Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ: Chính sách tiền tệ với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam: Bằng chứng từ mô hình DSGE.
- Nghiên cứu sinh: Triệu Kim Lanh
- Người hướng dẫn khoa học: PGS. Nguyễn Đức Trung
- Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh
- Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng (Mã số: 9 34 02 01)
- Thời gian hoàn thành: Tháng 5 năm 2023
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nghiên cứu về tác động phân phối của chính sách tiền tệ (CSTT) đối với bất bình đẳng thu nhập nhận được sự quan tâm rộng rãi từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007 – 2009. Tại các nền kinh tế mới nổi có thị trường tài chính chưa hoàn thiện, việc tiếp cận hạn chế với các tổ chức tài chính chính thức làm giảm khả năng phòng ngừa rủi ro của hộ gia đình trước các cú sốc, từ đó phóng đại tác động phân bổ của các biến động kinh tế vĩ mô.
Về mặt lý thuyết, CSTT mở rộng có thể mang lại các hiệu ứng đa chiều:
- Làm gia tăng bất bình đẳng do thúc đẩy giá tài sản tài chính (có lợi cho nhóm thu nhập cao) hoặc làm tăng lạm phát (gây bất lợi cho nhóm thu nhập thấp vốn nắm giữ nhiều tiền mặt).
- Làm giảm bất bình đẳng thông qua việc giảm chi phí vay nợ và kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động ở tầng đáy của phân phối.
Tại Việt Nam, các định hướng điều hành kinh tế vĩ mô được thể chế hóa qua nhiều văn bản quan trọng:
- Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, đặt trọng tâm chuyển đổi điều hành CSTT từ khối lượng sang giá, sử dụng công cụ gián tiếp và lấy nghiệp vụ thị trường mở làm công cụ chủ yếu.
- Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 01/02/2019 ban hành Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát, bao gồm 05 nhóm hoạt động (kinh tế ngầm, kinh tế bất hợp pháp, phi chính thức chưa quan sát, tự sản tự tiêu của hộ gia đình, và hoạt động bỏ sót trong thống kê).
- Quyết định ngày 22/01/2020 phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Khoảng trống nghiên cứu thực tế tại Việt Nam cho thấy phần lớn các công trình trước đây tập trung vào cơ chế truyền dẫn chung, tăng trưởng kinh tế, lạm phát, thị trường chứng khoán hoặc phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ. Các nghiên cứu định lượng đánh giá tác động phân phối của CSTT đến khu vực hộ gia đình còn rất hạn chế, đặc biệt là việc ứng dụng mô hình cân bằng tổng thể động ngẫu nhiên (DSGE) kết hợp phân tích chuỗi dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS). Do đó, luận án được thực hiện nhằm lượng hóa phản ứng của khu vực hộ gia đình trước các cú sốc CSTT để cung cấp cơ sở cho việc điều hành CSTT hướng tới mục tiêu giảm bất bình đẳng thu nhập.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá CSTT tác động đến kết quả phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam giai đoạn 1996 – 2021 thông qua thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập; từ đó đưa ra những bằng chứng khoa học về lý thuyết và thực nghiệm nhằm hàm ý điều hành CSTT hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình.
- Mục tiêu cụ thể:
- Mục tiêu 1: Đánh giá diễn biến điều hành CSTT của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam cùng với tổng quan về thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 – 2021.
- Mục tiêu 2: Đánh giá tác động của CSTT với phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình Việt Nam thông qua chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 – 2021.
- Mục tiêu 3: Đề xuất hàm ý chính sách và khuyến nghị về điều hành CSTT với phân phối thu nhập hộ gia đình tại Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu
- Diễn biến điều hành CSTT của NHNN Việt Nam cùng với tổng quan về thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập khu vực hộ gia đình giai đoạn 1996 – 2021 như thế nào?
- Phản ứng của khu vực hộ gia đình đối với cú sốc chính sách tiền tệ như thế nào thông qua chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập giai đoạn 1996 – 2021?
- Hàm ý chính sách cho vấn đề điều hành chính sách tiền tệ hướng tới giảm bất bình đẳng thu nhập tại Việt Nam là gì?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam và phân phối thu nhập của khu vực hộ gia đình Việt Nam.
