đặt vấn đề tăng trưởng sẽ giảm nghèo (Dollar và Kraay, 2002; Kakwani và Pernia, 2000). Tăng trưởng là tốt cho người nghèo nhưng không phải tất cả người nghèo và thường là tốt cho người nghèo nhưng tốt hơn cho người giàu (Ravallion và Chen, 2003). Trên thực tế, nhiều người hay nhiều khu vực mới chỉ giảm “cực nghèo” (theo ngưỡng nghèo tuyệt đối), chứ không phải là giảm “nghèo”; tốc độ giảm nghèo chậm lại và việc giảm nghèo vẫn chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao (UNDP, 2004). Cách tiếp cận theo tăng trưởng bao trùm (inclusive growth) Tăng trưởng bao trùm được sử dụng trong mấy năm gần đây.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về tăng trưởng bao trùm nhưng có điểm chung đó là về tăng trưởng kinh tế mà mọi thành phần trong nền kinh tế đều được hưởng lợi thành quả của tăng trưởng và được mở mang cơ hội phát triển, bao gồm cả về mặt kinh tế và các khía cạnh khác, một cách công bằng (WB, 2009; IPC, 2013; OECD, 2014). Tăng trưởng trao trùm phản ánh sự tăng trưởng vững chắc và rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, thúc đẩy việc làm của người lao động, bao gồm cơ hội tiếp cận tới thị trường và tài nguyên, bảo vệ tính dễ bị tổn thương. Tăng trưởng kinh tế là cần thiết và đóng vai trò quan trọng để xóa đói giảm nghèo nhưng tăng trưởng không chỉ hỗ trợ những người nghèo thoát nghèo mà còn cần bảo đảm rằng những người ở trên ngưỡng nghèo sẽ không rơi lại vào tình trạng đói nghèo và không bị bỏ lại phía sau quá trình tăng trưởng. Luận giải lý do về sự cần thiết tăng trưởng bao trùm, nhiều nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng bất bình đẳng cao và kéo dài dai dẳng do tăng trưởng diễn ra không đồng đều, nói cách khác là thiếu bao 14 trùm, có thể cản trở tăng trưởng dài hạn và ổn định kinh tế vĩ mô, gắn liền với hàng loạt các thành quả nghèo nàn về mặt xã hội và có những hậu quả tiêu cực đối với nỗ lực giảm nghèo trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn (Bell và Blanchflower, 2015; Morsy, 2012; WB, 2011).
Hơn nữa, các tiến bộ công nghệ trên thế giới đang diễn ra nhanh chóng và ảnh hưởng tới việc làm, nhất là đối với lao động kỹ thiếu kỹ năng hoặc kỹ năng năng thấp (IMF, 2017; OECD, 2011). Hội nhập kinh tế quốc tế cũng có thể tác động tiêu cực tới một số nhóm lao động hoặc cộng đồng dân cư (Dabla-Norris và cộng sự, 2015; Ghosh và cộng sự, 2016). Tăng trưởng bao trùm là cần thiết cho tăng trưởng bền vững và gắn kết xã hội, các bất bình đẳng được đưa vào trong nền kinh tế thị trường và những động lực cần thiết cho đầu tư và tăng trưởng (Fabrizio và cộng sự, 2017; Ostry và cộng sự, 2014). Trong khi cách tiếp cận tăng trưởng vì người nghèo tập trung vào cải thiện thu nhập của những người nghèo nhất, tăng trưởng bao trùm coi người nghèo và không nghèo là những người tham gia đầy đủ vào nền kinh tế, tạo lập và định hình tăng trưởng kinh tế.
