Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài "Nghiên cứu nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Oudomphone SIVONGSA, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Đặng Thị Lệ Xuân và TS. Trương Duy Hòa, bảo vệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, 2022), chuyên ngành Kinh tế phát triển (mã số: 9340105).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghèo là rào cản đối với sự phát triển con người và nền kinh tế - xã hội. Trước đây, các nghiên cứu và chính sách tại Lào chủ yếu tiếp cận nghèo theo khía cạnh đơn chiều dựa trên thu nhập hoặc chi tiêu. Tuy nhiên, thước đo tiền tệ không phản ánh đầy đủ các thiếu hụt phi tiền tệ mà người dân phải đối mặt như y tế, giáo dục, điều kiện nhà ở, nước sạch, vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin. Nam Lào được xác định là khu vực có tỷ lệ nghèo cao trong cả nước. Tại tỉnh Salavan, giai đoạn 2011 - 2020 ghi nhận tỷ lệ giảm nghèo đạt trên 18%, bình quân giảm 6,3%/năm (tương đương hơn 6.000 hộ thoát nghèo). Dù vậy, kết quả giảm nghèo chưa bền vững: tỷ lệ hộ cận nghèo lớn, nguy cơ tái nghèo cao, chênh lệch giữa các vùng và nhóm dân cư còn rõ rệt. Khi áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều, tỷ lệ nghèo của tỉnh vẫn ở mức cao so với bình quân chung của Lào. Việc nghiên cứu thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều tại Salavan nhằm xác lập căn cứ khoa học cho các giải pháp giảm nghèo bền vững là yêu cầu cấp thiết.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án chỉ ra gồm:
- Các nghiên cứu trước đây tại Lào chưa kết hợp phân tích hiệu quả thực thi chính sách giảm nghèo với đặc thù địa bàn và hệ quả nghèo đa chiều, dẫn đến các đề xuất còn chung chung, thiếu tính cá biệt hóa.
- Chưa có công trình đi sâu khám phá các chiều cạnh nghèo đa chiều gắn với đặc thù tự nhiên, rủi ro thiên tai và đặc điểm hộ gia đình tại tỉnh Salavan.
- Hoạt động nghiên cứu nghèo đa chiều tại Lào còn hạn chế, chủ yếu dùng dữ liệu thứ cấp mô tả hiện trạng chung; chưa có nghiên cứu kết hợp thu thập dữ liệu sơ cấp và hệ thống hóa thang đo đa chiều cụ thể cấp địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Nghiên cứu về nghèo đa chiều và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan cũng như áp dụng trong cả nước Lào.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nghèo đa chiều.
- Phân tích thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan.
- Xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan.
- Đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tình trạng nghèo đa chiều ở Salavan nói riêng và Lào nói chung.
Câu hỏi nghiên cứu
- Cơ sở lý luận nào cho nghèo đa chiều?
- Các tiêu chí và chỉ tiêu nào có thể sử dụng để đánh giá nghèo đa chiều giai đoạn 2011-2020?
- Thực trạng nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan như thế nào? Đâu là những kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân nghèo đa chiều tại tỉnh Salavan?
- Định hướng và những giải pháp nào nhằm xóa nghèo bền vững cho tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan và các yếu tố ảnh hưởng tới nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Salavan, nước CHDCND Lào (bao gồm 8 huyện).
- Phạm vi thời gian: Thu thập số liệu thứ cấp giai đoạn 2011 - 2020; số liệu sơ cấp điều tra năm 2020; đề xuất giải pháp cho giai đoạn đến năm 2025, tầm nhìn 2030.
- Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu đo lường nghèo đa chiều và phân tích 5 nhóm yếu tố tác động đến nghèo đa chiều.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án điểm luận và phân loại các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng nhóm nội dung:
Các nghiên cứu về nghèo đơn chiều và nghèo đa chiều
- Nghiên cứu nghèo đơn chiều: Báo cáo của World Bank (2012), Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (2011), ADB (2004) tập trung vào chuẩn nghèo tuyệt đối theo thu nhập/chi tiêu. Các nghiên cứu này chỉ ra thành tựu giảm nghèo gắn với tăng trưởng nhưng tốc độ có xu hướng chậm lại và nguy cơ tái nghèo cao khi gặp cú sốc kinh tế, sức khỏe. Hạn chế là chưa phản ánh được nhận thức và sự tham gia trực tiếp của người dân tại địa phương.
