Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Vấn đề gắn kết tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội là một trong những đề tài được giới khoa học, đặc biệt là khoa học kinh tế và khoa học chính trị thường xuyên quan tâm nghiên cứu. Về mặt thực tiễn, chủ đề này cũng được dư luận xã hội và mọi chính phủ thường xuyên đề cập tới. Do đó, các nghiên cứu khoa học về đề tài này rất phong phú. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài được thực hiện ở Việt Nam và nước ngoài.
- Đề cập đến vấn đề ở tầm vĩ mô, đáng quan tâm nhất là cuốn “Về những mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”(Nguyễn Phú Trọng,2014). Đây là cuốn sách lý luận quan trọng ở Việt Nam, do Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng làm chủ biên. Cuốn sách có những định hướng quan trọng cho đề tài của tác giả luận án như sau: Thứ nhất là mối quan tâm đặc biệt của các tác giả về quan hệ giữa ổn định và phát triển. Các tác giả cho rằng đây là mối quan hệ biện chứng.
Bản chất của phát triển sự xung đột với trạng thái ổn định trước đó, phá vỡ nó ở một mức độ nào đó, trên những bình diện nào đó. Nhưng nếu không có ổn định - nhất là ổn định về chính trị, xã hội và những nhân tố vĩ mô của nền kinh tế thì không thể phát triển được. Ngược lại, ổn định mà không có phát triển lại chính là trạng thái trì trệ, hàm chứa những khiếm khuyết, trục trặc, dẫn đến mất ổn định. Do đó, muốn ổn định thì phải phát triển.
Thứ hai, các tác giả của cuốn sách khảo sát kỹ lưỡng các quan điểm về phát triển bền vững do nhiều trường phái, nhiều nhóm nghiên cứu, nhiều tác giả nêu ra trước đó. Qua sự phân tích thấu đáo, các tác giả của cuốn sách đã phác họa một quan điểm về phát triển bền vững của Việt Nam, trên cơ sở tính tới những đặc thù về chính trị - kinh tế - văn hóa của Việt Nam. Trong đó, giải quyết tốt vấn đề công bằng xã hội, định hướng và giải quyết tốt các chính xã hội sẽ tạo ra những tiền đề căn bản cho phát triển bền vững. Thứ ba, vấn đề công bằng xã hội được các tác giả xem xét toàn diện.
Không chỉ đơn giản là công bằng về kinh tế trên cơ sở kết quả lao động, công bằng còn được xem xét trên cơ sở các cơ hội để phát triển, học tập, hưởng thụ phúc lợi xã hội, hưởng thụ các thành quả chung của phát triển xã hội… Và nhiều khía cạnh khác. Đây là một cách nhìn rất biện chứng, nhìn vấn đề theo quan điểm toàn diện với một thái độ vừa sâu sắc, phù hợp và nhân văn. - Đề tài nghiên cứu của GS. Phạm Xuân Nam “Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế - công bằng xã hội và bảo vệ môi trường”(2011) là một nghiên cứu khoa học.
9 rất công phu, vừa rộng lớn vừa sâu sắc. Nghiên cứu này điểm lại những mô hình phát triển trên thế giới trong thế kỷ XX “xét từ góc độ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội”. như: + Mô hình phát triển nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước phúc lợi xã hội. + Mô hình kinh tế - xã hội theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung do Stalin nêu ra và được áp dung ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa một cách tự nguyện hoặc bị áp đặt dưới các hình thức khác nhau.
Những dẫn chứng và những luận điểm được đưa ra trong nghiên cứu của GS.TS Phạm Xuân Nam làm cho chúng ta buộc phải đi tới những kết luận sau đây: * Không thể có một lý thuyết kinh tế xã hội nào có thể đem lại sự tăng trưởng kinh tế ổn định trong một thời gian dài quá 2 thập kỷ mà không bộc lộ những khuyết tật, bất lực , thậm chí thất bại hoàn toàn. * Trong nhiều lí do được đưa ra để lí giải cho hiện tượng có tính quy luật này, công việc nghiên cứu cần phải quan tâm tới những biến đổi về quan hệ lợi ích của các thành phần xã hội được hình thành trong quá trình áp dụng mô hình kinh tế đã được lựa chọn. * Do đó, ngay khi đang áp dụng suôn sẻ một cơ chế kinh tế nào đó, các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính cần phải bắt tay ngay và càng sớm càng tốt vào công việc dự báo những điều chỉnh cần thiết đối với cơ chế kinh tế đang vận hành tốt. căn cứ vào những biến đổi về thành phần xã hội và các hình thái mới của quan hệ lợi ích.TS Phạm Xuân Nam, kể từ Đại hội Toàn quốc lần thứ VI năm 1986 Việt Nam chủ động đề ra và thực hiện một hệ thống các chủ trương chính sách nổi bật, gồm: Một là, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, và coi đây là quan điểm có ý nghĩa bao trùm.
