Luận án tiến sĩ về phát triển nguồn nhân lực ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh

Nâng cao nguồn nhân lực tiểu thủ công nghiệp tại Bắc Ninh nhằm phát triển bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và đáp ứng nhu cầu thị trường.

Chuyên ngành

Phát Triển Nguồn Nhân Lực Ngành Tiểu Thủ Công Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án

2020

191
10
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

1. PHẦN 1: TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Câu hỏi nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu chung

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1. Đối tượng nghiên cứu

1.3.2. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Đóng góp mới của luận án

1.4.1. Về lý luận

1.4.2. Về thực tiễn

1.4.3. Về phương pháp

1.5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

1.5.1. Ý nghĩa khoa học

1.5.2. Ý nghĩa thực tiễn

2. TỔNG QUAN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP

2.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

2.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài

2.1.2. Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam

2.1.2.1. Các nghiên cứu về vai trò nguồn nhân lực

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình là một vấn đề quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại tỉnh Bắc Giang. Việc phân chia diện tích đất giữa các hộ gia đình không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất nông nghiệp mà còn tác động đến sự ổn định chính trị và đời sống của người dân. Nghiên cứu cho thấy, sự manh mún trong phân bố đất nông nghiệp đang gây ra nhiều rào cản cho sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp. Chính phủ Việt Nam đã thực hiện nhiều chính sách nhằm cải cách và đổi mới trong quản lý đất đai, từ đó tạo ra những thay đổi tích cực trong phân bố đất nông nghiệp. Tuy nhiên, việc giữ đất nông nghiệp không được sử dụng hiệu quả đang trở thành vấn đề nan giải. "Việc lựa chọn một sự phân bố đất nông nghiệp hợp lý là rất cần thiết để đảm bảo công bằng và hiệu quả trong sử dụng đất". Nghiên cứu này nhằm cung cấp những luận chứng khoa học để đề xuất các giải pháp hỗ trợ, thúc đẩy phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình hợp lý tại Bắc Giang.

II. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của nghiên cứu là đánh giá thực trạng và xu thế phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang. Mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình, đánh giá tính hợp lý và hiệu quả trong phân bố đất, nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến phân bố, và đề xuất giải pháp hỗ trợ nhằm tối đa hóa lợi ích xã hội từ nguồn lực đất nông nghiệp. Nghiên cứu không chỉ tập trung vào khía cạnh lý thuyết mà còn đưa ra những phân tích thực tiễn, từ đó giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách có cái nhìn rõ ràng hơn về vấn đề phân bố đất nông nghiệp. "Đánh giá thực trạng phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình là cần thiết để tìm ra những giải pháp phù hợp nhằm phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh".

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiện trạng và biến động phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình tại tỉnh Bắc Giang. Nghiên cứu tập trung vào các hộ gia đình sử dụng đất nông nghiệp và các yếu tố tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng đến phân bố đất. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn trong thời gian từ 2005 đến 2019, với các số liệu khảo sát được thu thập từ năm 2018 đến 2019. Địa bàn nghiên cứu bao gồm ba huyện đại diện cho các tiểu vùng của tỉnh: Việt Yên, Lục Ngạn và Lạng Giang. "Việc lựa chọn các huyện này nhằm đảm bảo tính đại diện cho các đặc điểm địa lý và kinh tế - xã hội của tỉnh Bắc Giang". Nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quát về tình hình phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình và những yếu tố tác động đến nó.

