Chương 1 luận án trình bày tính cấp thiết của đề tài, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Ngoài ra, luận án cũng chỉ rõ mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nhằm làm người đọc nắm bắt được tinh thần chung của luận án. Luận án cũng đưa ra bố cục và thiết kế nghiên cứu để mô phỏng tiến trình nội dung mà luận án sẽ thực hiện. 11 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ, PHÂN PHỐI THU NHẬP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ truyền thống 2. Khái niệm chính sách tiền tệ truyền thống Chính sách tiền tệ (CSTT) là tổng hòa những phương thức mà ngân hàng trung ương thông qua các hoạt động của mình tác động đến khối lượng tiền trong lưu thông, nhằm phục vụ cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước trong một thời kỳ nhất định. Nó là một bộ phận quan trọng trong hệ thống các chính sách kinh tế - tài chính vĩ mô của chính phủ. CSTT là một bộ phận của chính sách kinh tế tài chính của một quốc gia, là tổng thể các biện pháp của nhà nước pháp quyền (Dương Thị Bình Minh & cộng sự, 2004; Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019).
Tại Việt Nam, “CSTT quốc gia là các quyết định về tiền tệ ở tầm quốc gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bao gồm quyết định mục tiêu ổn định giá trị đồng tiền biểu hiện bằng chỉ tiêu lạm phát, quyết định sử dụng các công cụ và biện pháp để thực hiện mục tiêu đề ra” (Luật NHNN, 2010) - Khoản 1, Điều 3. Các công cụ của chính sách tiền tệ truyền thống Các ngân hàng trung ương điều hành CSTT thông qua các công cụ và các biện pháp của mình từng thời kỳ nhằm để đạt được mục tiêu đã đề ra. Mục tiêu cuối cùng của các NHTW cơ bản đều là hướng tới ổn định giá trị đồng tiền, tăng trưởng kinh tế, công ăn việc làm cao, ổn định các thị trường. Để đạt được các mục tiêu đó, NHTW sẽ điều hành CSTT thông qua các công cụ của mình lần lượt đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian và hướng tới mục tiêu cuối cùng (Dương Thị Bình Minh & cộng sự, 2004; Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019).
Các công cụ điều hành CSTT của NHTW bao gồm: - Dự trữ bắt buộc (required reserve) là một phần vốn huy động tiền gửi mà các tổ chức tín dụng bắt buộc phải dự trữ theo luật định. - Nghiệp vụ thị trường mở (open market operations): là công cụ để NHTW thực hiện việc cung ứng và điều hòa khối lượng tiền tệ thông qua nghiệp vụ mua hoặc bán các loại công trái, trái phiếu kho bạc, hay các chứng thư tài sản khác. Đây là công cụ CSTT quan trọng nhất 12 bởi vì những nghiệp vụ này là yếu tố quyết định quan trọng nhất đối với những thay đổi trong lãi suất (interest rate) và cơ số tiền tệ (monetary base), và là nguồn chính gây nên những biến động trong cung ứng tiền tệ (money supply). Việc mua trên thị trường mở làm tăng dự trữ (reserves) và cơ số tiền tệ, do đó tăng cung ứng tiền tệ và làm giảm lãi suất ngắn hạn.
Còn việc bán trên thị trường mở thì thu hẹp dự trữ và cơ số tiền tệ, làm giảm cung ứng tiền tệ và làm tăng lãi suất ngắn hạn. - Chính sách chiết khấu (discount window) – tái cấp vốn (refinaning): là hình thức cấp tín dụng có đảm bảo của NHTW nhằm cung ứng vốn ngắn hạn và phương tiện thanh toán cho ngân hàng thương mại. - Quy định khung lãi suất (policy rate framework): là biện pháp quản lý hành chính về mặt lãi suất của NHTW đối với các ngân hàng thương mại. NHTW sẽ quy định khung lãi suất cho từng đối tượng, ngành nghề, khu vực kinh tế, … cho mỗi món vay hay loại tiền gửi cụ thể cho hệ thống ngân hàng và các ngân hàng phải kinh doanh dựa trên khung lãi suất đó.
- Hạn mức tín dụng (Credit): là giới hạn tối đa khối lượng tín dụng mà các ngân hàng thương mại được cung cấp cho nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định. Tại Việt Nam, “NHNN quyết định việc sử dụng công cụ thực hiện CSTT quốc gia, bao gồm tái cấp vốn, lãi suất, tỷ giá hối đoái, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ, biện pháp khác theo quy định của Chính phủ linh hoạt và tuỳ từng thời kỳ” (Luật NHNN, 2010). Truyền dẫn của chính sách tiền tệ truyền thống Để đạt được các mục tiêu đã định, nhà hoạch định chính sách sẽ sử dụng các công cụ cần thiết, tuy nhiên, cả lý thuyết và thực tiễn đều chỉ rõ rằng phải mất một thời gian đáng kể thì các công cụ của CSTT mới tác động đến nền kinh tế với các mục tiêu mong muốn và quá trình này trước hết tác động đến mục tiêu hoạt động, mục tiêu trung gian rồi mới đến mục tiêu cuối cùng, dẫn đến sự thay đổi trong sản lượng, việc làm, giá cả và lạm phát. Quá trình này gọi là cơ chế truyền dẫn CSTT (Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017).