- Nghiên cứu nghèo đa chiều quốc tế:
- Udaya R. Wagle (2008): Ứng dụng khung đa chiều gồm phúc lợi kinh tế, năng lực và hòa nhập xã hội tại Mỹ.
- Ki, Faye và Faye (2009, trích trong Asselin, 2009): Xác định các chỉ báo giáo dục, sức khỏe, nước sạch, dinh dưỡng, nhà ở, năng lượng, tài sản tại Senegal.
- Alkire và Santos (2010): Đề xuất phương pháp đo lường MPI với 3 chiều (giáo dục, y tế, mức sống) và 10 chỉ số cho UNDP.
- Ramya M. Vijaya (2014): Đề xuất 4 tiêu chí (giáo dục, mức sống, tài sản, trao quyền) với 11 chỉ số tại Ấn Độ.
- Asselin và Vũ (2009): Đề xuất 5 chiều phân tích nghèo tại Việt Nam (sức khỏe, việc làm, giáo dục, thu nhập, nhà ở).
- Nghiên cứu nghèo đa chiều tại Việt Nam:
- Nguyễn Anh Dung (2005): Nghiên cứu chương trình xóa đói giảm nghèo gắn với người Mường tại Phú Thọ và liên hệ đặc thù vùng Tây Nguyên.
- Nguyễn Thị Hoa (2009): Hệ thống hóa chính sách xóa đói giảm nghèo tại Việt Nam đến năm 2015.
- Nguyễn Thị Nhung (2012): Nghiên cứu giải pháp xóa đói giảm nghèo vùng Tây Bắc Việt Nam.
- Trần Minh Sang (2012): Đánh giá nghèo đa chiều tại vùng Đông Nam Bộ qua chỉ số MPI.
- Ngô Quốc Dũng (2021): Phân tích tác động của thể chế đến nghèo đa chiều tại Việt Nam.
- Trần Tiến Khai và Nguyễn Ngọc Danh (2012): Ứng dụng phân tích thành phần chính (PCA) và phân tích tương ứng bội (MCA) nghiên cứu sinh kế và nghèo nông thôn.
Các nghiên cứu về xóa đói giảm nghèo tại Lào
- Khăm Bay Malasinh (2007): Thực trạng đói nghèo hộ gia đình nông thôn huyện Mun la pa mộc, tỉnh Chăm pa sắc.
- Sổm Phết Khămmani (2002): Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Bo Ly Khăm Xay.
- Kẹo Đa la Kon Soulivông (2005): Thực trạng và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở tỉnh Xê Kong.
- Bun lý Thong Phết (2011): Quản lý Nhà nước về xóa đói giảm nghèo vùng cao dân tộc thiểu số Bắc Lào.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Các công trình tại Lào trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ quản lý nhà nước hoặc tiếp cận nghèo đơn chiều qua dữ liệu thứ cấp, chưa xây dựng hệ thống chỉ báo đo lường nghèo đa chiều phù hợp với bối cảnh địa phương. Luận án của NCS Oudomphone SIVONGSA kế thừa phương pháp Alkire - Foster (AF), vận dụng khung chỉ báo chuẩn nghèo đa chiều theo quy định của Chính phủ Lào (Quyết định 285/QĐ-TTg), thu thập dữ liệu sơ cấp qua phỏng vấn chuyên gia và khảo sát hộ dân để đánh giá toàn diện tình trạng nghèo đa chiều tại địa bàn tỉnh Salavan.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm sử dụng
- Lý thuyết tiếp cận nghèo: Luận án tổng hợp các quan điểm từ Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen (1995), ESCAP (1993), Ngô Thắng Lợi (2013), UNDP (2011) và World Bank. Nghèo đa chiều được định nghĩa là tình trạng con người bị tước đoạt các nhu cầu và năng lực cơ bản để tham gia vào đời sống xã hội, bao gồm thiếu hụt về y tế, giáo dục, điều kiện sống, nhà ở và thông tin.