- Phạm vi không gian: Nền kinh tế Việt Nam.
- Phạm vi thời gian:
- Giai đoạn đánh giá tổng quan: 1996 – 2021 (phân tích hoạt động điều hành CSTT của NHNN, diễn biến thu nhập, chi tiêu và bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình).
- Giai đoạn thực nghiệm: 1996 – 2021 (lượng hóa các tác động vĩ mô của CSTT đối với khu vực hộ gia đình qua phân tích cú sốc lên chi tiêu tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập).
- Giai đoạn dự báo: 2022 – 2025 (dự báo tác động của CSTT đến lạm phát).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu quốc tế
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về mối quan hệ giữa CSTT và phân phối thu nhập/của cải được tác giả tổng hợp theo từng khu vực:
- Khu vực Châu Âu: Alves và Silva (2021) phân tích ba kênh truyền dẫn (thu nhập, danh mục đầu tư, thu nhập không đồng nhất) tại Eurozone giai đoạn 1999 – 2017, chỉ ra giá tài sản tăng làm tăng bất bình đẳng, trong khi giảm thất nghiệp giúp kìm chế bất bình đẳng. Hohberger và cộng sự (2020) cùng Guerello (2018) nghiên cứu CSTT truyền thống và nới lỏng định lượng (QE), ghi nhận cú sốc CSTT mở rộng làm giảm bất bình đẳng thu nhập. Lenza và Slacalek (2018) nhận thấy QE thu hẹp phân phối thu nhập nhờ tạo việc làm cho nhóm thu nhập thấp. Ampudia và cộng sự (2018) chỉ ra kênh thu nhập gián tiếp có tầm quan trọng vượt trội đối với hộ gia đình ít tài sản thanh khoản.
- Khu vực Mỹ: Albert và Gómez-Fernández (2018, 2021) chỉ ra cú sốc CSTT mở rộng làm tăng bất bình đẳng của cải trong dài hạn. Albert và cộng sự (2020) nhận thấy CSTT mở rộng không tác động đáng kể đến bất bình đẳng thu nhập nhưng làm tăng bất bình đẳng của cải qua kênh danh mục đầu tư. Doepke và cộng sự (2019) chứng minh thay đổi lãi suất danh nghĩa và lạm phát kỳ vọng tạo tác động phúc lợi không đồng nhất. Davtyan (2017) dùng mô hình VAR chỉ ra CSTT điều chỉnh làm giảm bất bình đẳng thu nhập.
- Các quốc gia khác: Mumtaz và Theophilopoulou (2020) tại Anh chỉ ra cú sốc mở rộng làm tăng bất bình đẳng của cải. Israel và Latsos (2020) cùng Lee (2020) nghiên cứu tại Nhật Bản; Kuncl và Ueberfeldt (2021) tại Canada; Zhang, Zhang và Zhu (2021) tại Trung Quốc ứng dụng mô hình NK-DSGE phân tích tác động của đại dịch COVID-19 đến tổng cầu và bất bình đẳng thu nhập.
- Khu vực ASEAN: Punzi (2020) khảo sát 8 nền kinh tế (bao gồm Việt Nam, Campuchia, Philippines, Thái Lan...) bằng mô hình VAR và DSGE, kết luận chính sách mở rộng có xu hướng làm giảm hệ số Gini, trong khi chính sách thắt chặt làm tăng chỉ số này.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Tác giả phân loại các nghiên cứu trong nước thành hai nhóm tiếp cận:
- Nhóm phân tích định tính và thống kê mô tả: Bùi Duy Hưng (2020), NEU-JICA (2020), Nguyễn Thị Hồng và Hồ Thị Diệu Linh (2020) khảo sát tác động của đại dịch và thực trạng áp dụng công cụ phi truyền thống (nới lỏng tín dụng nông nghiệp, bất động sản); Phạm Thanh Hà (2021a, 2021b) khái quát công tác điều hành CSTT phối hợp chính sách tài khóa; Đào Minh Thắng (2019) và Huỳnh Công Danh (2016) phân tích hiệu ứng tràn của CSTT quốc tế.
