Luận văn: Quản trị vốn kinh doanh tại Công ty CP Công nghệ ACM Hà Nội

Nghiên cứu chuyên sâu về quản trị vốn kinh doanh trong doanh nghiệp tại ACM Hà Nội. Phân tích vai trò và ứng dụng trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp.

Trường đại học

Học viện Tài chính

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn tốt nghiệp

2021

132
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản trị vốn kinh doanh

Quản trị vốn kinh doanh là một phần quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp. Nó liên quan đến việc quản lý và phân bổ vốn kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu kinh doanh. Quản trị vốn kinh doanh bao gồm việc quản lý vốn lưu động, vốn cố định và vốn đầu tư.

1.1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh là số tiền cần thiết để doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh. Nó bao gồm vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động là số tiền cần thiết để doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh hàng ngày, trong khi vốn cố định là số tiền cần thiết để doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cố định.

1.2. Thành phần của vốn kinh doanh

Vốn kinh doanh bao gồm vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động bao gồm tiền mặt, hàng hóa, và các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian ngắn. Vốn cố định bao gồm tài sản cố định như nhà xưởng, máy móc, và thiết bị.

II. Phân tích thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội

Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ. Để phân tích thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại công ty này, cần xem xét các chỉ tiêu tài chính như vốn lưu động, vốn cố định, và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

2.1. Tình hình vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của công ty

Tình hình vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu tài chính như vốn lưu động, vốn cố định, và nguồn vốn kinh doanh.

2.2. Thực trạng quản trị sử dụng vốn kinh doanh tại công ty

Thực trạng quản trị sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội có thể được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh, và tốc độ luân chuyển vốn kinh doanh.

III. Giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội

Để tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội, cần thực hiện các giải pháp như tăng cường quản lý vốn lưu động, đầu tư vào tài sản cố định, và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

3.1. Tăng cường quản lý vốn lưu động

Tăng cường quản lý vốn lưu động có thể được thực hiện thông qua việc quản lý hàng hóa, quản lý tiền mặt, và quản lý các tài sản khác có thể chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian ngắn.

3.2. Đầu tư vào tài sản cố định

Đầu tư vào tài sản cố định có thể giúp Công ty Cổ phần Công nghệ ACM Hà Nội tăng cường năng lực sản xuất và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

IV. Kết luận và ứng dụng

Quản trị vốn kinh doanh là một phần quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp. Để tăng cường quản trị vốn kinh doanh, cần thực hiện các giải pháp như tăng cường quản lý vốn lưu động, đầu tư vào tài sản cố định, và cải thiện hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh.

4.1. Kết luận

Quản trị vốn kinh doanh là một phần quan trọng của quản trị tài chính doanh nghiệp. Nó liên quan đến việc quản lý và phân bổ vốn kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được mục tiêu kinh doanh.

4.2. Ứng dụng

Các giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh có thể được ứng dụng tại các doanh nghiệp khác trong lĩnh vực công nghệ và các lĩnh vực khác.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/05/2026
Quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần công nghệ acm hà nội luận văn tốt nghiệp chuyên ngành tài chính doanh nghiệp

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của DN 1.1 Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh 1.1 Khái niệm về vốn kinh doanh Bất kỳ một DN nào muốn hoạt động sản xuất kinh doanh thì điều đầu tiên là phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để thực hiện các khoản đầu tư ban đầu như đầu tư vào máy móc thiết bị, nguyên vật liệu, trả công cho người lao động và các chi phí khác. Từ đó doanh nghiệp mới có thể đi vào sản xuất kinh doanh và tăng trưởng. Đó chính là vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Đó chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận. Vốn kinh doanh không ngừng vận động, chuyển hóa hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Quá trình này diễn ra liên tục, thường xuyên lặp lại sau mỗi chu kỳ kinh doanh và được gọi là quá trình chu chuyển vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Quá trình này diễn ra nhanh hay chậm phụ thuộc vào các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của từng ngành nghề và trình độ tổ chức sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra đời của DN mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết định trong quá trình hoạt SV: Quách Thị Hồng 5 Lớp: CQ55/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính động và phát triển của DN. Để tổ chức, quản lý, sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả thì trước tiên phải hiểu rõ về các đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh.2 Các đặc trưng cơ bản của vốn kinh doanh Vốn được biểu hiện bằng tiền của các tài sản: Có nghĩa là vốn phải đại diện cho một lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình như nhà xưởng, đất đai, thiết bị, nguyên liệu, chất xám, thông tin, vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền phát minh sáng chế…Mà doanh nghiệp huy động, sử dụng vào kinh doanh. Vốn kinh doanh được coi là một loại hàng hóa đặc biệt: Khác với các loại hàng hóa thông thường, các doanh nghiệp không thể mua bán quyền sở hữu vốn mà chỉ có thể mua, bán quyền sử dụng vốn kinh doanh trên thị trường tài chính.

Người mua quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định phải trả cho người sở hữu một khoản tiền được gọi là lãi. Lãi suất chính là giá phải trả để có quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Lãi suất cũng tuân theo quy luật cung cầu của thị trường. Vốn kinh doanh có giá trị về mặt thời gian: Do tác động của các yếu tố khả năng sinh lời và rủi ro nên vốn kinh doanh luôn có giá trị thời gian.