Mục tiêu của CSTT là để tạo ra những thay đổi trong tổng chi tiêu của nền kinh tế (bao gồm chi tiêu tiêu dùng và chi đầu tư), từ đó dẫn đến những thay đổi trong tổng sản lượng, mức giá và lạm phát, việc làm và thất nghiệp. Truyền dẫn CSTT cho thấy sự thay đổi trong tổng hợp chi tiêu thông qua một loạt các kênh, các kênh này dẫn truyền những thay đổi trong tổng hợp chi và từ đó đạt mục tiêu cuối cùng của CSTT. Những kênh dẫn truyền chính bao gồm: kênh lãi suất, kênh tín 13 dụng, kênh tỷ giá hối đoái, kênh giá tài sản tài chính. Ngoài ra, còn có thể có các kênh dẫn truyền khác như kênh của cải, kênh chấp nhận rủi ro (Chu Khánh Lân & cộng sự, 2017; Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019) (Hình 2.
- Kênh lãi suất: lãi suất được nhìn nhận ở hai góc độ khi nói về vai trò truyền tải những thay đổi trong quyết sách điều hành CSTT. Thứ nhất, lãi suất là công cụ điều hành CSTT, thường là lãi suất chiết khấu, tái chiết khấu hoặc lãi suất tái cấp vốn của NHTW khi cho các NHTM vay. Thứ hai, lãi suất là kênh truyền tải thông điệp của CSTT thông qua các công cụ khác như dự trữ bắt buộc, kênh thị trường mở…. Dù là ở góc độ nào, sự thay đổi của lãi suất sau đó cũng tạo ra những thay đổi trong chi phí đầu tư hàng hoá vốn của khu vực kinh doanh và chi phí tiêu dùng đối với hàng hoá lâu bền của khu vực hộ gia đình.
Những thay đổi trong tiêu dùng và đầu tư làm tổng hợp chi thay đổi và điều này sẽ hoặc là kích thích hoặc hạn chế kinh tế vĩ mô tổng thể. Cơ chế truyền dẫn này được thể hiện như sau: thắt chặt tiền tệ → lãi suất tăng → đầu tư giảm → sản lượng giảm và ngược lại (Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019). - Kênh tín dụng: kênh này phản ánh những thay đổi trong điều hành CSTT tác động đến các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô thông qua việc làm thay đổi mức độ và sự sẵn sàng cho vay của NHTM. Quá trình truyền dẫn CSTT qua kênh tín dụng như sau: sự thay đổi trong CSTT làm thay đổi số lượng dự trữ trong hệ thống ngân hàng1 dẫn đến sự thay đổi trong sự sẵn sàng cho vay của ngân hàng.
Quá trình tạo tiền xảy ra khi thay đổi cho vay được hỗ trợ thông qua các khoản tiền gửi, kết quả là các khoản cho vay được mở rộng đến các lĩnh vực kinh doanh, ảnh hưởng đến chi phí đầu tư2, dẫn đến ảnh hưởng tiếp tục thông qua tổng chi, đến tổng sản phẩm trong nước và các chỉ tiêu còn lại của kinh tế vĩ mô (Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019). 1 CSTT mở rộng làm tăng dự trữ ngân hàng và ngược lại. 2 Cho vay nhiều hơn có nghĩa là chi phí đầu tư lớn hơn và ngược lại.1: Truyền dẫn chính sách tiền tệ trong điều kiện bình thường Nguồn: Chu Khánh Lân & cộng sự (2017) - Kênh tỷ giá hối đoái : nền kinh tế ngày càng hội nhập toàn cầu thì kênh tỷ giá ngày càng trở nên quan trọng trong điều hành CSTT. CSTT thay đổi gây ra sự thay đổi của lãi suất và ảnh hưởng đến dòng chảy của vốn tài chính giữa các quốc gia, sau đó ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái, tác động đến giá tương đối của hàng nhập khẩu và xuất khẩu.
Cơ chế này được thể hiện như sau : thắt chặt tiền tệ → đồng nội tệ lên giá → xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng → xuất khẩu ròng giảm → sản lượng giảm và ngược lại (Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019). - Kênh giá tài sản tài chính: bằng cách tác động làm thay đổi giá các tài sản tài chính của nền kinh tế, CSTT gây ra một sự điều chỉnh trong danh mục tài sản của người tiêu dùng. Cụ thể là, CSTT thắt chặt làm giảm giá các tài sản tài chính khiến cho các hộ gia đình giảm kỳ vọng về thu nhập và điều chỉnh tiêu dùng. Ngoài ra, nó cũng ảnh hưởng đến giá trị tài sản mà công ty đang nắm giữ, làm giảm giá trị thị trường của công ty, làm tăng tỷ lệ nợ/tài sản, khiến các công ty gặp khó khăn trong thanh toán các khoản nợ.
Các hộ gia đình và công ty cố gắng phục hồi bảng tổng kết tài sản của mình thông qua cắt giảm chi tiêu và vay mượn, dẫn 15 tới đầu tư và tiêu dùng đều giảm, và cuối cùng là sản lượng của nền kinh tế giảm (Lê Thị Tuyết Hoa & cộng sự, 2017; Mishkin, 2019). Cơ sở lý thuyết về chính sách tiền tệ phi truyền thống 2. Khái niệm chính sách tiền tệ phi truyền thống Chính sách tiền tệ (CSTT) phi truyền thống được các nước sử dụng từ đầu thế kỷ 20 nhằm mục tiêu tác động trực tiếp đến chi phí cũng như tác động vào các nguồn vốn sẵn có từ bên ngoài đến các chủ thể trong nền kinh tế. CSTT phi truyền thống thường gắn với những cuộc khủng hoảng kinh tế lớn, trong lúc các công cụ của CSTT truyền thống không thể phát huy hiệu quả như kỳ vọng hoặc đã bị vô hiệu (Nguyễn Trọng Tài, 2018; Mishkin, 2019).