- Khung lý thuyết tăng trưởng và sinh kế:
- Tăng trưởng vì người nghèo (Pro-poor growth): WB (2000), DFID (2004), Dollar và Kraay (2002), Ravallion và Chen (2003).
- Tăng trưởng bao trùm (Inclusive growth): WB (2009, 2011), OECD (2014), Bell và Blanchflower (2015), IMF (2017), UNDP (2015).
- Khung sinh kế bền vững: Khung 5 nguồn vốn của DFID (2001), tiếp cận sinh kế của UNDP (1997), CARE (Chambers và Conway, 1992) và IFAD (2003).
- Khung đo lường nghèo đa chiều (Phương pháp Alkire - Foster):
Áp dụng hệ thống 5 chiều đo lường và 10 chỉ báo theo chuẩn nghèo đa chiều của Lào, phân bổ trọng số ngang bằng: mỗi chiều chiếm 20 điểm (0,2), mỗi chỉ báo chiếm 10 điểm (0,1) trên thang điểm 100 (hoặc 1,0). Ngưỡng nghèo đa chiều được xác định khi hộ gia đình thiếu hụt từ $1/3$ tổng điểm trở lên (điểm thiếu hụt $\ge 33,3$ điểm hay $\ge 0,333$).
| STT |
Chiều nghèo (Trọng số 20 điểm) |
Chỉ báo đo lường (Trọng số 10 điểm) |
Ngưỡng xác định thiếu hụt |
| 1 |
Giáo dục |
1. Trình độ giáo dục người lớn |
Hộ có thành viên đủ 15 tuổi chưa từng đi học hoặc không có bằng tốt nghiệp THCS/bằng nghề. |
|
|
2. Tình trạng đi học của trẻ em |
Hộ có thành viên từ 5-14 tuổi chưa từng đi học hoặc hiện không còn đi học. |
| 2 |
Y tế |
3. Tiếp cận dịch vụ y tế |
Hộ có thành viên đi khám chữa bệnh trong 12 tháng qua nhưng không đủ tiền chi trả viện phí. |
|
|
4. Tiếp cận bảo hiểm y tế (BHYT) |
Hộ có thành viên từ 6 tuổi trở lên không có BHYT. |
| 3 |
Nhà ở |
5. Chất lượng nhà ở |
Hộ sống trong nhà tạm, nhà thiếu kiên cố hoặc nhà đơn sơ. |
|
|
6. Diện tích nhà bình quân |
Diện tích nhà ở bình quân đầu người dưới 20 $m^2$. |
| 4 |
Điều kiện sống |
7. Nguồn nước sinh hoạt |
Hộ không tiếp cận nguồn nước hợp vệ sinh (nước máy, giếng khoan/đào bảo vệ, nước mưa...). |
|
|
8. Hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh |
Hộ không có hố xí tự hoại, bán tự hoại, hai ngăn hoặc cải tiến có ống thông hơi. |
| 5 |
Tiếp cận thông tin |
9. Sử dụng dịch vụ viễn thông |
Hộ không có thành viên nào sử dụng điện thoại (cố định/di động) và Internet. |
|
|
10. Tài sản tiếp cận thông tin |
Hộ không có tivi (màu/đen trắng), radio, máy vi tính (PC, laptop, tablet). |
- Khung phân tích các yếu tố tác động: Kế thừa mô hình của Deutsch và Silber (2005), Tsui (2002), Vijaya và Swaminathan (2014), luận án xác định 5 nhóm yếu tố tác động đến nghèo đa chiều: (1) Chính sách của Nhà nước; (2) Điều kiện kinh tế - xã hội địa phương; (3) Rủi ro thiên tai, dịch bệnh; (4) Đặc điểm hộ gia đình; (5) Cơ sở hạ tầng.
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp tiếp cận: Nghiên cứu định tính kết hợp phân tích thống kê mô tả, so sánh và tổng hợp.
- Phương pháp thu thập dữ liệu:
- Nghiên cứu tại bàn (Desk study): Thu thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo thống kê của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, UBND tỉnh Salavan, các sở ban ngành giai đoạn 2011 - 2020.