Một đồng vốn ngày hôm nay có giá trị khác với một đồng vốn kinh doanh trong tương lai và ngược lại. Vốn phải được tích tụ tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy tác dụng. Nghĩa là để tiến hành bất kỳ hoạt động SXKD nào cũng đều cần phải có một lượng vốn tối thiểu nhất định. Trong quá trình SXKD các DN không chỉ khai thác tiềm năng về vốn sẵn có mà mà còn phải tìm cách thu hút vốn, huy động thêm vốn đầu tư cho hoạt động SXKD.

Vốn luôn vận động vì mục tiêu sinh lời: Nếu coi hình thái khởi đầu của vốn là tiền thì sau một quá trình vận động vốn có thể biến đổi qua các hình thái vật chất khác nhau, nhưng kết thúc chu kỳ vận động vốn lại trở lại trạng thái SV: Quách Thị Hồng 6 Lớp: CQ55/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính ban đầu là tiền. Theo quy luật, để doanh nghiệp tồn tại và phát triển thì lượng tiền này phải lớn hơn lượng tiền mà doanh nghiệp bỏ ra ban đầu, có nghĩa là doanh nghiệp phải có lợi nhuận. Vốn phải gắn liền với chủ sở hữu và phải được quản lý chặt chẽ. Tùy từng loại hình DN mà người sở hữu vốn có đồng thời là người sử dụng vốn hay không.

Tuy nhiên, trong trường hợp nào thì vốn cũng gắn với một chủ sở hữu nhất định và có chi phí sử dụng vốn khác nhau. Nhận thức đúng đắn các đặc điểm trên đây của vốn kinh doanh là những vấn đề rất cơ bản để các doanh nghiệp huy động, quản lý sử dụng vốn kinh doanh của mình một cách tiết kiệm, hiệu quả.2 Thành phần của vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều loại, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả người ta phân loại theo các tiêu thức khác nhau. Theo đặc điểm luân chuyển của vốn kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành vốn cố định và vốn lưu động. ❖ Vốn cố định - Khái niệm vốn cố định: Vốn cố định là một bộ phận của vốn kinh doanh, là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Nói cách khác vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của các TSCĐ trong doanh nghiệp. TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu có giá trị lớn, có thời gian sử dụng lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Theo quy định hiện hành ở nước ta, các tư liệu lao động được coi là TSCĐ phải có giá trị từ 30 triệu đồng và thời gian sử dụng 1 năm trở lên. Các tư liệu lao động không SV: Quách Thị Hồng 7 Lớp: CQ55/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính đủ các tiêu chuẩn trên được gọi là các công cụ lao động nhỏ, được đầu tư bằng vốn lưu động của doanh nghiệp.

- Đặc điểm luân chuyển vốn cố định Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định luôn bị chi phối bởi các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật của TSCĐ trong doanh nghiệp. Vốn cố định có một số đặc điểm cơ bản sau: Vốn cố định tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Điều này xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử dụng lâu dài, sau nhiều năm mới cần thay thế, đổi mới. Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn cố định được luân chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm.

Phần giá trị luân chuyển này của vốn cố định được phản ánh dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với phần giá trị hao mòn TSCĐ của doanh nghiệp. Sau nhiều chu kỳ kinh doanh vốn cố định mới hoàn thành một vòng luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất phần vốn được luân chuyển vào giá trị sản phẩm tăng dần lên, song phần giá trị còn lại giảm cho đến khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển hết vào giá trịnh sản phẩm thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng tròn luân chuyển. Những đặc điểm về vốn cố định đòi hỏi việc quản lý, sử dụng vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý, sử dụng TSCĐ của doanh nghiệp.

❖ Vốn lưu động - Khái niệm vốn lưu động: Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài TSCĐ các doanh nghiệp còn cần có các tài sản lưu động (TSLĐ). Để hình thành các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó. Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp. SV: Quách Thị Hồng 8 Lớp: CQ55/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính TSLĐ bao gồm các loại như nguyên liệu chính, vật liệu, nhiên liệu, thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ… Như vậy có thể nói: Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Đặc điểm của vốn lưu động: Trong các doanh nghiệp, quá trình sản xuất kinh doanh luôn diễn ra một cách thường xuyên, liên tục cho nên có thể thấy trong cùng một lúc, vốn lưu động của doanh nghiệp được phân bổ trên khắp các giai đoạn luân chuyển và tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Do bị chi phối bởi các đặc điểm của tài sản lưu động nên vốn lưu động của doanh nghiệp có những đặc điểm sau: Thứ nhất, vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện từ hình thái ban đầu là tiền được chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phần hàng hóa và kết thúc quá trình tiêu thụ trở về hình thái ban đầu là tiền. Thứ hai, vốn lưu động chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Thứ ba, vốn lưu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.3 Nguồn hình thành vốn kinh doanh Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau.

Tương ứng với đó là những ưu nhược điểm của từng nguồn. Để có thể lựa chọn hình thức huy động vốn phù hợp, đồng thời tổ chức sử dụng vốn kinh doanh hiệu quả thì phải nhìn nhận nguồn vốn theo các tiêu thức khác nhau.1 Dựa trên quan hệ sở hữu vốn Căn cứ vào tiêu thức này nguồn vốn kinh doanh được chia thành 2 loại: vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ phải trả (NPT). SV: Quách Thị Hồng 9 Lớp: CQ55/11.09 Luận văn tốt nghiệp Học viện tài chính • Vốn chủ sở hữu: Là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần bổ sung từ kết quả kinh doanh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