CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA THAY ĐỔI CÔNG NGHỆ ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU LAO ĐỘNG 1. Tổng quan các nghiên cứu về sự thay đổi công nghệ Nghiên cứu về sự thay đổi công nghệ đến kết quả hoạt động của các doanh nghiệp hoặc nền kinh tế đã được đề cập rất nhiều. Tuy nhiên, các chỉ tiêu đánh giá về sự thay đổi công nghệ và kết quả tác động của nó đến doanh nghiệp hoặc nền kinh tế giữa các nghiên cứu là khác nhau. Một là, một số nghiên cứu cho rằng sự thay đổi công nghệ chính là việc mua công nghệ bên ngoài của doanh nghiệp.
Ví dụ nghiên cứu của Zahra (1996b) khảo sát 112 dự án công nghệ sinh học mới đặt tại Hoa Kỳ chỉ ra việc mua công nghệ bên ngoài có liên quan tích cực tới hiệu quả của doanh nghiệp về doanh số và tăng trưởng quy mô thị trường. Ngoài ra, nghiên cứu của Jae-Seung Han & cộng sự (2012) điều tra tác động tích cực của mua công nghệ bên ngoài đối với giá trị thị trường của các công ty. Bên cạnh đó, có những nghiên cứu cũng chỉ ra thay đổi công nghệ là việc mua công nghệ bên ngoài của doanh nghiệp tuy nhiên, sự thay đổi này có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Cụ thể, nghiên cứu của Jones & cộng sự (2001) sử dụng dữ liệu của 188 công ty con để đo lường xu hướng tiếp thu công nghệ và đưa ra kết quả mua công nghệ có tác động tiêu cực đến phát triển sản phẩm, thị trường và tài chính của doanh nghiệp, nhưng các nguồn lực trong nội bộ doanh nghiệp có tác động bổ sung cho hoạt động mua công nghệ, từ đó tăng hiệu suất sản phẩm của doanh nghiệp.
Hai là, một số nghiên cứu cho thấy sự thay đổi công nghệ chính bao gồm các sản phẩm từ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp và việc mua công nghệ bên ngoài. Nghiên cứu của Kuen - Hung Tsai & Jiann - Chuyan Wang (2005) khảo sát 341 công ty sản xuất điện tử Đài Loan giai đoạn 1998 đến 2002 và ước lượng mô hình với phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) và cho kết quả sự thay đổi công nghệ thông qua mua công nghệ bên ngoài không có tác động đáng kể đến hiệu quả của doanh nghiệp, tuy nhiên, mua công nghệ tác động tích cực đến hiệu quả doanh nghiệp tăng theo mức độ nỗ lực tự nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp. Tương tự như vậy, các nghiên cứu của Arora & cộng sự (2001); Rigby & Zook (2002); Gans & Stern Luận án tiến sĩ Kinh tế 9 (2003) đều cho rằng hoạt động mua công nghệ của các doanh nghiệp nhằm mục đích phát triển công nghệ, để xây dựng năng lực hấp thụ cần thiết nhằm tạo ra sản lượng kỹ thuật mới (Cassiman & Veugelers, 2006). Ceccagnoli & Higgins (2008) chỉ ra rằng mua công nghệ là chiến lược bổ sung cho các công ty lớn vì sự kết hợp này có xu hướng làm tăng năng suất biên của hoạt động R&D, tức là việc mua công nghệ kết hợp với thực hiện hoạt động R&D sẽ tăng hiệu quả cho doanh nghiệp.