- Nhóm mô hình hóa định lượng:
- Dương Ngọc Mai Phương và cộng sự (2015), Tran Huu Tuyen và cộng sự (2020), Vũ Ngọc Hương và cộng sự (2019) ứng dụng mô hình kinh tế lượng đo lường phân phối thu nhập.
- Về mô hình DSGE: Vụ Dự báo Thống kê – NHNN (2013 – 2015, hợp tác với JICA; Bùi Thị Trang Dung & Nguyễn Thị Giang, 2015; Nguyễn Đức Trung, 2016) xây dựng mô hình DSGE nhỏ gồm 3-4 phương trình ước lượng bằng OLS. Nguyễn Đức Trung và Nguyễn Hoàng Chung (2018a, 2018b) phát triển lý thuyết DSGE cho kinh tế mở nhỏ. Nguyen Duc Trung và cộng sự (2019) mở rộng mô hình DSGE lên 11 phương trình hành vi và 1 phương trình đồng nhất thức ước lượng bằng kỹ thuật Bayes và lọc Kalman. Nguyen Van Phuong (2021) phát triển mô hình SOE-NK-DSGE với thói quen tiêu dùng và chuyển giá tỷ giá (ERPT). Nguyen và cộng sự (2022) ứng dụng DSGE ước lượng tác động của cú sốc COVID-19 đến điều hành CSTT.
| Nhóm nghiên cứu |
Đại diện tác giả tiêu biểu |
Phương pháp / Mô hình |
Phát hiện / Trọng tâm |
| Quốc tế |
Alves & Silva (2021); Guerello (2018); Lenza & Slacalek (2018); Albert & cs (2020); Punzi (2020); Zhang & cs (2021) |
VAR, DSGE, SVAR, BVAR |
Tác động phân phối không đồng nhất giữa các nước; CSTT mở rộng có xu hướng giảm bất bình đẳng thu nhập qua kênh việc làm nhưng tăng bất bình đẳng của cải qua giá tài sản. |
| Trong nước (Mô tả) |
Phạm Thanh Hà (2021a); Bùi Duy Hưng (2020); Nguyễn Thị Hồng & Hồ Thị Diệu Linh (2020); NEU-JICA (2020) |
Thống kê mô tả, khảo sát, phân tích định tính |
Đánh giá phản ứng chính sách trước COVID-19, nới lỏng tín dụng và các công cụ phi truyền thống. |
| Trong nước (Định lượng) |
Vụ DBTK - SBV (2015); Nguyễn Đức Trung & cs (2018b, 2019); Nguyen & cs (2022); Tran Huu Tuyen & cs (2020) |
OLS, VAR, DSGE (Bayes, Kalman filter) |
Xây dựng khung DSGE cho NHNN Việt Nam, phân tích cú sốc vĩ mô, dự báo lạm phát và sản lượng. |
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các mô hình DSGE xây dựng cho Việt Nam trước đây chủ yếu tập trung vào các biến số vĩ mô tổng hợp (GDP, lạm phát, tỷ giá, lãi suất) mà chưa tích hợp cấu trúc hành vi vi mô của khu vực hộ gia đình. Luận án giải quyết khoảng trống này bằng cách:
- Thiết lập mô hình DSGE 06 phương trình chính dành cho nền kinh tế nhỏ và mở, bổ sung phương trình hàm tiêu dùng của hộ gia đình và hàm cung tiền phù hợp thực tế điều hành của NHNN Việt Nam.
- Kết hợp ước lượng mô hình VAR chứa đồng thời hệ số Gini, chỉ số bất ổn thương mại thế giới (WTUI) và chỉ số bất ổn thế giới (WUI) trên chuỗi dữ liệu 1996 – 2021 kết hợp số liệu VHLSS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết nền tảng
1. Lý thuyết chính sách tiền tệ
- CSTT truyền thống: Định nghĩa theo Luật NHNN năm 2010 (Khoản 1, Điều 3). Các công cụ điều hành gồm: Dự trữ bắt buộc, Nghiệp vụ thị trường mở (OMO), Chính sách tái cấp vốn/chiết khấu, Khung lãi suất và Hạn mức tín dụng. Các kênh truyền dẫn truyền thống gồm: kênh lãi suất, kênh tín dụng, kênh tỷ giá hối đoái, kênh giá tài sản tài chính, kênh của cải và kênh chấp nhận rủi ro (Chu Khánh Lân & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019).