Tăng trưởng bao trùm là tăng trưởng làm giảm những bất lợi của các nhóm yếu thế nhất mà vẫn mang lại lợi ích cho mọi người, tăng trưởng vì người nghèo có thể đạt được hoặc bằng cách giảm lợi ích của một hay nhiều nhóm hoặc bằng cách hy sinh một hay nhiều nhóm. Tăng trưởng vì người nghèo tập trung vào những người ở dưới ngưỡng nghèo. Tăng trưởng bao trùm hướng tới giảm nghèo và nâng đỡ tất cả người dân ở mọi nhóm thu nhâp, kể cả những người có thể là khá giả, song vẫn có thể dễ bị tổn thương trước những cú sốc. Cách tiếp cận tăng trưởng bao trùm nhấn mạnh tới cả tốc độ và cách thức tăng trưởng (tạo cơ hội tham gia của nhiều người đóng góp vào quá trình tăng trưởng).
Tăng trưởng bao trùm nhấn mạnh đến tạo việc làm đầy đủ và có chất lượng trên thị trường lao động - trụ cột chính của tăng trưởng bao trùm (coi tăng trưởng năng suất) hơn là tập trung vào phân phối thu nhập, việc phân phối thu nhập chỉ có thể giành cho một số đối tượng và chỉ có tác dụng trong ngắn hạn. Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong đề xuất các cách thức để thực hiện tăng trưởng bao trùm: Tăng trưởng bao trùm có thể thực hiện qua việc đầu tư cho giáo dục, y tế, cải thiện cơ sở hạ tầng cho sự tiếp cận của nhiều người, đầu tư tài chính bao trùm và cải cách chính sách tài khóa, cấu trúc thị trường lao động (IMF, 2017); Tăng trưởng bao trùm cần bao hàm phần lớn lực lượng lao động mà ở đó tính chất bao trùm nói về sự bình đẳng cơ hội trong khả năng tiếp cận thị trường và nguồn lực, tăng trưởng bằng cách tối ưu hóa nhiều hơn lực lượng lao động ở trong các hoạt động có năng suất thấp hoặc lao động đang nằm ngoài quá trình tăng trưởng (WB, 2009); Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2015 nhấn mạnh tăng trưởng bao trùm thông qua tạo việc làm 15 đầy đủ và có chất lượng trên thị trường lao động, mở mang nhiều cơ hội thông qua khả năng tiếp cận nền giáo dục và y tế có chất lượng và phù hợp có vai trò then chốt, bảo trợ xã hội đảm bảo tiêu chuẩn sống cơ bản cho nhiều người (UNDP, 2015);… Cách tiếp cận về sinh kế bền vững Sinh kế bền vững được xem như một mục tiêu nhằm xóa đói giảm nghèo và cho đến nay có khá nhiều cách tiếp cận về sinh kế bền vững: Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP (1997) dựa vào tài sản, nhấn mạnh vào việc thúc đẩy tiếp cận của con người và sử dụng bền vững các loại tài sản mà con người dựa vào đó như là chìa khóa cho việc xóa bỏ nghèo. Cách tiếp cận này đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc cải tiến công nghệ như là phương tiện nhằm giúp con người thoát khỏi đói nghèo. Ngoài ra, cách tiếp cận này còn nhấn mạnh tới sức mạnh cá nhân (vốn xã hội), các chính sách và những vấn đề về quản trị, tính dễ bị tổn thương, như những chiều cạnh của nghèo.
Cách tiếp cận sinh kế bền vững của UNDP vận hành chủ yếu như là một khung chương trình để thiết kế các hoạt động hỗ trợ nhằm cải thiện khả năng sinh kế bền vững của những người nghèo và các nhóm, cộng đồng dễ bị tổn thương bằng việc nâng cao khả năng thích ứng trước các biến đổi/cú sốc. Cách tiếp cận của tổ chức phi chính phủ CARE (Chambers và Conway, 1992) hướng vào các chiến lược sinh kế của hộ với 3 bộ phận: vốn con người; các tài sản hữu hình và vô hình; sự tồn tại của các hoạt động kinh tế. Các bộ phận này có sự tương tác lẫn nhau và xác định nên chiến lược sinh kế của hộ gia đình. Cách tiếp cận của CARE nhấn mạnh nhiều vào việc nâng cao năng lực của người nghèo để họ có thể thực hiện được các sáng kiến nhằm làm chủ cách sinh kế của mình.