Hai là, tôn trọng lợi ích chính đáng của người lao động và các chủ thể của mọi thành phần kinh tế; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội. Ba là, giải quyết việc làm là yếu tố quyết định để phát huy yếu tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh xã hội. Bốn là, khuyến khích mọi người làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xóa đói giảm nghèo, hướng đẫn và hỗ trợ người nghèo vươn lên làm đủ sống và phấn đáu trở thành khá giả. Năm là, coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
Sáu là, coi khoa học và công nghệ cũng là quốc sách hàng đầu như giáo dục đào tạo, là động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, từng bước phát triển kinh tế tri thức. Bảy là, thực hiện đông bộ chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân, nâng cao thể lực và phát triển giống nòi. 10 + Nghiên cứu của GS.TS Hoàng Đức Thân với tiêu đề “Gắn kết tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta”, đăng trên Tạp chí Cộng sản ngày 27.2010 là một tác phẩm liên quan trực tiếp tới đề tài này (Hoàng Đức Thân, 2015). Những khái niệm cơ bản như “tăng trưởng kinh tế”, “công bằng hội”, “tiến bộ xã hội”.
Đều được làm rõ với những nội hàm xúc tích và đầy đủ. Tăng trưởng kinh tế được tác giả xác định là khái niệm kinh tế học được dùng để chỉ sự gia tăng về qui mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kì nhất định, thể hiện qua các chỉ tiêu có chức năng đo lường như tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), GDP bình quân đầu người và các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác. Tác giả cũng nhấn mạnh rằng tăng trưởng kinh tế và tiến bộ công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng với nhau, vừa là tiền đề vừa là điều kiện của nhau. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện để thực hiện công bằng xã hội, nhưng đồng thời tăng trưởng kinh tế cao và bền vững cũng chính là thước đo của tiến bộ và công bằng xã hội, bởi vì nếu không có việc giải quyết tốt công bằng xã hội thì cũng vẫn có thể có tăng trưởng kinh tế cao trong một thời gian ngắn nào đó, nhưng không thể duy trì lâu dài, tức là không thể bền vững được, bởi vì tiến bộ công bằng xã hội là nhân tố nội tại của tăng trưởng kinh tế bền vững.
Luận điểm này được rút ra từ việc nghiên cứu quá trình hình thành và được vận dụng vào trong đời sống của nhiều lí thuyết về tăng trưởng kinh tế trong thế kỉ XX. Các lí thuyêt này khi được đem áp dụng vào một số nước đều tạo ra những kết quả tăng trưởng kinh tế rất khả quan trong giai đoạn đầu. Nhưng một thời gian sau đó tình trạng bất ổn xã hội đã xảy ra, tăng trưởng kinh tê bắt đầu chậm lại, rồi tăng trưởng âm. Nguyên nhân được xác định là do bất công bằng trong phân phối thu nhập và nhiều lĩnh vực khác bị kéo theo, mâu thuẫn xã hội tăng lên nhanh chóng, dẫn tới bất ổn xã hội, tác động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế.
Tác giả đưa ra một nhận định có tính chất kết luận, theo đó tiến bộ, công bằng xã hội cần được coi là một biểu hiện của tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không phải là những yếu tố đối lập nhau mà có quan hệ nhân quả với nhau.TS Hoàng Đức Thân khái quát những luận điểm quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Đảng Cộng sản Việt Nam về tăng trưởng kinh tế gắn kết với công bằng xã hội. Hồ Chủ tịch khẳng định rằng mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế là nâng cao đời sống của nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, làm cho đời sống của người dân ngày càng đầy đủ, sung sướng, hạnh phúc. Người quan tâm tới vấn đề phúc lợi xã hội. Tuy nhiên, Người cũng nhấn mạnh rằng phúc lợi phải gắn với hiệu quả sản xuất, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đảng Cộng sản Việt nam khẳng định rằng giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại, làm tiền đề cho nhau cùng phát triển. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tiền đề để thực hiện công bằng xã hội. Không thể có công bằng xã hội nếu không dựa trên nền tảng tăng trưởng kinh tế. 11 thực hiện công bằng xã hội là động lực, là điều kiện quan trọng có tác dụng thúc đẩy, đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, bền vững.
Mỗi bước tiến của tăng trưởng kinh tế cần gắn với việc từng bước thực hiện mục tiêu công bằng xã hội. Đại hội X của Đảng khẳng định “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát riển văn hóa, y tế, giáo dục. giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người.