- CSTT phi truyền thống: Theo định nghĩa của Smaghi (2009) và Cecioni và cộng sự (2011), gồm 4 nhóm công cụ chính: Cung cấp thanh khoản (hoán đổi tài sản kém lỏng, cho vay tổ chức mục tiêu, hoán đổi tiền tệ, nới lỏng hạn mức/tài sản bảo đảm), Mua tài sản quy mô lớn (LSAP - QE, qualitative easing, credit easing), Định hướng chính sách (forward guidance: mở, theo thời gian, theo điều kiện), và Lãi suất âm. Cơ chế truyền dẫn phi truyền thống hoạt động qua kênh cân đối danh mục đầu tư (portfolio balance channel) và kênh phát tín hiệu (signalling channel).
2. Lý thuyết phân phối thu nhập và thước đo bất bình đẳng
- Lý thuyết phân phối thu nhập: Khung lý thuyết của Keynes (1936) về hàm tiêu dùng, xu hướng tiêu dùng biên và tiết kiệm; Quan điểm phân phối theo sở hữu nguồn lực; Thuyết vị lợi (tối đa hóa phúc lợi xã hội khi độ thỏa dụng biên bằng nhau: $MU_A = MU_B$); Chủ nghĩa bình quân (Bình quân đồng đều và Thuyết cực đại thấp nhất của Rawls); Các quan điểm không dựa trên độ thỏa dụng cá nhân (đảm bảo mức sống tối thiểu qua an sinh xã hội).
- Thước đo bất bình đẳng:
- Đường cong Lorenz: Biểu diễn quan hệ phần trăm dân số cộng dồn và phần trăm thu nhập cộng dồn qua 4 bước thiết lập; đường chéo $0A$ thể hiện bình đẳng tuyệt đối, đường $0AO'$ thể hiện bất bình đẳng tuyệt đối.
- Hệ số Gini ($G$): Tính bằng tỷ số giữa diện tích $B$ và nửa hình vuông chứa đường Lorenz:
$$G = \frac{B}{B + C}$$
Giá trị nằm trong khoảng $0 \le G \le 1$. Thực tế dao động $0,2 - 0,35$ (tương đối công bằng) và $0,5 - 0,7$ (bất bình đẳng cao).
- Các chỉ số khác: Chỉ số Theil-L, tỷ số Kuznets, tỷ trọng thu nhập của $x%$ dân số nghèo nhất.
3. Kênh tác động phân phối của CSTT đến hộ gia đình
CSTT tác động đến cá nhân/hộ gia đình qua ba hiệu ứng: tác động thu nhập (income effect), tác động của cải (wealth effect) và tác động thay thế (substitution effect) (Cabote & Fernandez, 2020; Colciago & cộng sự, 2019). Theo Coibion và cộng sự (2012, 2017) và Punzi (2020), 5 kênh phân phối cụ thể gồm:
- Kênh thành phần thu nhập: Nhóm thu nhập thấp phụ thuộc vào tiền lương lao động, nhóm thu nhập cao hưởng lợi từ lợi nhuận và thu nhập vốn.
- Kênh phân khúc tài chính: Phân bổ lại thu nhập có lợi cho các chủ thể trực tiếp tham gia thị trường tài chính.
- Kênh danh mục đầu tư: Hộ gia đình thu nhập thấp nắm giữ chủ yếu tiền mặt; hộ thu nhập cao nắm giữ nhiều chứng khoán và tài sản tài chính.
- Kênh phân phối lại qua lạm phát (kênh người đi vay - người tiết kiệm).
- Kênh không đồng nhất về thu nhập/việc làm.
4. Khung phân tích mô hình DSGE và VAR
- Mô hình DSGE theo trường phái New Keynesian: Dựa trên phê phán Lucas (1970) và lý thuyết chu kỳ kinh doanh thực (RBC), bổ sung giá cả cứng nhắc (Calvo, 1983 hoặc Rotemberg) và kỳ vọng hợp lý nhìn về tương lai (forward-looking). Cấu trúc cơ bản gồm 3 phương trình:
- Phương trình đường IS động:
$$y_t = E_t y_{t+1} - \frac{1}{\sigma} (\hat{i}t - E_t \hat{\pi}{t+1} - r_t^n)$$
- Phương trình đường cong Phillips New Keynesian:
$$\hat{\pi}t = \beta E_t \hat{\pi}{t+1} + \kappa y_t + \varepsilon_t$$
- Phương trình lãi suất theo quy tắc Taylor (1993).