Nghiên cứu của Ki H. Jo & Jina Kang (2015) lại cho rằng mua công nghệ có mối quan hệ hình chữ U ngược với hiệu suất đổi mới công nghệ và điều đó không bổ sung cho hoạt động R&D nội bộ. Từ đó, nhóm nghiên cứu nhận định mua công nghệ bên ngoài là con dao hai lưỡi và các nhà quản lý cần nhận thức được các tác động tiêu cực tiềm tàng của việc tiếp thu công nghệ bên ngoài với hoạt động R&D nội bộ cũng như hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, tức là có sự đánh đổi giữa hình thức mua công nghệ và tự nghiên cứu và phát triển R&D. Trong khi đó, nghiên cứu của Williamson, 1985 và Pisano, 1990 chỉ ra vai trò của mua công nghệ bên ngoài tới hoạt động đổi mới và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cho dù có thể là tác động tích cực hay tiêu cực, và việc mua công nghệ đó cũng có thể là tác động bổ sung hoặc thay thế cho hoạt động R&D nội bộ doanh nghiệp.
Tức là nghiên cứu này cho rằng thay đổi công nghệ bao gồm việc mua công nghệ và hoạt động R&D có sự hỗ trợ cho nhau tới sự phát triển của doanh nghiệp. Báo cáo của CIEMB (2013) đánh giá về năng lực đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp cũng đánh giá sự thay đổi công nghệ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ và hoạt động nghiên cứu, cải tiến và điều chỉnh công nghệ. Trong đó, thực chất chuyển giao công nghệ là quá trình doanh nghiệp có được công nghệ ngoại sinh và hoạt động nghiên cứu để có được công nghệ nội sinh. Báo cáo đã chỉ ra được vai trò của đầu tư công nghệ nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, báo cáo đưa ra những trở ngại, khó khăn làm cản trở hoạt động đầu tư này của doanh nghiệp. Hơn nữa, có những nghiên cứu tập trung vào sự phối hợp giữa hoạt động R&D và hợp tác trong nghiên cứu. Cụ thể, Freeman & cộng sự (1997); Kitson (2001) cho thấy hợp tác nghiên cứu trong R&D sẽ làm tăng khả năng đổi mới công nghệ của doanh nghiệp, từ đó nâng cao năng lực trình độ nguồn nhân lực để đạt được các mục tiêu lớn hơn (Powell & Grodal, 2005). Hơn nữa, việc phối hợp hoặc trao đổi kết quả nghiên cứu giữa các trung tâm, tổ chức nghiên cứu hay các trường đại học sẽ mang lại hiệu quả tích cực cho các doanh nghiệp trên nhiều mặt (Wolfl & Anita, 2000).
Luận án tiến sĩ Kinh tế 10 Như vậy, các nghiên cứu về sự thay đổi công nghệ sẽ xem xét công nghệ dưới góc độ mua công nghệ từ bên ngoài hay công nghệ có được là do hoạt động tự nghiên cứu và phát triển trong nội bộ doanh nghiệp. Một vấn đề nữa là các doanh nghiệp sẽ lựa chọn một trong hai cách hay có thể có sự kết hợp của cả hoạt động mua và tự nghiên cứu phát triển để cung cấp được công nghệ cho doanh nghiệp. Tổng quan nghiên cứu về các xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động Dạng thay đổi cơ cấu của Kuznets là dạng phổ biến khi nghiên cứu về lý thuyết chuyển đổi cơ cấu lao động giữa các ngành của các nước phát triển ở giai đoạn đầu. Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian của thế kỷ XX và đưa ra kết quả CDCCLĐ diễn ra không chỉ giữa các ngành mà còn trong nội bộ mỗi ngành.
Dạng thay đổi cơ cấu Kuznets có những nội dung chính sau: (i) Tỷ trọng lao động nông nghiệp sẽ giảm theo quá trình phát triển, (ii) Tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ không thay đổi trong phát triển và (iii) Tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ tăng lên trong quá trình phát triển. Lý giải cho sự chuyển dịch này là do sự khác nhau trong tốc độ tăng trưởng năng suất trong các phân ngành. Hơn nữa, lao động có xu hướng dịch chuyển từ ngành có năng suất lao động thấp sang những ngành có năng suất lao động cao hơn. Dạng thay đổi cơ cấu Fourastie lại quan tâm tới sự thay đổi cơ cấu lao động giữa các ngành trong một thời gian dài trong suốt thế kỷ XIX và XX.