- Phỏng vấn sâu (In-depth interview) và kỹ thuật Delphi: Phỏng vấn bán cấu trúc (thời lượng trung bình 60 phút/người) để hiệu chỉnh thang đo và xác định các yếu tố tác động. Đối tượng phỏng vấn gồm 3 nhóm:
- Nhóm 1: Cán bộ, chuyên viên tại Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào.
- Nhóm 2: Cán bộ chuyên viên tại Văn phòng UBND tỉnh Salavan và 9 phòng ban chuyên môn (Tài chính kế hoạch, Nội vụ, Tài nguyên môi trường, Tư pháp, Giáo dục đào tạo, Y tế, Lao động thương binh xã hội, Kinh tế hạ tầng, Văn hóa thông tin).
- Nhóm 3: Cán bộ chuyên viên tại 8 huyện thuộc tỉnh Salavan (mỗi huyện chọn 2 cán bộ).
- Khảo sát thử nghiệm: Phỏng vấn thử 30 hộ gia đình tại Salavan để kiểm tra tính phù hợp của bảng hỏi.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn về nghèo đa chiều
Chương 1 hệ thống hóa các quan niệm về nghèo, phân biệt giữa nghèo theo thu nhập và nghèo đa chiều, đồng thời phân tích các khung đo lường nghèo chuẩn quốc tế và chuẩn nghèo tại Lào.
- Chuẩn nghèo theo thu nhập tại Lào:
- Theo Nghị định 285/TTg, chuẩn nghèo thu nhập bình quân cả nước là 261.000 kip/người/tháng (nông thôn miền núi: 253.000 kip/người/tháng; thành thị: 284.000 kip/người/tháng; tương đương khoảng 24 USD/tháng hay 0,8 USD/người/ngày với tỷ giá 1 USD = 8.000 kip thời điểm ban hành).
- Chuẩn bản nghèo: Bản có từ 50% số hộ là hộ nghèo; không có trường học tại bản hoặc phải đi bộ > 1 tiếng; không có trạm y tế/hiệu thuốc và phải đi bộ > 2 tiếng đến bệnh viện huyện; thiếu nước sạch; không có đường ô tô hoặc đường chỉ đi được trong mùa khô.
- Chuẩn huyện nghèo: Huyện có từ 51% số bản là bản nghèo.
- Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2010 - 2020: Ban hành theo Quyết định số 285/QĐ-TTg và 406/QĐ-TTg, kết hợp tiêu chí thu nhập với 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ báo). Toàn nước Lào ghi nhận tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 26,5% năm 2011 xuống 18,3% năm 2020.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến nghèo đa chiều:
- Chính sách của Nhà nước: Quy hoạch khu/cụm công nghiệp, chính sách trợ cấp nông nghiệp, chính sách hỗ trợ trực tiếp hộ nghèo, năng lực bộ máy thực thi, truyền thông giảm nghèo và chính sách bình đẳng giới.
- Điều kiện tự nhiên - kinh tế địa phương: Địa hình miền núi, chia cắt, khí hậu khắc nghiệt cản trở kết nối kinh tế và cung cấp dịch vụ công.
- Rủi ro thiên tai, dịch bệnh: Hạn hán, lũ lụt, dịch bệnh làm suy giảm sinh kế và tài sản tích lũy của hộ.
- Đặc điểm hộ gia đình: Quy mô nhân khẩu lớn, tỷ lệ phụ thuộc cao, diện tích đất canh tác ít, trình độ học vấn của chủ hộ thấp.
- Cơ sở hạ tầng - dịch vụ xã hội: Giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi, mạng lưới điện lưới, trạm y tế và trường học.
- Kinh nghiệm thực tiễn: Điểm lại kinh nghiệm giảm nghèo đa chiều từ một số quốc gia và các tỉnh tại CHDCND Lào để rút ra bài học cho tỉnh Salavan.
Chương 2: Thực trạng nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Chương 2 trình bày tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Salavan, phân tích số liệu thống kê thực trạng nghèo giai đoạn 2011 - 2020 và đo lường mức độ thiếu hụt theo 5 chiều nghèo.