- Tham khảo mô hình DSGE của các NHTW: ToTEM (Canada), BEQM (Anh), MAS (Chile), MEGAD (Peru), NAWM (ECB), NEMO (Na Uy), RAMSES (Thụy Điển), SIGMA (Fed).
- Mô hình Vector Autoregressive (VAR): Dạng tổng quát $VAR(p)$ biến đổi về dạng ma trận cấp 1 $VAR(1)$:
$$Y_t^* = A Y_{t-1}^* + S_t + \varepsilon_t$$
(với $Y_t$ gồm $k$ biến dừng, ma trận hệ số $A$, véc tơ nhiễu trắng $u_t$ và thành phần xác định $s_t$).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
- Phương pháp định tính và thống kê mô tả: Phân tích tài liệu báo cáo của NHNN, số liệu Khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) qua các thời kỳ để đánh giá thực trạng thu nhập, chi tiêu và phân hóa giàu nghèo.
- Phương pháp định lượng:
- Thiết lập và ước lượng mô hình DSGE 06 phương trình cấu trúc cho nền kinh tế nhỏ và mở của Việt Nam, bổ sung phương trình hàm cung tiền và hàm tiêu dùng hộ gia đình bằng kỹ thuật lọc Kalman và suy nghiệm Bayes.
- Thiết lập mô hình VAR bổ sung biến phân phối thu nhập (Gini) và các biến ngoại sinh bất ổn vĩ mô toàn cầu (WTUI, WUI).
- Nguồn dữ liệu nghiên cứu (giai đoạn 1996 – 2021):
- Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV).
- Tổng cục Thống kê (GSO - dữ liệu VHLSS và tài khoản quốc gia).
- Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF).
- Ngân hàng Thế giới (WB).
- Trung tâm Hội nhập Khu vực Châu Á thuộc ADB (ARIC).
- Cục Dự trữ Liên bang Mỹ chi nhánh St. Louis (ST. Louis FED).
- Cơ sở dữ liệu chuẩn hóa về bất bình đẳng thu nhập thế giới (SWIID).
- Cơ sở dữ liệu bất ổn thế giới (WUI).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 1 xác định tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn trong quản lý kinh tế vĩ mô và sự thiếu hụt các nghiên cứu thực nghiệm định lượng về tác động của CSTT đến khu vực hộ gia đình tại Việt Nam. Tác giả trình bày mục tiêu tổng quát, 03 mục tiêu cụ thể, 03 câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu (CSTT của NHNN và phân phối thu nhập hộ gia đình) cùng phạm vi không gian (Việt Nam) và thời gian (1996 – 2021). Chương này cũng nêu rõ ý nghĩa khoa học, thực tiễn và chính sách của đề tài, đồng thời mô tả thiết kế nghiên cứu và bố cục 5 chương của luận án.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ, phân phối thu nhập và mô hình nghiên cứu
Chương 2 hệ thống hóa cơ sở lý thuyết toàn diện làm nền tảng cho luận án:
- Phân tích chi tiết khái niệm, công cụ và các kênh truyền dẫn của CSTT truyền thống và phi truyền thống.
- Làm rõ các lý thuyết phân phối thu nhập (Keynes, phân phối theo nguồn lực, thuyết vị lợi, thuyết Rawls, quan điểm phi thỏa dụng) và các công cụ đo lường bất bình đẳng (đường cong Lorenz, công thức tính hệ số Gini $G = B / (B+C)$, Theil-L, Kuznets).
- Phân tích 3 hiệu ứng vi mô (thu nhập, của cải, thay thế) và 5 kênh phân phối của CSTT đến hộ gia đình theo Coibion và cộng sự (2012).
- Trình bày cơ sở lý thuyết mô hình DSGE trường phái New Keynesian với bộ ba cân bằng (IS động, Phillips curve, quy tắc Taylor) và mô hình VAR rút gọn $VAR(p) \to VAR(1)$.