IV. Đóng góp mới của luận án

Luận án này đóng góp vào việc hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm và vai trò của phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình. Phương pháp nghiên cứu được áp dụng bao gồm thống kê mô tả, mô hình đường giới hạn ngẫu nhiên (SFA), và các phương pháp phân tích khác như mô hình Probit và hệ số Gini. Nghiên cứu không chỉ chỉ ra thực trạng phân bố đất mà còn đánh giá tính hợp lý và hiệu quả trong phân bố, từ đó đưa ra các giải pháp hỗ trợ phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình. "Việc đánh giá tính hợp lý trong phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình sẽ giúp xác định các chính sách phù hợp nhằm cải thiện hiệu quả sử dụng đất". Những phát hiện từ nghiên cứu có thể được áp dụng trong thực tiễn để cải thiện quản lý và sử dụng đất nông nghiệp tại Bắc Giang.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu về phân bố đất nông nghiệp hộ gia đình không chỉ mang lại giá trị lý thuyết mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Phân bố đất là một yếu tố quyết định trong phát triển kinh tế nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống của hàng triệu hộ nông dân. Nghiên cứu này sẽ cung cấp thông tin quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách trong việc xây dựng các chương trình phát triển nông nghiệp bền vững. "Phân bố hợp lý đất nông nghiệp hộ gia đình sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp và cải thiện đời sống của người dân". Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực đất đai và phát triển nông nghiệp.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ PHẠM NGỌC TÙNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC NGÀNH TIỂU THỦ CÔNG NGHIỆP TỈNH BẮC NINH Ngành : Kinh tế phát triển Mã số : 9.05 Người hướng dẫn khoa học : 1. NGÔ THỊ THUẬN 2. NGUYỄN HỮU ĐẠT HÀ NỘI - 2019 PHẦN 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Sau 20 năm tái lập tỉnh (1997), Bắc Ninh đã đạt được những thành tựu đáng kể.

Kinh tế phát triển toàn diện, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) luôn duy trì ở mức hai con số, bình quân giai đoạn 1997-2016 đạt 15,1%/năm; tốc độ tăng trưởng GRDP giai đoạn 2016 – 2018 đạt hơn 16%/năm. Sản xuất công nghiệp và TTCN tăng trưởng cao, giá trị sản xuất theo giá hiện hành ước 143 nghìn tỷ đồng (theo giá so sánh năm 2010 đạt gần 126 nghìn tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng: năm 2018 khu vực công nghiệp - xây dựng chiếm hơn 76%; dịch vụ chiếm khoảng 17%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm gần 3,0% (Cục Thống kê Bắc Ninh, 2019). Những thành tựu trên có sự đóng góp không nhỏ của ngành, nghề tiểu thủ công nghiệp (TTCN), trong các làng nghề.

Cho đến nay, Bắc Ninh có 73 làng nghề TTCN trong đó có 58 làng nghề truyền thống (Chi cục PTNT Bắc Ninh, 2017). Các ngành nghề TTCN truyền thống lâu đời như: Gốm Phù Lãng, gỗ Đồng Kỵ, giấy Yên Phong, tranh Đông Hồ, đúc đồng Đại Bái… đã thu hút số lao động làm việc gần 72 nghìn lao động thường xuyên và hơn mười nghìn lao động thời vụ. Hàng năm cung cấp nguồn hàng xuất khẩu quan trọng, với kim ngạch xuất khẩu từ 1. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng kể, hoạt động sản xuất kinh doanh TTCN còn có hạn chế, đang đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi có những định hướng và giải pháp trung và dài hạn là: (i) năng lực cạnh tranh của các sản phẩm TTCN kém hơn so với nhiều loại hàng hóa của các nước như Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản….là những nước có trình độ công nghệ cao, kiểu dáng mẫu mã đa dạng, chất lượng tốt, giá thành hạ; (ii) đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, phân tán, quy trình thủ công đơn giản và lạc hậu; (iii) chất lượng sản phẩm không đồng đều, đặc biệt khi sản xuất hàng hoá quy mô lớn; (vi) giá trị hàng hoá thấp, sức tiêu thụ khó khăn tại nhiều thị trường; (v) tình trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng tại các địa bàn sản xuất; (vi) sự phát triển của một số ngành TTCN chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế xã hội hiện có; (vii) một số ngành nghề TTCN phát triển theo phong trào, không ổn định và hiệu quả, một số ngành nghề có xu hướng mai một; (viii) dịch vụ sản xuất chưa đồng bộ; (ix) công tác xúc tiến thương mại nhằm mở rộng 1 thị trường còn nhiều bất cập dẫn đến một số sản phẩm TTCN đứng trước nguy cơ thất nghề như tranh Đồng Hồ… Để thúc đẩy sự phát triển ngành nghề TTCN của tỉnh theo hướng hội nhập thì chất lượng nguồn nhân lực (NNL) có vai trò quan trọng.

