên ảnh hưởng đến DVCTXH. Yếu tố đặc điểm của NCT ảnh hưởng đến DVCTXH.
Thực trạng chung về các giải pháp nâng cao hiệu quả dịch vụ CTXH đối với NCT. 103 ix DANH MỤC HÌNH Hình 2. Độ tuổi, giới tính, học vấn của NCT tham gia khảo sát. Nhu cầu sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của NCT.
Đánh giá chung của NCT về dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Mức độ hài lòng của NCT về dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Nhu cầu của NCT về dịch vụ vui chơi, giải trí. Mức độ hài lòng và đánh giá của NCT về dịch vụ vui chơi, giải trí.
Nhu cầu của NCT về dịch vụ tư vấn, tham vấn. Mức độ hài lòng và đánh giá của NCT về dịch vụ tư vấn, tham vấn. Nhu cầu của NCT về dịch vụ kết nối nguồn lực. Mức độ hài lòng và đánh giá của NCT về dịch vụ kết nối nguồn lực.
Lý do chọn đề tài Già hóa dân số đang là một xu thế mang tính toàn cầu do giảm tỷ lệ sinh, tăng tuổi thọ bình quân và trở thành một vấn đề xã hội có tác động rất lớn tới tiến trình phát triển chung của các nước. Việt Nam được đánh giá là một trong quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất trên thế giới. Do đó Đảng và Nhà nước cũng luôn xác định việc chăm sóc, hỗ trợ nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người cao tuổi (NCT) vừa là đạo lý, vừa là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và xã hội. Thực tế, quá trình thay đổi về kinh tế, xã hội ở nước ta đã đặt ra những yêu cầu, thách thức mới cho công tác chăm sóc NCT như: Mô hình gia đình có xu hướng chuyển từ hình thái mở rộng sang hạt nhân, tỷ lệ NCT sống một mình hoặc trong các gia đình chỉ có NCT ngày một nhiều.
Trước thực tế đó, việc đổi mới công tác chăm sóc NCT, trong đó có yêu cầu về dịch vụ CTXH dành cho NCT tại Trung tâm Bảo trợ Xã hội (BTXH) cũng đang là một trong những vấn đề cấp thiết. Trong những năm gần đây, công tác chăm sóc NCT nói chung và cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT nói riêng bước đầu đã có một số chuyển biến tích cực. Theo Báo cáo công tác BTXH năm 2016 do Cục BTXH, Bộ Lao động - Thương binh và xã hội công bố, đến cuối năm 2016, cả nước đã có 144 Trung tâm BTXH hoặc trung tâm CTXH có cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT, trong đó có 112 Trung tâm tổng hợp và 32 Trung Tâm chuyên biệt với 4.723 NCT đang được cung cấp các dịch vụ chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên hoạt động cung cấp dịch vụ CTXH cho NCT cũng còn nhiều hạn chế, bất cập, đặc biệt, việc đảm bảo chất lượng cuộc sống của NCT tại các trung tâm BTXH mới chỉ dừng lại ở những nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở và sinh hoạt 2 tinh thần.
Việc cung cấp các dịch vụ theo nhu cầu, nguyện vọng của NCT trong Trung tâm BTXH đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống của NCT, đồng thời là phương pháp hoạt động phù hợp, góp phần tạo nên hiệu quả của CTXH, nâng cao chất lượng dịch vụ CTXH, góp phần đổi mới tổ chức hoạt động CTXH, hướng tới phát triển dịch vụ đối với NCT theo định hướng chuyên nghiệp hơn, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi Nhà nước đang có những chính sách đẩy mạnh xã hội hóa công tác trợ giúp các đối tượng BTXH; mở rộng các loại hình dịch vụ trợ giúp xã hội, nhất là loại hình dịch vụ chăm sóc tự nguyện, có đóng góp kinh phí. Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có dân số tương đối lớn so với các tỉnh trong cả nước. Dân số của tỉnh năm 2019 là 1,19 triệu người, trong đó NCT chiếm 9,3% [Ban Công tác NCT tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, 2021]. Trong những năm gần đây, đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có nhiều cố gắng quan tâm, chăm lo mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần đối với NCT nhằm đưa ra các giải pháp làm rõ các vấn đề, nhu cầu của NCT và các yếu tố ảnh hưởng đến DVCTXH đối với NCT, cũng như đánh giá chất lượng dịch vụ CTXH trong hỗ trợ NCT.
Hiện nay toàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có 03 cơ sở BTXH công lập thực hiện chức năng, nhiệm vụ tiếp nhận, quản lý, chăm sóc và nuôi dưỡng đối tượng yếu thế là NCT neo đơn, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nương tựa và người lang thang tập trung chờ đưa về nơi cư trú. Trong đó, Trung tâm BTXH tỉnh BR- VT là một trong những đơn vị điển hình thực hiện tốt vai trò, chức năng cung cấp dịch vụ chăm sóc cho nhóm yếu thế, đặc biệt là NCT cô đơn, không nơi nương tựa. Vì vậy, tác giả đã chọn nội dung nghiên cứu về: “Dịch vụ CTXH đối với NCT tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Bà Rịa -Vũng Tàu” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp thạc sĩ của mình. Tổng quan nghiên cứu về dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 2.
Trên thế giới Nghiên cứu của một số tác giả: MI.Temon (1815) đã làm ra “Quà tặng các cụ già, bàn về biện pháp để kéo dài cuộc sống”. “Bàn về tuổi thọ loài người và về lượng sống trên thế giới" của P. “Tuổi già xanh tươi" của Alexando (1919). Những nghiên cứu này đã làm rõ thực trạng sống của NCT cũng như tình trạng sức khỏe của họ, từ đó đưa ra những biện pháp chăm sóc sức khỏe cho NCT để kéo dài tuổi thọ cũng như giúp NCT có được cuộc sống thoải mái hơn.
Đây chính là gợi mở quan trọng cho các nghiên cứu tiếp theo về các khía cạnh hỗ trợ khác nhất là các DVCTXH đối với NCT. Nghiên cứu của Masoud Pezeshkian (2002), được thực hiện tại Iran đã chỉ ra rằng có hơn 4 triệu người từ 60 tuổi trở lên trong đó có 57% đang sống trong khu vực thành thị. Phụ nữ với tỷ lệ có học vấn thấp hơn và có sự phụ thuộc cao hơn về tài chính hiện chiếm một nửa trong tổng số NCT. Do đó, cần phải có những chính sách hỗ trợ NCT gặp khó khăn để họ hòa nhập tốt hơn vào xã hội.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng hướng đến mục tiêu bảo vệ xã hội là nhằm cung cấp sự tiếp cận về các dịch vụ y tế và an sinh xã hội cũng như sự ổn định về tinh thần và tình cảm và an sinh là quan trọng, đặc biệt là phụ nữ. Chính vì vậy, cần phát triển hệ thống chính sách, chương trình và dịch vụ không những trong chăm sóc sức khỏe ban đầu mà hướng đến chăm sóc toàn diện cho NCT.