- Điểm luận có hệ thống các công trình nghiên cứu quốc tế (Châu Âu, Mỹ, Anh, Nhật Bản, Canada, Trung Quốc, ASEAN) và các công trình tại Việt Nam (nghiên cứu của Vụ Dự báo Thống kê, các mô hình DSGE của Nguyễn Đức Trung và cộng sự).
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 tập trung trình bày chi tiết quy trình xây dựng mô hình thực nghiệm:
- Xây dựng cấu trúc mô hình DSGE gồm 06 phương trình chính đại diện cho nền kinh tế mở nhỏ Việt Nam, trong đó phát triển mở rộng phương trình hàm tiêu dùng của khu vực hộ gia đình và phương trình hàm cung tiền bên cạnh các phương trình đường IS, đường cong Phillips, tỷ giá và quy tắc điều hành tiền tệ.
- Mô tả kỹ thuật xử lý dữ liệu chuỗi thời gian, phương pháp hiệu chỉnh tham số (calibration), kỹ thuật lọc Kalman và ước lượng tham số theo phương pháp Bayes.
- Thiết lập cấu trúc mô hình VAR kiểm định bổ sung kết hợp chuỗi hệ số Gini từ SWIID, chỉ số bất ổn thương mại thế giới (WTUI) và chỉ số bất ổn thế giới (WUI).
- Mô tả quy trình thu thập và đồng bộ hóa dữ liệu từ các nguồn SBV, GSO (VHLSS), IMF, WB, ADB-ARIC, ST. Louis FED, WUI giai đoạn 1996 – 2021.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 trình bày các kết quả phân tích thực nghiệm và thảo luận học thuật:
- Phân tích tổng quan thực trạng: Đánh giá diễn biến điều hành CSTT của NHNN (sử dụng lãi suất, cung tiền, tái cấp vốn, tỷ giá) song song với phân tích biến động thu nhập bình quân, cơ cấu chi tiêu và mức độ bất bình đẳng thu nhập hộ gia đình qua các kỳ khảo sát VHLSS giai đoạn 1996 – 2021.
- Kết quả ước lượng mô hình DSGE: Trình bày các giá trị tham số tiên nghiệm (prior) và hậu nghiệm (posterior). Đánh giá hàm phản ứng xung (IRF) của các biến số kinh tế vĩ mô và vi mô khu vực hộ gia đình trước cú sốc CSTT. Phân tích cho thấy CSTT thắt chặt/mở rộng tác động trực tiếp đến tiêu dùng hộ gia đình trong ngắn hạn.
- Kết quả mô hình VAR: Lượng hóa phản ứng của hệ số Gini trước các cú sốc CSTT trong bối cảnh có sự xuất hiện của các yếu tố bất ổn thương mại và bất ổn kinh tế toàn cầu (WTUI, WUI).
- Kết quả dự báo: Đưa ra kịch bản dự báo tác động của điều hành CSTT đến diễn biến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2022 – 2025 dựa trên kết quả ước lượng từ mô hình DSGE.
Chương 5: Kết luận, hàm ý chính sách
Chương 5 tổng kết các kết quả nghiên cứu chính của luận án, khẳng định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực nghiệm; đồng thời đề xuất hệ thống khuyến nghị, hàm ý chính sách đối với NHNN và các cơ quan quản lý vĩ mô nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành CSTT, nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách và hướng tới mục tiêu giảm thiểu bất bình đẳng thu nhập cho khu vực hộ gia đình.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án phát triển khung lý thuyết phân tích tác động phân phối của CSTT đối với khu vực hộ gia đình áp dụng cho điều kiện đặc thù của một nền kinh tế đang phát triển, nhỏ và có độ mở lớn như Việt Nam.
- Luận án đề xuất mô hình DSGE gồm 06 phương trình chính phù hợp cho nền kinh tế Việt Nam, kế thừa các mô hình DSGE thử nghiệm trước đó của NHNN nhưng phát triển bổ sung phương trình hàm cung tiền và phương trình hàm tiêu dùng của khu vực hộ gia đình. Điều này khắc phục hạn chế thuần túy vĩ mô của các mô hình trước, gắn kết hành vi vi mô của hộ gia đình vào cấu trúc cân bằng tổng thể.