- Khái quát tỉnh Salavan:
- Vị trí địa lý thuộc Nam Lào, bao gồm 8 huyện; địa hình đa dạng từ đồng bằng đến cao nguyên và miền núi hẻo lánh.
- Cơ cấu kinh tế phụ thuộc nhiều vào sản xuất nông nghiệp truyền thống, năng suất thấp; hạ tầng giao thông và dịch vụ xã hội còn nhiều hạn chế.
- Thực trạng và kết quả giảm nghèo 2011 - 2020:
- Giai đoạn 2011 - 2020, tỷ lệ hộ nghèo tại Salavan giảm hơn 18%, bình quân giảm 6,3%/năm (giải quyết thoát nghèo cho trên 6.000 hộ).
- Tỷ lệ hộ cận nghèo và nguy cơ tái nghèo vẫn cao; chênh lệch mức sống giữa khu vực thành thị và nông thôn miền núi còn sâu sắc. Đồng bào dân tộc thiểu số tại các huyện vùng cao có tỷ lệ nghèo đa chiều vượt trội so với vùng đồng bằng.
- Đo lường mức độ thiếu hụt theo 5 chiều và 10 chỉ báo:
- Chiều Giáo dục: Tỷ lệ thiếu hụt về trình độ học vấn người lớn và tình trạng trẻ em bỏ học tập trung cao tại khu vực nông thôn, vùng sâu vùng xa do thiếu trường lớp và đường sá đi lại khó khăn.
- Chiều Y tế: Tỷ lệ người dân thiếu hụt tiếp cận dịch vụ y tế do chi phí khám chữa bệnh và khoảng cách di chuyển; tỷ lệ người dân chưa tham gia BHYT còn lớn.
- Chiều Nhà ở: Tỷ lệ hộ sống trong nhà tạm, nhà đơn sơ và thiếu diện tích ở bình quân ($< 20 m^2/\text{người}$) chiếm tỷ trọng đáng kể ở các huyện miền núi.
- Chiều Điều kiện sống: Tình trạng thiếu nước sinh hoạt hợp vệ sinh trong mùa khô và tỷ lệ hộ không có hố xí hợp chuẩn còn phổ biến ở các bản nông thôn.
- Chiều Tiếp cận thông tin: Thiếu hụt thiết bị nghe nhìn và khó khăn trong tiếp cận mạng viễn thông/Internet tại các cụm bản vùng sâu.
- Phân tích các yếu tố tác động:
- Năng lực thực thi chính sách của cán bộ cơ sở chưa đồng đều; nguồn lực tài chính đầu tư cho các chương trình mục tiêu còn dàn trải.
- Quy mô hộ nghèo thường đông con, tỷ lệ phụ thuộc cao, diện tích đất canh tác bình quân thấp, thiếu vốn sản xuất và kỹ thuật thâm canh.
- Hạ tầng giao thông nông thôn mùa mưa thường xuyên bị chia cắt, gây cản trở lưu thông hàng hóa và tiếp cận dịch vụ công.
- Đánh giá chung và nguyên nhân hạn chế:
- Hạn chế: Kết quả giảm nghèo thiếu tính bền vững; tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào trợ cấp còn tồn tại ở một bộ phận người dân; chênh lệch phát triển giữa các huyện chưa được thu hẹp.
- Nguyên nhân: Xuất phát điểm kinh tế thấp, nguồn ngân sách địa phương hạn hẹp, tác động tiêu cực của thiên tai hạn hán - bão lũ, cùng với những bất cập trong phân bổ nguồn lực giảm nghèo.
Chương 3: Định hướng và giải pháp giảm nghèo đa chiều ở tỉnh Salavan, nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
Chương 3 xây dựng hệ thống giải pháp toàn diện cho giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 dựa trên các phát hiện nghiên cứu.
- Quan điểm và định hướng giảm nghèo:
- Chuyển đổi căn bản nhận thức từ giảm nghèo đơn chiều sang giảm nghèo đa chiều bền vững, bao trùm.
- Gắn công tác giảm nghèo với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương, xây dựng cụm bản phát triển và củng cố hệ thống an sinh xã hội.