Trong sản xuất sản phẩm TTCN, muốn nâng cao kết quả hiệu quả kinh tế thì đầu tư vào khoa học công nghệ là chưa đủ mà cần phát triển NNL một cách toàn diện, tương xứng với các phương tiện đó, Vì vậy, con người là yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững. Với ý nghĩa đó, phát triển NNL là sự quan tâm không chỉ ở các ngành nghề sản xuất TTCN mà còn ở tất cả mọi quốc gia, mọi tổ chức và mọi ngành nghề. Thực tế ở Việt Nam cho thấy, chất lượng NNL các ngành nghề TTCN còn nhiều hạn chế. Số lao động đã qua đào tạo bình quân tại các làng nghề TTCN chỉ chiếm 12,3% (Báo Hà Nội mới, 2011).

Số lao động làm nghề TTCN truyền thống tuy chiếu, 90,4% các làng nghề sản xuất TTCN thiếu lao động (Nguyễn Minh, 2017). Nguồn nhân lực trẻ cho các ngành sản xuất TTCN trong tương lại ngày càng giảm bởi số con em lao động trong các làng nghề TTCN nói riêng, cả nước nói chung đều có xu hướng theo học các trường đại học, cao đẳng chuyên nghiệp chứ không chọn các trường dạy nghề, kể cả cao đẳng nghề. Bên cạnh đó, định hướng nghề nghiệp cho lớp trẻ chưa được coi trọng đúng mức, 78,21% người lao động trong các làng nghề TTCN học nghề theo cách truyền nghề, cầm tay chỉ việc, 21,4% học nghề theo các lớp ngắn hạn của địa phương; rất ít người học theo học các chương trình đào tạo bài bản (Phạm Liên, 2011; Nguyễn Minh, 2017). Nguồn nhân lực các ngành nghề TTCN của Bắc Ninh không nằm ngoài thực tế nêu trên.

Trình độ chuyên môn kỹ thuật người lao động các ngành nghề TTCN hiện tại còn thấp, ít đào tạo bài bản, học chủ yếu từ thực tiễn truyền miệng theo cách “cha truyền con nối”, nên phát triển nghề nghiệp trên quy mô lớn hạn chế; lao động nhập cư, chất lượng thấp vẫn là chủ yếu. Theo Khổng Văn Thắng (2018), đến hết quý I năm 2016, tỉnh Bắc Ninh có 199.212 lao động làm việc tại các khu công nghiệp, trong đó lao động là người địa phương, chiếm 33,3%, lao động là người nước ngoài chiếm 1,28%; lao động nhập cư chiếm 65,42%. Kỹ năng và thái độ nghề nghiệp chưa chuẩn hóa. Công tác đào tạo, định hướng phát triển NNL của các cơ quan quản lý ngành, đơn vị sản xuất và các cá nhân người lao động còn yếu.

Từ năm 2004 đến năm 2017 tỉnh Bắc Ninh đã chi ngân sách hơn 29 tỷ đồng cho các hoạt động khuyến công, trong đó tập trung vào hoạt động đào tạo nghề, truyền nghề, nâng cao tay nghề cho các nghề cơ khí, điện, điện tử, gỗ mỹ nghệ, mộc dân 2 dụng, thêu tranh,… Đã hỗ trợ đào tạo cho hơn 15600 người lao động, nhưng sau khóa học trên 84,3% học viện lại làm việc cho các doanh nghiệp chứ không ở lại các cơ sở sản xuất ngành nghề TTCN của địa phương (Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Bắc Ninh, 2018). Cùng với đó, tình trạng ô nhiễm môi trường, môi trường làm việc của người lao động ở các làng nghề TTCN ở Bắc Ninh đang là một vấn đề đáng báo động, gây ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của người lao động và nhân lực sinh sống trong các làng nghề TTCN (Hoàng Thị Kim Ngọc và Lê Sỹ Cương, 2017). Tình trạng người lao động làm việc tại các làng nghề TTCN ở Bắc Ninh không được ký hợp đồng lao động, không được tham gia đóng BHXH, BHYT (Thanh Phong, 2017) đã ảnh hưởng phần nào đến quá trình phát triển nguồn nhân lực cho ngành TTCN trong thời gian qua. Nếu trong giai đoạn trước Bắc Ninh còn là tỉnh nông nghiệp, ngành TTCN đã hoàn thành xuất sắc vai trò tạo ra công ăn việc làm và sinh kế cho nhiều thế hệ, thì trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và sự cạnh tranh khắc nghiệt trong nền kinh tế thị trường, NNL trong ngành TTCN Bắc Ninh sẽ đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của ngành này.