- Luận án thực nghiệm đồng bộ mô hình VAR tích hợp hệ số bất bình đẳng thu nhập Gini cùng các chỉ số bất ổn vĩ mô quốc tế (WUI, WTUI), cung cấp bằng chứng định lượng về phản ứng của phân phối thu nhập trước cú sốc chính sách tiền tệ.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và chính sách
- Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện giai đoạn 1996 – 2021 kết hợp giữa số liệu điều hành CSTT của NHNN với dữ liệu khảo sát mức sống dân cư (VHLSS), chỉ ra sự biến động của lãi suất và cung tiền có tác động rõ rệt làm thay đổi tiêu dùng và mức độ phân hóa thu nhập hộ gia đình trong ngắn hạn.
- Cung cấp công cụ mô hình hóa định lượng (mô hình DSGE 6 phương trình) có thể chuyển giao và ứng dụng trong công tác phân tích, mô phỏng phản ứng chính sách và dự báo kinh tế vĩ mô tại NHNN Việt Nam.
- Luận án đưa ra kết quả dự báo định lượng về tác động của CSTT đến lạm phát tại Việt Nam giai đoạn 2022 – 2025.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đổi mới khuôn khổ điều hành CSTT: Đẩy mạnh lộ trình chuyển đổi từ điều hành theo khối lượng sang điều hành theo giá theo tinh thần Quyết định 986/QĐ-TTg, tăng cường tính minh bạch và hiệu lực của các công cụ gián tiếp (nghiệp vụ thị trường mở OMO).
- Lồng ghép mục tiêu hộ gia đình trong giám sát vĩ mô: Bên cạnh các mục tiêu truyền thống về kiểm soát lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền theo Luật NHNN 2010, cơ quan điều hành cần theo dõi sát sao tác động phân phối của lãi suất và tín dụng đến tiêu dùng và mức sống của các tầng lớp dân cư, đặc biệt là nhóm thu nhập thấp và khu vực phi chính thức (theo Quyết định 146/QĐ-TTg).
- Thúc đẩy tài chính toàn diện: Thực hiện các giải pháp mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức cho hộ gia đình theo Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia, nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương của hộ gia đình trước các cú sốc kinh tế vĩ mô.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của nghiên cứu
- Do đặc thù thống kê tại Việt Nam, khu vực kinh tế hộ gia đình chứa đựng tỷ trọng lớn các hoạt động kinh tế chưa được quan sát (kinh tế ngầm, phi chính thức, tự sản tự tiêu), dẫn đến số liệu thống kê định kỳ gặp khó khăn trong việc phản ánh trọn vẹn mọi giao dịch kinh tế.
- Dữ liệu khảo sát mức sống dân cư (VHLSS) được thu thập theo định kỳ (thường 2 năm một lần), trong khi các biến số tiền tệ vận động theo tần suất tháng/quý, đòi hỏi phải thực hiện các kỹ thuật nội suy và chuẩn hóa dữ liệu.
- Cấu trúc mô hình DSGE 6 phương trình dù đã bổ sung hàm tiêu dùng và hàm cung tiền nhưng vẫn ở mức độ giản lược hóa, chưa tích hợp đầy đủ chi tiết về ma sát tài chính vi mô (financial frictions), phân khúc thị trường lao động phức tạp và các tương tác đa chiều của chính sách tài khóa.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng mô hình DSGE bằng cách đưa thêm khu vực ngân hàng trung gian tài chính chi tiết, chi phí ma sát tài chính và tương tác giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa.
- Phân tầng chi tiết hơn khu vực hộ gia đình thành các nhóm ngũ phân vị thu nhập khác nhau trong cấu trúc mô hình DSGE để đo lường chính xác tác động phân phối đến từng nhóm dân cư cụ thể.
- Ứng dụng các nguồn dữ liệu vi mô tần suất cao khi cơ sở dữ liệu quốc gia về thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát được hoàn thiện theo Quyết định 146/QĐ-TTg.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Kinh tế, Tài chính - Ngân hàng: Tham khảo phương pháp xây dựng, hiệu chỉnh và ước lượng mô hình DSGE bằng kỹ thuật Bayes và lọc Kalman cho nền kinh tế nhỏ và mở; phương pháp thiết lập mô hình VAR tích hợp biến bất bình đẳng thu nhập và các chỉ số bất ổn thế giới.
