Chương 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE DON PHƯƠNG CHAM DUT HOP DONG LAO DONG VA QUY DINH PHAP LUAT VIET NAM VE DON PHUONG CHAM DUT HOP DONG LAO DONG 1. Khai quát chung về đơn phương cham dứt hợp đồng lao động 1. Khái niệm về đơn phương chấm ditt hợp đồng lao động * Khái niệm về đơn phương chấm dứt hợp đồng Theo từ dién tiếng việt (2003) “đơn phương” là “có tính chất của một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên kia ”. Còn theo Báo cáo tong kết công tác ngành Toa án năm 1999 thì đơn phương chấm dứt hợp đồng là việc “một bên chủ động quyết định chấm dứt việc thực hiện các quyên và nghĩa vụ trong quan hệ lao động mà không phụ thuộc vào ý chí bên kia ` [42, tr.
Theo từ điển Tiếng Việt (2003), “Cham dit” được hiểu là làm cho ngừng hăn, kết thúc [45, tr. Có nghĩa là một sự việc phát sinh và đang diễn ra khi chấm dứt là làm cho sự việc đó ngừng lại, không thê tiếp tục thực hiện. Theo từ điển giải thích luật học năm 1990, cham dứt HDLD được hiểu là: “chấm dứt hợp đông lao động là sự kiện pháp lý mà một hoặc cả hai bên không tiếp tục thực hiện hop dong lao động, cham ditt quyên và nghĩa vụ của hai bên đã thỏa thuận trong hợp dong” [46, tr. Bên cạnh đó theo số tay thuật ngữ pháp lý thông dụng (2001) của Nguyễn Duy Lam thi cham dứt HDLD được định nghĩa như sau: “Cham đứt hợp dong lao động là việc người sử dụng lao động và người lao động không tiếp tục tham gia quan hệ lao động ” [20].
Hợp đồng lao động là tự nguyện, là thỏa thuận của NLD và NSDLD mà trong đó có gan nghĩa vụ và quyền lợi của các bên dé đi đến sự thống nhất ý chí của các bên về nội dung của hợp đồng mà các bên muốn đạt được. Mặt khác trong nội dung của hợp đồng lao động cũng có quy định về thời hạn của hợp đồng, do đó tùy thuộc vào thời hạn hợp đồng lao động đã ký kết mà các bên trong hợp đồng lao động có thể kết thúc “giao kèo” cho việc làm có trả công đến khi hoàn thành hợp đồng đúng thời hạn. Tuy nhiên trong mối quan hệ lao động thì sự thỏa thuận về nội dung hay thời hạn không phải luôn luôn đúng và đáp ứng được sự thỏa thuận ban đầu của các bên trong HDLD. Do đó HĐLĐ có thể bị chấm dứt bất cứ lúc nào khi một trong các bên không thỏa mãn.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc HDLD bị “dé vỡ” giữa chừng do phát sinh một trong các bên không đạt được ý chí của họ hay nói cách khác hành vi trên chính là “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”. Sự việc đó luôn luôn xảy ra trong mối quan hệ lao động và hiện nay việc đơn phương cham dứt hợp đồng lao động ngày càng phổ biến, thậm chi là tăng về SỐ lượng và độ phức tạp về mức độ đề đạt được thỏa thuận quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong HĐLĐ. Đơn phương được hiểu là ý chí, hành vi pháp lý của một bên trong quan hệ pháp luật lao động tự mình phá bỏ sự thỏa thuận, cam kết trong HDLD mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại dẫn đến HĐLĐ cham dứt trước thời hạn. Hành vi pháp ly đơn phương được xem là phá vỡ một quan hệ pháp luật đã ghi nhận, do đó để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên trong quan hệ lao động, tính công băng của pháp luật đảm bảo trật tự, an toàn cho xã hội nên nha nước đặt ra các quy định pháp luật dé điều chỉnh các hành vi trên.
