CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. KHÁI QUÁT VỀ ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm nguồn nhân lực Tuỳ theo từng mục tiêu lĩnh vực cụ thể và cách tiếp cận nghiên cứu, các khái niệm về nguồn nhân lực được nhận thức theo nhiều hướng khác nhau; sau đây là một số quan niệm về nguồn nhân lực: - Trong báo cáo của Liên hợp quốc (UN) đánh giá về những tác động của toàn cầu hoá đối với nguồn nhân lực đã định nghĩa nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực thực tế cùng với những năng lực tồn tại dưới dạng tiềm năng của con người. Quan niệm về nguồn nhân lực theo hướng tiếp cận này có phần thiên về chất lượng của nguồn nhân lực.
[05] - Ngân hàng Thế giới (WB) cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp…của mỗi cá nhân. Như vậy, nguồn lực con người được coi là nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như vốn tiền tệ, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên. [06] - Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO): Nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động. [06] Từ các lý luận trên, ta thấy quan niệm chung về nguồn nhân lực được đề cập đến là tổng hợp các cá nhân, những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể chất và tinh thần được huy động và tham gia quá trình lao động.
Trong nội dung nghiên cứu đề tài này thì khái niệm nguồn nhân lực được hiểu là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người 9 nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. [13] Nguồn nhân lực trong tổ chức một mặt là động lực thúc đẩy sự phát triển cả tổ chức; mặt khác nguồn nhân lực cũng là mục tiêu của chính sự phát triển của tổ chức đó. Vì vậy, giữa tổ chức và người lao động trong tổ chức luôn phải tạo mối quan hệ hỗ trợ chặt chẽ để cùng nhau phát triển. Khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực Đào tạo là một loại hoạt động có tổ chức, được thực hiện trong một thời gian nhất định và nhằm đem đến sự thay đổi nhân cách và nâng cao năng lực của con người đó là một quá trình học tập để chuẩn bị con người cho tương lai, để họ có thể chuyển tới công việc mới trong thời gian thích hợp dựa trên những định hướng tương lai của tổ chức.
Từ đó ta thấy: Đào tạo là hoạt động là cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho người lao động có thể thực hiện các chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong công tác của họ. [13] Đào tạo còn được định nghĩa là bất cứ nỗ lực nào để cải thiện kết quả của nhân viên, dựa trên công việc hiện nay họ đang nắm giữ, hoặc công việc nào có liên quan. Điều này thường có nghĩa là những thay đổi về mặt kiến thức, những kỹ năng, quan điểm hoặc một thái độ cụ thể.
[08, 63] Với góc độ nghiên cứu tại doanh nghiệp thì khái niệm về đào tạo nguồn nhân lực có thể hiểu là: Đào tạo nguồn nhân lực là tiến trình với nỗ lực cung cấp những thông tin, kỹ năng và sự thấu hiểu về tổ chức cũng như mục tiêu. Thêm vào đó đào tạo được thiết kế để giúp đỡ, hỗ trợ nhân viên tiếp tục có những đóng góp tích cực cho tổ chức. [14, 193] Đào tạo nguồn nhân lực trong đoạn hiện nay là rất cần thiết cho sự thành công của một tổ chức và sự phát triển của mỗi cá nhân. Mục đích của đào tạo nguồn nhân lực [4], [11], [12], [14] Đào tạo nguồn nhân lực nhằm giúp người lao động cập nhật các kỹ năng, kiến thức mới để thực hiện tốt hơn các yêu cầu cụ thể và chuyên sâu về công việc.
Kết quả của đào tạo nguồn nhân lực sẽ nâng cao chất lượng, phát triển nguồn nhân lực đó. Mục đích của đào tạo nguồn nhân lực là sử dụng và khai thác hiệu quả nguồn lực con người hiện có của tổ chức và nâng cao tính hiệu quả của tổ chức bằng cách hỗ trợ cho người lao động hiểu rõ về công việc, các tiêu chuẩn công việc, mục tiêu của tổ chức, nắm vững hơn về nghiệp vụ và thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình mang lại hiệu quả ngày càng cao hơn. Bên cạnh đó nó sẽ là động lực thỏa mãn các nhu cầu phát triển của nhân viên, kích thích nhân viên thực hiện công việc tốt hơn, tạo ra nhiều cơ hội thăng tiến; chuẩn bị được đội ngũ kế cận trong chuyên môn và quản lý. Vai trò của đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp [11], [12], [14] Về mặt xã hội: đào tạo nguồn nhân lực là vấn đề sống còn của một đất nước, nó quyết định sự phát triển của xã hội, là một trong những giải pháp để chống lại thất nghiệp.
Đầu tư cho đào tạo và giáo dục là những khoản đầu tư chiến lược chủ chốt cho sự phồn vinh của đất nước. Về phía doanh nghiệp: đào tạo nguồn nhân lực là để đáp ứng được yêu cầu công việc của tổ chức, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đào tạo nguồn nhân lực làm tăng năng suất lao động, chất lượng thực hiện công việc, giúp doanh nghiệp giảm bớt được chi phí. Do vậy, đào tạo nguồn nhân lực là một hoạt động sinh lợi đáng kể và cần thiết đối với doanh nghiệp.