- Các nhà hoạch định chính sách tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Tham khảo khung mô hình DSGE 06 phương trình cấu trúc phục vụ phân tích truyền dẫn chính sách, mô phỏng các cú sốc tiền tệ và nâng cao năng lực dự báo lạm phát.
- Các cơ quan quản lý kinh tế vĩ mô (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính): Sử dụng các bằng chứng thực nghiệm về phản ứng tiêu dùng và phân hóa thu nhập của hộ gia đình để xây dựng các chính sách an sinh, chính sách tài chính toàn diện và giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế hộ gia đình.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng mô hình DSGE với bao nhiêu phương trình và có điểm gì khác biệt so với các mô hình DSGE trước đây tại Việt Nam?
Luận án đề xuất mô hình DSGE gồm 06 phương trình chính, được thiết kế phù hợp cho nền kinh tế nhỏ và mở của Việt Nam. Điểm khác biệt cốt lõi là luận án phát triển bổ sung phương trình hàm cung tiền (phù hợp với thực tiễn điều hành kết hợp của NHNN) và phương trình hàm tiêu dùng của khu vực hộ gia đình, giúp lượng hóa phản ứng của khu vực hộ gia đình trước các cú sốc tiền tệ thay vì chỉ xem xét các biến số vĩ mô tổng hợp như các mô hình 3-4 phương trình trước đó.
2. Dữ liệu thực nghiệm của luận án được thu thập trong giai đoạn nào và từ những nguồn nào?
Dữ liệu thực nghiệm được thu thập cho giai đoạn 1996 – 2021 từ các nguồn trong nước và quốc tế gồm: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (SBV), Tổng cục Thống kê (GSO - dữ liệu tài khoản quốc gia và khảo sát VHLSS), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Trung tâm Hội nhập Khu vực Châu Á (ARIC - ADB), ST. Louis FED, Cơ sở dữ liệu bất bình đẳng thu nhập thế giới chuẩn hóa (SWIID) và Cơ sở dữ liệu bất ổn thế giới (WUI).
3. Theo cơ sở lý thuyết mà luận án tổng hợp, CSTT tác động đến phân phối thu nhập hộ gia đình qua những kênh nào?
CSTT tác động đến hộ gia đình qua 3 hiệu ứng cơ bản (tác động thu nhập, tác động của cải, tác động thay thế) và được truyền dẫn qua 5 kênh phân phối chính (theo Coibion và cộng sự, 2012): kênh thành phần thu nhập, kênh phân khúc tài chính, kênh danh mục đầu tư, kênh phân phối lại qua lạm phát (người đi vay - người tiết kiệm), và kênh không đồng nhất về thu nhập/việc làm.
4. Luận án sử dụng các văn bản định hướng chính sách vĩ mô nào của Chính phủ làm cơ sở thực tiễn?
Luận án căn cứ vào các văn bản chính: Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 (Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến 2025, định hướng 2030), Quyết định số 146/QĐ-TTg ngày 01/02/2019 (Đề án Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát), Quyết định ngày 22/01/2020 (Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đến 2025, định hướng 2030) và Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Triệu Kim Lanh đã giải quyết vấn đề đánh giá tác động của chính sách tiền tệ đến phân phối thu nhập khu vực hộ gia đình tại Việt Nam giai đoạn 1996 – 2021. Bằng việc phát triển mô hình cấu trúc DSGE 06 phương trình kết hợp mô hình VAR mở rộng với hệ số Gini và các chỉ số bất ổn thế giới (WUI, WTUI), công trình đã cung cấp các bằng chứng thực nghiệm về phản ứng của tiêu dùng và bất bình đẳng thu nhập trước các cú sốc tiền tệ. Kết quả nghiên cứu và dự báo lạm phát giai đoạn 2022 – 2025 cung cấp cơ sở khoa học hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước hoàn thiện công tác phân tích dự báo và hoạch định chính sách tiền tệ hướng tới tăng trưởng bền vững và giảm thiểu bất bình đẳng xã hội.