CHƯƠNG 1: NHỮNG NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT VÀ THỰC NGHIỆM VỀ TỰ DO HÓA TÀI KHOẢN VỐN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM.1 Lý thuyết bộ ba bất khả thi Trong kinh tế học vĩ mô, mô hình IS-LM cho biết sự tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đối với việc tăng sản lượng quốc gia. Vấn đề phát triển mô hình này bằng cách đưa thêm các yếu tố nước ngoài vào đã được nhiều nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu, song nỗ lực thành công nhất được xem là của mô hình Mundell-Fleming. Mô hình này là kết quả nghiên cứu của Robert Mundell (1962, 1963) và J. Trong khi làm việc tại quỹ tiền tệ quốc tế IMF, Robert Mundell và J.Fleming đã đưa thêm tác động của cán cân thanh toán vào mô hình IS-LM ban đầu, và điều này được coi là chìa khóa cho sự ra đời của bộ ba bất khả thi.
Theo mô hình Mundell- Fleming được Robert Mundell và Marcus Fleming phát triển trong những năm 1960 được phát biểu: một quốc gia không thể đồng thời thực hiện cùng một lúc 3 mục tiêu chính sách kinh tế vĩ mô: đó là chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và tự do hóa dòng vốn. Cụ thể : (i) Ồn định tỷ giá và sự hợp nhất thị trường vốn có thể được kết hợp bằng cách áp dụng một tỷ giá hối đoái cố định lâu dài nhưng yêu cầu phải từ bỏ sự độc lập tiền tệ. Với sự lựa chọn này, các nhà cầm quyền mất đi các công cụ để thay đổi lãi suất trong nước một cách độc lập với lãi suất nước ngoài. (ii) Độc lập tiền tệ và sự hợp nhất thị trường vốn có thể được kết hợp bằng cách thả nổi tỷ giá nhưng đòi hỏi phải từ bỏ mục tiêu ổn định tỷ giá.
Lúc này những nhà cầm quyền tự do ấn định lãi suất trong nước nhưng họ phải chấp nhận tỷ giá hối đoái mà thị trường quyết định. (iii) Ổn định tỷ giá có thể được kết hợp với sự độc lập tiền tệ nhưng đòi hỏi phải từ bỏ sự hợp nhất thị trường vốn. Khi có kiểm soát vốn, mối liên hệ giữa lãi suất và tỷ giá bị phá vỡ. 123doc 6 Theo phân tích mô hình Mundell-Fleming, ta thấy rằng: Hiệu quả của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa phụ thuộc vào loại cơ chế tỷ giá hối đoái và mức độ kiểm soát vốn.
Ví dụ, nếu quốc gia nào có sự chu chuyển vốn tự do và tỷ giá là cố định thì các nhà quản lý tiền tệ không thể theo đuổi một chính sách tiền tệ độc lập. Trong một quốc gia mà chế độ tỷ giá cố định thì không có rủi ro tỷ giá, lãi suất trong nước biến động cùng với lãi suất nước ngoài. Từ những nhận định trên, các nhà kinh tế học Krugman (1979) và Frankel (1999) đã mở rộng mô hình Mundell- Fleming thành “mô hình bất khả thi”.1, Frankel cho rằng một quốc gia phải bỏ một trong ba mục tiêu: Chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và chu chuyển vốn hoàn toàn. Các nội dung này được tóm tắt trong bảng 1.1 là sự minh họa về nguyên tắc hoạt động của bộ ba bất khả thi.
Mỗi cạnh thực hiện cho các mục tiêu tốt nhất, lần lượt là: Chính sách tiền tệ độc lập, sự ổn định của tỷ giá và chu chuyển vốn hoàn toàn. Đối diện với mỗi cạnh ( hay mỗi mục tiêu) là các công cụ chính sách tại các đỉnh. Mục tiêu chu chuyển vốn hoàn toàn đối ngược với đỉnh kiểm soát vốn, mục tiêu ổn định tỷ giá đối ngược với đỉnh tỷ giá thả nổi hoàn toàn và mục tiêu chính sách tiền tệ độc lập thì đối ngược đỉnh liên minh tiền tệ (chính sách tiền tệ phụ thuộc). Việc đạt được cả ba mục tiêu là hoàn toàn không khả thi.