- Hệ thống các nhóm giải pháp cụ thể:
- Hoàn thiện cơ chế, chính sách giảm nghèo: Cải cách quy trình rà soát, nhận diện hộ nghèo đa chiều; hoàn thiện bộ tiêu chí chuẩn nghèo phù hợp thực tiễn; nâng cao năng lực thực thi và trách nhiệm giải trình của đội ngũ cán bộ các cấp từ tỉnh đến huyện, bản.
- Phát triển kinh tế - xã hội, hỗ trợ hộ gia đình: Đẩy mạnh chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp, khuyến nông, khuyến lâm; phát triển các mô hình kinh tế trang trại, hợp tác xã phù hợp với lợi thế đất đai, khoáng sản và tiềm năng du lịch của Salavan.
- Ngăn chặn và phòng chống rủi ro thiên tai, dịch bệnh: Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm, đầu tư hạ tầng thủy lợi chống hạn hán và kiểm soát lũ lụt; thiết lập quỹ dự phòng hỗ trợ khẩn cấp cho người dân khi gặp rủi ro thiên tai.
- Nâng cao chất lượng cơ sở hạ tầng: Ưu tiên nguồn vốn ngân sách và vốn ODA đầu tư mạng lưới giao thông liên huyện, liên bản (đảm bảo lưu thông cả trong mùa mưa); mở rộng lưới điện quốc gia, xây dựng trường học kiên cố và trạm y tế đạt chuẩn tại các cụm bản.
- Hỗ trợ sinh kế và nâng cao chất lượng cuộc sống: Mở rộng tín dụng chính sách ưu đãi cho hộ nghèo; hỗ trợ đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm; triển khai các chương trình cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh, hỗ trợ xây dựng nhà tiêu hợp chuẩn và mở rộng độ bao phủ của BHYT toàn dân.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và học thuật
- Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận về nghèo đa chiều, tăng trưởng vì người nghèo, tăng trưởng bao trùm và sinh kế bền vững trong bối cảnh một quốc gia đang phát triển như CHDCND Lào.
- Vận dụng và cụ thể hóa phương pháp Alkire - Foster vào điều kiện thực tiễn của Lào, thiết lập khung phân tích gồm 5 chiều (Giáo dục, Y tế, Nhà ở, Điều kiện sống, Tiếp cận thông tin) với 10 chỉ báo đo lường được chuẩn hóa bằng thang điểm 100.
- Xác định và hệ thống hóa 5 nhóm yếu tố tác động đồng thời đến nghèo đa chiều cấp địa phương: chính sách nhà nước, điều kiện kinh tế - xã hội, thiên tai - dịch bệnh, đặc điểm hộ gia đình và cơ sở hạ tầng.
Đóng góp về mặt thực tiễn và chính sách
- Phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng nghèo và giảm nghèo tại tỉnh Salavan trong giai đoạn 10 năm (2011 - 2020), làm rõ sự phân hóa mức độ thiếu hụt giữa khu vực thành thị và nông thôn miền núi.
- Cung cấp luận cứ khoa học để các nhà hoạch định chính sách tại Lào điều chỉnh tiêu chí xác định hộ nghèo, bản nghèo, huyện nghèo theo hướng đa chiều, tránh bỏ sót đối tượng thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản dù có thu nhập nằm sát chuẩn nghèo.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ từ cơ chế chính sách, đầu tư hạ tầng, hỗ trợ sinh kế đến phòng chống rủi ro thiên tai, có khả năng ứng dụng trực tiếp cho tỉnh Salavan và làm tài liệu tham khảo cho các tỉnh khác tại CHDCND Lào.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Dữ liệu thứ cấp tổng hợp phân tích giới hạn trong mốc thời gian 2011 - 2020; dữ liệu sơ cấp điều tra phỏng vấn chuyên gia và khảo sát thử nghiệm chỉ thực hiện trong năm 2020.