Những kinh nghiệm, kỹ năng làm ra các sản phẩm TTCN thành công trong quá khứ lại không giúp gì nhiều khi nhu cầu thị hiếu thay đổi cũng như không có khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường quốc tế. Vì vậy, phát triển NNL ngành TTCN là sự cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế của tỉnh. Cho tới nay, cũng đã có nhiều nghiên cứu có liên quan đến phát triển TTCN và NNL tại Việt Nam. Ngay từ năm 2003, Nguyễn Hữu Dũng (2003) đã đề cập tới “Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam”.

Sau đó cũng có nhiều tác giả đã chọn hướng nghiên cứu về NNL như Trần Văn Tùng (2009), với chủ đề “Phát triển nguồn nhân lực kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta”; Đinh Văn Toàn (2010): phát triển NNL tập đoàn điện lực Việt Nam. Luận án tiến sỹ kinh tế, Lê Quang Hùng (2012) nghiên cứu về “Phát triển NNL chất lượng cao ở vùng kinh tế trọng điểm miền Trung”; Đinh Công Tuấn (2015) với nghiên cứu về “Biến đổi văn hóa làng nghề truyền thống trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”; Lê Xuân Tâm (2014) với nghiên cứu “Nghiên cứu phát triển làng nghề gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới ở tỉnh Bắc Ninh”,… Các nghiên cứu này đã góp phần luận giải lý luận và thực tiễn về phát triển NNL nói chung nhưng được tiến hành ở các tỉnh, thành phố khác hoặc chung cho cả nước, cho từng lĩnh vực. Riêng nghiên cứu sâu 3 về phát triển NNL ngành TTCN, đặc biệt trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh chưa thấy có công trình nghiên cứu nào. Với mục tiêu trở thành tỉnh công nghiệp và thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2020, đòi hỏi Bắc Ninh phải chú trọng phát triển công nghiệp và TTCN như một cú huých để đạt được sự tăng trưởng và cơ cấu kinh tế theo yêu cầu.

Năm 2011 Bắc Ninh đã phê duyệt quy hoạch phát triển NNL cho tới năm 2020. Đây là định hướng quan trọng và là căn cứ để các địa phương, ngành trong tỉnh thực hiện, triển khai chương trình phát triển NNL nhằm đáp ứng các yêu cầu đặt ra. Nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực tiểu thủ công nghiệp là rất cần thiết và là một bộ phận trong định hướng phát triển NNL chung của tỉnh Bắc Ninh. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: (1) Phát triển NNL ngành TTCN gồm các nội dung gì? và thể hiện ở các tiêu chí nào? (2) Kinh nghiệm thế giới và ở Việt Nam về phát triển NNL ngành TTCN như thế nào? (3) Thực trạng NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh như thế nào? Điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức trong phát triển NNL tỉnh Bắc Ninh là gì? (4) Những yếu tố nào ảnh hưởng đến phát triển NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh? (5) Để đáp ứng yêu cầu phát triển NNL ngành TTCN tỉnh Bắc Ninh cần áp dụng những giải pháp nào? 1.

MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá thực trạng, các yếu tố ảnh hưởng, các yêu cầu đặt ra trong phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN từ đó, đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực ngành TTCN nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận án tiến sĩ về phát triển nguồn nhân lực ngành tiểu thủ công nghiệp tỉnh Bắc Ninh" tập trung vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp tại tỉnh Bắc Ninh. Nghiên cứu này không chỉ phân tích hiện trạng và những thách thức mà ngành này đang đối mặt, mà còn đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm phát triển bền vững nguồn nhân lực. Những điểm nổi bật của luận án bao gồm tầm quan trọng của việc đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động, cũng như các chính sách khuyến khích đầu tư vào lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp. Điều này không chỉ mang lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế chung của tỉnh.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác liên quan đến quản lý và phát triển trong lĩnh vực xây dựng và kinh tế, có thể tham khảo thêm các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành quản lý xây dựng đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công tác tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và quy hoạch nam trung bộ, nơi đề cập đến các giải pháp nâng cao chất lượng trong quản lý xây dựng, và Luận văn tốt nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại công ty cổ phần thiết bị và tự động An Phát, tập trung vào việc cải thiện chất lượng nguồn nhân lực tại doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các khía cạnh quản lý và phát triển nguồn nhân lực trong ngành công nghiệp và xây dựng.