Dạng thay đổi cơ cấu Fourastie diễn ra như sau: (i) Tỷ trọng lao động nông nghiệp sẽ giảm theo quá trình phát triển, (ii) Tỷ trọng lao động công nghiệp sẽ tăng lên trong giai đoạn đầu của sự phát triển - giai đoạn công nghiệp hóa và sẽ giảm đi ở giai đoạn sau của quá trình phát triển và (iii) Tỷ trọng lao động trong ngành dịch vụ sẽ tăng lên trong quá trình phát triển. Dạng thay đổi cơ cấu Syrquin cho rằng nền kinh tế CDCCLĐ theo ba giai đoạn: sản xuất nông nghiệp, công nghiệp hóa và nền kinh tế phát triển. Dựa trên thực tiễn phát triển của kinh tế thế giới trong thế kỷ XX và đầu XXI, cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch qua các dạng sau: (i) Ở giai đoạn đầu của sự phát triển, nông nghiệp vẫn giữ vai trò chủ đạo, tiếp đến là ngành công nghiệp và cuối cùng là ngành dịch vụ; (ii) Giai đoạn tiếp chuyển sang nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, chuyển dịch theo xu hướng: công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ; (iii) Sau quá trình công nghiệp hóa, nền kinh tế chuyển dịch theo hướng ngành công nghiệp và dịch vụ có tỷ trọng cao hơn và cuối cùng là nông nghiệp; (iv) Ở giai đoạn nền kinh tế phát triển, nền kinh tế chuyển dịch Luận án tiến sĩ Kinh tế 11 theo hướng ngành dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là ngành dịch vụ và tiếp sau là nông nghiệp. Ngoài ra, tùy theo các mục tiêu nghiên cứu khác nhau, các dạng thay đổi cơ cấu còn có thể được tổng hợp khác nhau ví dụ như dạng thay đổi cơ cấu Baumol (1967) dựa trên sự khác biệt công nghệ trong mô hình hai ngành, một ngành có công nghệ tiến bộ hay ngành công nghiệp được giả định có tốc độ tăng NSLĐ không đổi và một ngành công nghệ lạc hậu hay ngành dịch vụ với NSLĐ không đổi.
Kết quả ông đưa ra là lao động có xu hướng dịch chuyển từ ngành công nghiệp sang ngành dịch vụ. Tuy nhiên, sau đó có nhiều nghiên cứu đưa ra các bằng chứng chống lại những kết quả dự báo trong mô hình Baumol (1967). Chính nghiên cứu của Baumol và cộng sự (1985) chỉ ra rằng không phải tất cả các ngành dịch vụ đều lạc hậu, như dịch vụ điện toán và truyền hình. Các ngành này có tốc độ tăng NLSĐ tương tự, thậm chí cao hơn của các ngành công nghiệp tiến bộ.
Trong khi các nghiên cứu của Maddison (1980); Ngai & Pissarides (2007) rút ra kết luận tương tự như Fourastie, đó là quá trình CDCCLĐ theo hướng giảm dần trong ngành nông nghiệp và tăng dần trong ngành dịch vụ, ngành công nghiệp thì tỷ trọng lao động tăng lên trong giai đoạn đầu và sẽ giảm ở giai đoạn sau của quá trình phát triển, hay tỷ trọng lao động ngành công nghiệp phát triển theo “hình bướu lạc đà”. Một khía cạnh khác của CDCCLĐ đó là xu hướng dịch chuyển theo trình độ chuyển môn kỹ thuật. Một số các công trình nghiên cứu của các tác giả Braverman, 1974; Hounshell, 1985; James & Skinner, 1985; Goldin & Katz, 1998 tiếp cận góc độ chuyển dịch lao động như thế nào giữa lao động có trình độ chuyên môn, có kỹ năng hay còn gọi là công nhân lành nghề với những lao động chưa qua đào tạo hoặc không có trình độ chuyên môn.