Việc đơn phương cham dứt hợp đồng lao động chỉ có thé thực hiện trong giới hạn mà pháp luật quy định có nghĩa là don phương chấm dứt HĐLĐ phải dựa vào những căn cứ hợp pháp mà pháp luật lao động quy định, bên đơn phương phải thực hiện những nghĩa vụ nhất định trong pháp luật quy định, đó được gọi là hành vi đơn phương cham dứt hợp đồng lao động đúng pháp luật. Tuy vậy trong thực tế thực hiện vì rất nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan mà một trong các bên không tuân thủ quy định của pháp luật về căn cứ thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động gây thất thiệt đến bên còn lại, hành vi này được gọi là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Việc NLD hay NSDLD đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định pháp luật hay trái với quy định pháp luật thì đó cũng là nguyện vọng, là ý chí của họ. Chăng hạn như NLD tìm một công việc phù hợp hon, lương cao hơn, môi trường làm việc tốt hơn hay NSDLĐ có cơ hội tìm kiếm người có trình độ, chuyên môn phù hợp hơn cho sự phát triển doanh nghiệp.
Điều đó cũng đúng với quy luật của phát triển xã hội là chọn lọc, cạnh tranh và phát triển. ví dụ: NSDLD có quyền đơn phương cham dứt HDLD với NLD khi NLD không tuân thủ nội quy, quy định làm việc của doanh nghiệp, NLD nghỉ việc không lý do làm ảnh hưởng đến sản xuất, kinh doanh, NLD vi phạm pháp luật hay NLD có chuyên môn kém không chịu học tập nâng cao tay nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của doanh nghiệp. Bên cạnh đó NLĐ cũng có quyền đơn phương cham dứt HDLD khi NSDLD không tuân thủ quy định về an toàn lao động, không thanh toán tiền lương, tiền thưởng theo đúng hạn trong HĐLĐ hay người lao động bị xúc phạm danh dự, quấy rối tình dục nơi công sở, bị ngược đãi. theo đúng quy định của pháp luật về lao động.
Vậy “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là một trường hợp cham dứt hiệu lực pháp lý của HĐLĐ trước thời hạn ghi trong HĐLĐ theo quy định của pháp luật bởi hành vi pháp lý đơn phương của một bên chủ thể trong quan hệ HĐLĐ mà không phụ thuộc vào ý chí của bên còn lại cua hop đồng”. Điều đó được hiểu là một trong các bên của HĐLĐ có quyền thực hiện ý chí và nguyện vọng của mình để chấm dứt quyền và nghĩa vụ trong HDLD đang còn hiệu lực mà không phụ thuộc vào ý chí và nguyện vọng của bên kia dé thỏa mãn ý chí và nguyện vọng của mình, nhưng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật. 10 * Nội dung lý luận về đơn phương cham dứt HĐLĐ - Quyền đơn phương cham dứt hợp đồng lao động của người lao động được quy định tại Điều 35, BLLĐ năm 2019 như sau: Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động như sau: Ít nhất 45 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; Ít nhất 30 ngày nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 thang; Đối với một số nganh, nghé, công việc đặc thu thi thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của chính phủ. Người lao động có quyền đơn phương cham dứt hợp đồng lao động không cần báo trước trong trường hợp sau đây: Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc theo thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này: Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của Bộ luật này; BỊ người sử dụng lao động ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động; Bị quấy rồi tình dục tại nơi làm việc; Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này; Đủ tudi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; 11 Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
- Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động tại Điều 36, BLLĐ năm 2019 quy định: Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây: Người lao động thường xuyên không hoan thành công việc theo hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành nhưng phải tham khảo ý kiến tổ chức đại điện người lao động tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại điện người lao động tai cơ Sở; Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 thang mà kha năng lao động chưa hồi phục. Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét dé tiếp tục giao kết hợp đồng lao động với người lao động: Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thâm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc; 12 Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật nay; Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác; Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên; Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.