HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ PHẠM NGỌC TÙNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH Ngành : Kinh tế phát triển Mã số : 9.05 Người hướng dẫn khoa học : 1. NGÔ THỊ THUẬN 2. NGUYỄN HỮU ĐẠT HÀ NỘI - 2019 PHẦN 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Sau 20 năm tái lập tỉnh (1997), Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu đáng kể.
Kinh tế phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) luôn duy trì ở mức hai con số, bình quân giai đoạn 1997-2016 đạt 15,1%/năm; tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2016 – 2018 đạt hơn 16%/năm. Sản xuất công nghiệp và TTCN tăng trưởng cao, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước 143 nghìn tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010 đạt gần 126 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: năm 2018 khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm hơn 76%; dịch vụ chiếm khoảng 17%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm gần 3,0% (Cục Thống kê Bắc Ninh, 2019). Những thành tựu trên có sự đóng góp không nhỏ của ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong các làng nghề.
Cho đến nay, Bắc Ninh có 73 làng nghề TTCN trong đó có 58 làng nghề truyền thống (Chi cục PTNT Bắc Ninh, 2017). Các ngành nghề TTCN truyền thống lâu đời như: Gốm Phù Lãng, gỗ Đồng Kỵ, giấy Yên Phong, tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái… đã thu hút số lao động làm việc gần 72 nghìn lao động thường xuyên và hơn mười nghìn lao động thời vụ. Hàng năm cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, với kim ngạch xuất khẩu từ 1. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng kể, hoạt động sản xuất kinh doanh TTCN còn có hạn chế, đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi có những định hướng và giải pháp trung và dài hạn là: (i) năng lực cạnh tranh của các sản phẩm TTCN kém hơn so với nhiều loại hàng hóa của các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản….là những nước có trình độ công nghệ cao, kiểu dáng mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt, giá thành hạ; (ii) đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, phân tán, quy trình thủ công đơn giản và lạc hậu; (iii) chất lượng sản phẩm không đồng đều, đặc biệt khi sản xuất hàng hoá quy mô lớn; (vi) giá trị hàng hoá thấp, sức tiêu thụ khó khăn tại nhiều thị trường; (v) tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các địa bàn sản xuất; (vi) sự phát triển của một số ngành TTCN chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế xã hội hiện có; (vii) một số ngành nghề TTCN phát triển theo phong trào, không ổn định và hiệu quả, một số ngành nghề có xu hướng mai một; (viii) dịch vụ sản xuất chưa đồng bộ; (ix) công tác xúc tiến thương mại nhằm mở rộng 1 thị trường còn nhiều bất cập dẫn đến một số sản phẩm TTCN đứng trước nguy cơ thất nghề như tranh Đồng Hồ… Để thúc đẩy sự phát triển ngành nghề TTCN của tỉnh theo hướng hội nhập thì chất lượng nguồn nhân lực (NNL) có vai trò quan trọng.
Trong sản xuất sản phẩm TTCN, muốn nâng cao kết quả hiệu quả kinh tế thì đầu tư vào khoa học công nghệ là chưa đủ mà cần phát triển NNL một cách toàn diện, tương xứng với các phương tiện đó, Vì vậy, con người là yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Với ý nghĩa đó, phát triển NNL là sự quan tâm không chỉ ở các ngành nghề sản xuất TTCN mà còn ở tất cả mọi quốc gia, mọi tổ chức và mọi ngành nghề. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, chất lượng NNL các ngành nghề TTCN còn nhiều hạn chế. Số lao động đã qua đào tạo bình quân tại các làng nghề TTCN chỉ chiếm 12,3% (Báo Hà Nội mới, 2011).
Số lao động làm nghề TTCN truyền thống tuy chiếu, 90,4% các làng nghề sản xuất TTCN thiếu lao động (Nguyễn Minh, 2017). Nguồn nhân lực trẻ cho các ngành sản xuất TTCN trong tương lại ngày càng giảm bởi số con em lao động trong các làng nghề TTCN nói riêng, cả nước nói chung đều có xu hướng theo học các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp chứ không chọn các trường dạy nghề, kể cả cao đẳng nghề. Bên cạnh đó, định hướng nghề nghiệp cho lớp trẻ chưa được coi trọng đúng mức, 78,21% người lao động trong các làng nghề TTCN học nghề theo cách truyền nghề, cầm tay chỉ việc, 21,4% học nghề theo các lớp ngắn hạn của địa phương; rất ít người học theo học các chương trình đào tạo bài bản (Phạm Liên, 2011; Nguyễn Minh, 2017). Nguồn nhân lực các ngành nghề TTCN của Bắc Ninh không nằm ngoài thực tế nêu trên.
Trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động các ngành nghề TTCN hiện tại còn thấp, ít đào tạo bài bản, học chủ yếu từ thực tiễn truyền miệng theo cách “cha truyền con nối”, nên phát triển nghề nghiệp trên quy mô lớn hạn chế; lao động nhập cư, chất lượng thấp vẫn là chủ yếu. Theo Khổng Văn Thắng (2018), đến hết quý I năm 2016, tỉnh Bắc Ninh có 199.212 lao động làm việc tại các khu công nghiệp, trong đó lao động là người địa phương, chiếm 33,3%, lao động là người nước ngoài chiếm 1,28%; lao động nhập cư chiếm 65,42%. Kỹ năng và thái độ nghề nghiệp chưa chuẩn hóa. Công tác đào tạo, định hướng phát triển NNL của các cơ quan quản lý ngành, đơn vị sản xuất và các cá nhân người lao động còn yếu.
Từ năm 2004 đến năm 2017 tỉnh Bắc Ninh đã chi ngân sách hơn 29 tỷ đồng cho các hoạt động khuyến công, trong đó tập trung vào hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề cho các nghề cơ khí, điện, điện tử, gỗ mỹ nghệ, mộc dân 2 dụng, thêu tranh,… Đã hỗ trợ đào tạo cho hơn 15600 người lao động, nhưng sau khóa học trên 84,3% học viện lại làm việc cho các doanh nghiệp chứ không ở lại các cơ sở sản xuất ngành nghề TTCN của địa phương (Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Bắc Ninh, 2018). Cùng với đó, tình trạng ô nhiễm môi trường, môi trường làm việc của người lao động ở các làng nghề TTCN ở Bắc Ninh đang là một vấn đề đáng báo động, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người lao động và nhân lực sinh sống trong các làng nghề TTCN (Hoàng Thị Kim Ngọc và Lê Sỹ Cương, 2017). Tình trạng người lao động làm việc tại các làng nghề TTCN ở Bắc Ninh không được ký hợp đồng lao động, không được tham gia đóng BHXH, BHYT (Thanh Phong, 2017) đã ảnh hưởng phần nào đến quá trình phát triển nguồn nhân lực cho ngành TTCN trong thời gian qua. Nếu trong giai đoạn trước Bắc Ninh còn là tỉnh nông nghiệp, ngành TTCN đã hoàn thành xuất sắc vai trò tạo ra công ăn việc làm và sinh kế cho nhiều thế hệ, thì trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự cạnh tranh khắc nghiệt trong nền kinh tế thị trường, NNL trong ngành TTCN Bắc Ninh sẽ đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của ngành này.
Những kinh nghiệm, kỹ năng làm ra các sản phẩm TTCN thành công trong quá khứ lại không giúp gì nhiều khi nhu cầu thị hiếu thay đổi cũng như không có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Vì vậy, phát triển NNL ngành TTCN là sự cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế của tỉnh. Cho tới nay, cũng đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến phát triển TTCN và NNL tại Việt Nam. Ngay từ năm 2003, Nguyễn Hữu Dũng (2003) đã đề cập tới “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”.
Sau đó cũng có nhiều tác giả đã chọn hướng nghiên cứu về NNL như Trần Văn Tùng (2009), với chủ đề “Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta”; Đinh Văn Toàn (2010): phát triển NNL tập đoàn điện lực Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế, Lê Quang Hùng (2012) nghiên cứu về “Phát triển NNL chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”; Đinh Công Tuấn (2015) với nghiên cứu về “Biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”; Lê Xuân Tâm (2014) với nghiên cứu “Nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh”,… Các nghiên cứu này đã góp phần luận giải lý luận và thực tiễn về phát triển NNL nói chung nhưng được tiến hành ở các tỉnh, thành phố khác hoặc chung cho cả nước, cho từng lĩnh vực. Riêng nghiên cứu sâu 3 về phát triển NNL ngành TTCN, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa thấy có công trình nghiên cứu nào. Với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp và thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2020, đòi hỏi Bắc Ninh phải chú trọng phát triển công nghiệp và TTCN như một cú huých để đạt được sự tăng trưởng và cơ cấu kinh tế theo yêu cầu.
Năm 2011 Bắc Ninh đã phê duyệt quy hoạch phát triển NNL cho tới năm 2020. Đây là định hướng quan trọng và là căn cứ để các địa phương, ngành trong tỉnh thực hiện, triển khai chương trình phát triển NNL nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực tiểu thủ công nghiệp là rất cần thiết và là một bộ phận trong định hướng phát triển NNL chung của tỉnh Bắc Ninh. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Phát triển NNL ngành TTCN gồm các nội dung gì? và thể hiện ở các tiêu chí nào? (2) Kinh nghiệm thế giới và ở Việt Nam về phát triển NNL ngành TTCN như thế nào? (3) Thực trạng NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh như thế nào? Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển NNL tỉnh Bắc Ninh là gì? (4) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh? (5) Để đáp ứng yêu cầu phát triển NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh cần áp dụng những giải pháp nào? 1.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, các yêu cầu đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN từ đó, đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.