Về phía người lao động: đào tạo đáp ứng được nhu cầu học tập của người lao động là một trong những yếu tố tạo nên động cơ lao động tốt, giúp người lao động có sự thay đổi và tư duy mới trong công việc; chủ động trong 11 công tác và thực hiện công việc một cách chuyên nghiệp. Đào tạo nguồn nhân lực giữ vai trò quan trọng trong sự thành công và phát triển của doanh nghiệp vì đào tạo nguồn nhân lực sẽ đảm bảo cho nguồn nhân lực của doanh nghiệp có thể thích ứng theo sự phát triển của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Đào tạo nguồn nhân lực cải thiện được mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, xoá được sự thiếu hiểu biết, sự tranh chấp, ngăn chặn sự căng thẳng mâu thuẫn tạo ra bầu không khí đoàn kết thân ái cùng phấn đấu để đạt được hiệu quả cao hơn và khả năng công tác tốt hơn. Mặt khác, đào tạo còn đóng vai trò như một công cụ chiến lược để đạt tới những mục tiêu của tổ chức và của các nhân viên.
Nguyên tắc của đào tạo nguồn nhân lực [14, 195] Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực dựa trên 4 nguyên tắc sau: Thứ nhất, Con người hoàn toàn có khả năng phát triển. Mọi người trong một tổ chức đều có khả năng phát triển và sẽ cố gắng để thường xuyên phát triển giữ vững được sự tăng trưởng của doanh nghiệp. Thứ hai, Mỗi người đều có giá trị riêng, vì vậy mỗi người là một con người cụ thể khác với người khác và có khả năng đóng góp những sáng kiến. Thứ ba, Lợi ích của người lao động và những mục tiêu của tổ chức có thể kết hợp với nhau.
Sự phát triển của một tổ chức phụ thuộc vào nguồn lực của tổ chức đó. Khi nhu cầu của người lao động được thừa nhận và đảm bảo thì họ sẽ phấn khởi trong công việc. Thứ tư, Đào tạo nguồn nhân lực là một nguồn đầu tư sinh lợi đáng kể, vì đào tạo nguồn nhân lực là một trong những phương tiện để đạt được sự phát triển của tổ chức có hiệu quả nhất. NỘI DUNG CỦA ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC Giai đoạn đánh Giai đoạn thiết kế Giai đoạn đánh giá nhu cầu đào và triển khai giá Xây dựng tiêu chuẩn để Phân tích tạonhu cầu đánh giá kết quả đào tạo -Phân tích tổ chức -Những phản ứng -Phân tích công việc -Việc học tập -Thay đổi hành vi -Phân tích con người -Những kết quả đạt được Mục tiêu đào tạo Đối tượng đào tạo Lựa chọn cách đánh giá Xây dựng nội dung Lựa chọn phương pháp đào tạo Thiết kế môi trường học tập để đào tạo Triển khai đào tạo Đánh giá hiệu quả của chương trình đào tạo Hình 1.
Mô hình hệ thống đào tạo [08, 69] Mục tiêu của giai đoạn đánh giá nhu cầu đào tạo là thu thập thông tin để xác định xem việc đào tạo có cần thiết trong tổ chức hay không. Xác định rõ nơi nào trong tổ chức cần, loại đào tạo nào cần và nên giảng dạy kiến thức, kỹ năng hoặc đặc điểm nào. Thông tin được thu thập bằng cách hướng dẫn 03 cấp độ phân tích: cấp tổ chức, công việc, cá nhân. Mục tiêu trong giai đoạn triển khai việc đào tạo là rút ra các mục tiêu của chương trình đào tạo, thiết kế môi trường đào tạo cần thiết để đạt được mục tiêu.
Điều này có nghĩa là các nhà đào tạo phải chú ý đến các vấn đề học tập phù hợp theo đặc điểm của học viên người lớn và nguyên tắc học tập; đồng thời cũng phải chú ý triển khai những tài liệu và kỹ thuật đào tạo để sử 13 dụng cho chương trình. Sau khi thiết kế và lựa chọn môi trường đào tạo phù hợp thì tiến hành đào tạo. Mục tiêu của giai đoạn đánh giá là xem chương trình đào tạo có đạt được hiệu quả trong việc đáp ứng những mục tiêu, tiêu chuẩn đã nêu ra hay không. Giai đoạn đánh giá yêu cầu phải xem xét được: phản ứng của người tham dự vào việc đào tạo, ước tính xem họ đã học tập được gì trong chương trình đào tạo, đánh giá thái độ của họ sau khi đào tạo, cho thấy những kết quả của tổ chức.
Phải thực hiện việc chọn lựa cả những tiêu chuẩn trước khi tiến hành đào tạo, nhằm đảm bảo đánh giá việc đào tạo một cách đúng đắn. Đánh giá nhu cầu đào tạo [04, 378-382], [08, 72-78], [14, 199-202] Bước đầu tiên trong việc đào tạo là xác định nhu cầu đào tạo hiện hữu. Tổ chức sẽ chỉ nên sử dụng các nguồn lực cho một số hoạt động đào tạo nếu tổ chức đó mong đợi việc đào tạo đạt được một số mục tiêu của tổ chức quyết định tiến hành đào tạo phải dựa trên dữ liệu có giá trị nhất, được thu thập bằng cách tiến hành ước lượng nhu cầu.