Do đó, việc trao quyền như là một chiều cạnh cơ bản của cách tiếp cận này. Khung sinh kế bền vững của DFID (2001) được xây dựng quanh 5 loại vốn (vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn con người, vốn tài chính và vốn xã hội), chúng được mô tả theo hình ngũ giác để biểu đạt sự tương tác giữa các loại vốn và phản ánh sinh kế phụ thuộc vào việc kết hợp các loại vốn theo những cách thức khác nhau chứ không phải từ một loại vốn duy nhất. Do đó, điều quan trọng trong phân tích là tìm ra được người nghèo tiếp cận đối với những loại vốn khác nhau và khả năng của họ để đưa các loại vốn này vào hoạt động sinh kế. Cách tiếp cận sinh kế bền vững của DFID nhằm mục đích tăng tính hiệu quả của việc xóa bỏ đói nghèo bẳng thông qua hai cách chính: thứ nhất, tìm kiếm các nguyên tắc cơ bản định hình hoạt động hướng vào đói nghèo và thứ hai, các hoạt động hỗ trợ được đặt trong một cách tổng thể để đảm bảo rằng các hoạt động này phù hợp với người nghèo.
16 Trên cơ sở khung phân tích sinh kế bền vững của DFID, tổ chức IFAD (2003) đã bổ sung, phát triển và xây dựng lên khung sinh kế bền vững với nhiều yếu tố và cách thể hiện mối quan hệ mới. Khung sinh kế bền vững của IFAD có một số thay đổi so với khung sinh kế bền vững của DFID, đó là: đặt người nghèo làm trung tâm và bổ sung thêm loại vốn văn hóa. Các cách tiếp cận trên là khác nhau nhưng đều là chiến lược để hướng tới xóa bỏ nghèo. Cách tiếp cận của UNDP và CARE được sử dụng để thiết kế các chương trình, dự án cụ thể trong khi đó cách tiếp cận của DFID/IFAD hữu ích hơn trong phân tích.
Mặc dù các cách tiếp cận khác nhau nhưng có thể nhận thấy rằng sinh kế bền vững hàm chứa những vấn đề sau: thứ nhất, tăng trưởng kinh tế là quan trọng cho việc xóa bỏ nghèo nhưng không phải là tất cả vì nó còn phụ thuộc vào năng lực của người nghèo trong việc tận dụng cơ hội của tăng trưởng kinh tế; thứ hai, đói nghèo không chỉ về việc thu nhập thấp mà nó còn những chiều cạnh khác như sức khỏe, giáo dục, tiếp cận các dịch vụ xã hội,… và tính dễ bị tổn thương, thiếu sức mạnh, bị loại ra ngoài xã hội; và thứ ba, người nghèo sẽ biết rõ nhất về tình trạng và nhu cầu của họ. Các nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 6. Các nghiên cứu ngoài nước Nghiên cứu quốc tế về nghèo đa chiều“Multidimensional poverty: An alternative measurement approach for the United States” của Udaya R Wagle (2008). Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng một khuôn đa chiều toàn diện bao gồm kinh tế phúc lợi, khả năng, và hòa nhập xã hội để xem xét nghèo ở Mỹ.
Dữ liệu từ các khảo sát xã hội chung 2004 hỗ trợ sự liên kết giữa các kích thước nghèo, chỉ ra rằng các khuôn đa chiều sử dụng một tập hợp toàn diện các thông tin cung cấp một giá trị hấp dẫn thêm để đo lường nghèo. Các đặc điểm nhân khẩu học đề xuất các loại khác nhau của người nghèo phần nào tương tự giữa cách tiếp cận này và các cách tiếp cận truyền thống khác. Nhưng các kết quả đo lường toàn diện và chính xác hơn từ cách tiếp cận này giúp hoạch định chính sách nhắm mục tiêu các nguồn lực tại các nhóm cụ thể.