- Luận án sử dụng phương pháp định tính làm chủ đạo kết hợp thống kê mô tả, chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng định lượng nâng cao (như hồi quy Logit/Probit đa biến) để lượng hóa mức độ tác động biên của từng yếu tố đến xác suất nghèo đa chiều của hộ.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô điều tra mẫu lớn trên toàn bộ 8 huyện của tỉnh Salavan nhằm áp dụng các mô hình kinh tế lượng vi mô phân tích sâu mối quan hệ nhân quả.
- Cập nhật số liệu giai đoạn 2021 - 2025 để đánh giá tác động của các biến động kinh tế vĩ mô và dịch bệnh đến tình trạng nghèo đa chiều tại địa phương.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng thực tiễn cho các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, Ban Kế hoạch và Đầu tư, UBND tỉnh Salavan và chính quyền các huyện sử dụng làm căn cứ xây dựng kế hoạch giảm nghèo hàng năm và giai đoạn 2021 - 2030.
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Xã hội học tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu nghèo đa chiều, khung phân tích Alkire - Foster và kỹ thuật phỏng vấn Delphi trong nghiên cứu định tính.
- Các tổ chức quốc tế và phi chính phủ (UNDP, WB, ADB, IFAD, CARE): Tham khảo các chỉ số thiếu hụt thực tế tại địa bàn Nam Lào để thiết kế các dự án viện trợ sinh kế, nước sạch, y tế và giáo dục.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều nào?
Luận án áp dụng phương pháp luận Alkire - Foster (AF) do Tổ chức Sáng kiến Nghèo và Phát triển Con người Oxford (OPHI) phối hợp cùng UNDP phát triển, kết hợp với khung chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều của Chính phủ Lào (Quyết định số 285/QĐ-TTg).
2. Hệ thống đo lường nghèo đa chiều trong luận án gồm những chiều và chỉ báo nào?
Hệ thống gồm 5 chiều với 10 chỉ báo: Giáo dục (trình độ người lớn, tình trạng đi học của trẻ em); Y tế (tiếp cận dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế); Nhà ở (chất lượng nhà, diện tích bình quân); Điều kiện sống (nguồn nước sạch, hố xí hợp vệ sinh); Tiếp cận thông tin (dịch vụ viễn thông, tài sản thông tin). Mỗi chiều chiếm 20 điểm, mỗi chỉ báo chiếm 10 điểm trên tổng thang điểm 100.
3. Ngưỡng nghèo đa chiều được xác định như thế nào trong nghiên cứu?
Một hộ gia đình được xác định là nghèo đa chiều khi có tổng điểm thiếu hụt từ 33,3 điểm trở lên (thiếu hụt từ $1/3$ tổng số chỉ báo đã được gia trọng).
4. Kết quả giảm nghèo tại tỉnh Salavan giai đoạn 2011 - 2020 đạt được như thế nào?
Trong 10 năm (2011 - 2020), tỷ lệ hộ nghèo tại tỉnh Salavan giảm hơn 18%, tốc độ giảm bình quân hàng năm đạt 6,3%, tương ứng với hơn 6.000 hộ dân thoát nghèo. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ cận nghèo và nguy cơ tái nghèo vẫn còn cao.
5. Luận án xác định những nhóm yếu tố nào tác động đến nghèo đa chiều tại Salavan?
Có 5 nhóm yếu tố chính: (1) Các chính sách của Nhà nước; (2) Điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương; (3) Rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh; (4) Đặc điểm hộ gia đình; (5) Đặc điểm cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội.
Kết luận
Luận án của NCS Oudomphone SIVONGSA đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về nghèo đa chiều và ứng dụng phương pháp Alkire - Foster để phân tích thực trạng nghèo tại tỉnh Salavan, CHDCND Lào giai đoạn 2011 - 2020. Nghiên cứu đã chỉ rõ các chiều thiếu hụt cơ bản về giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống, thông tin cùng 5 nhóm yếu tố tác động chính tại địa phương. Trên cơ sở đó, luận án xác lập hệ thống giải pháp đồng bộ, khả thi nhằm thúc đẩy công tác giảm nghèo đa chiều bền vững, đóng góp thiết thực cho quá trình hoạch định chính sách an sinh xã hội tại tỉnh Salavan và nước CHDCND Lào trong giai đoạn tới.