1: Tóm tắt mô hình bộ ba bất khả thi THỊ TRƯỜNG VỐN ĐÓNG Chính sách tiền tệ Ổn định tỉ giá độc lập TỶ GIÁ THẢ NỔI TỶ GIÁ CỐ ĐỊNH Hội nhập tài chính 123doc 7 Bảng 1. 1: Nguyên lí bộ ba bất khả thi Dòng vốn lưu Chính sách Hệ thống tỷ Chỉ tiêu Quốc gia động hoàn toàn tiền tệ độc lập giá cố định Trung Quốc Kiểm soát vốn Không Có Có trước cuộc cải cách 7/2005 Chính sách tiền Hồng Kông, Có Không Có tệ bị ràng buộc EU Tỷ giá thả nổi Có Có Không Nhật, Úc 1.2 Ảnh hưởng của từng chính sách trong quan điểm bộ ba bất khả thi đến nền kinh tế 1.1 Độc lập tiền tệ Độc lập tiền tệ hơn cho phép ổn định kinh tế thông qua chính sách tiền tệ mà không phải đối mặt với quản lý kinh tế vĩ mô khác, tiến đến ổn định và tăng trưởng kinh tế. Mặt trái, với tính cứng nhắc của giá cả và tiền lương những nhà làm chính sách cũng có thể điều khiển sự biến động của mức sản xuất, dẫn đến mức tăng sản xuất và tính không ổn định của lạm phát.2 Ổn định tỷ giá Ổn định tỷ giá có thể đưa đến ổn định giá cả bằng việc đưa ra cái neo và mức đền bù rủi ro thấp hơn bằng cách làm nhẹ tính không chắc chắn, do đó khuyến khích đầu tư và thương mại quốc tế. Đồng thời ngay khi khủng hoảng kinh tế, duy trì một chế độ neo tỷ giá có thể tăng độ đáng tin vào các nhà làm chính sách và góp phần ổn định sức sản xuất (theo Aizenman, et el.
Mặt trái, ở những mức độ ổn định tỷ giá cao hơn có thể cũng làm cho chính sách sử dụng tỷ giá như công cụ để thu hút những cú sốc bên ngoài. Theo Prasad 123doc 8 (2008) ổn định tỷ giá cứng nhắc có thể không chỉ làm tăng tính biến động của sản xuất mà còn gây ra phân bổ nguồn lực sai lệch, mất cân đối, mất sự tăng trưởng liên tục.3 Tự do hóa tài khoản vốn Tự do hóa tài khoản vốn là việc cho tự do tiến hành chuyển đổi các tài sản tài chính trong nước thành tài sản tài chính ở nước ngoài và ngược lại theo tỷ giá hối đoái do thị trường qui định. Mở rộng thị trường tài chính có thể dẫn đến sự tăng trưởng kinh tế bằng việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn, làm giảm thông tin bất cân xứng, làm gia tăng tiết kiệm nội địa, tăng chuyển giao kỹ thuật hoặc sự quản lý tiên tiến. Đồng thời với những nền kinh tế có sự gia nhập sâu hơn vào thị trường quốc tế sẽ tốt hơn cho ổn định quốc gia thông qua việc chia sẽ rủi ro và đa dạng hóa danh mục đầu tư.
Mặt trái, tự do tài khoản vốn thường bị đỗ lỗi là gây ra sự bất ổn định kinh tế. Mở cửa tài chính sâu sẽ làm dòng vốn ngắn hạn dễ thay đổi, dòng vốn đảo chiều hoặc ngừng đột ngột nguồn vốn và làm cho nền kinh tế quốc gia dễ bị tổn thương hơn.3 Các chỉ số trong mô hình của bộ ba bất khả thi 1.1 Chỉ số độc lập tiền tệ (MI) Dựa trên mối tương quan giữa các tỷ lệ lãi suất của quốc gia với tỷ lệ lãi suất của nước cơ bản. [14] corr (ii ,i j ) − (−1) MI = 1 − 1 − (−1) Trong đó: corr (ii ,i j ) : hệ số tương quan giữa i và j i : Lãi suất nước nghiên cứu 123doc 9 j : Lãi suất nước cơ sở Chỉ số này có giá trị lớn nhất và nhỏ nhất lần lượt là 1 và 0. Chỉ số này càng cao có nghĩa là chính sách tiền tệ càng độc lập.
Ở đây, nước cơ sở là nước mà chính sách tiền tệ của nước nghiên cứu có sự liên kết chặt chẽ với nó như định nghĩa trong Shambaugh (2004). Nước cơ sở như là Úc, Đức, Pháp, Đức, Ấn Độ, Malaisia, Nam Phi, Anh và Mỹ. Đối với những nước và các năm trong dữ liệu Shambaugh có sẵn, nước cơ sở trong nghiên cứu của ông được sử dụng, đối với các nước khác, nước cơ sở được dựa trên Báo cáo hàng năm về cơ chế điều hành tỷ giá và hạn chế ngoại hối của Quỹ tiền tệ quốc tế IMF (AREAER) và cơ sở dữ liệu của Cục tình báo trung ương Mỹ (CIA factbook).2 Chỉ số tỷ giá hối đoái cố định (ERS) Để đo lường sự ổn định của tỷ giá, độ lệch chuẩn hàng năm của các tỷ giá hàng tháng giữa quốc gia cần xác định và nước cơ sở sẽ được tính toán và chuẩn hóa chỉ số giữa 0 và 1 theo công thức sau: [14] 1 ERS = stdev(exch _ rate) 1+ d log Et / dt + 0.01 stdev(exch _ rate ): độ lệch chuẩn của tỷ giá hối đoái /dlogEt/dt/ là giá trị tuyệt đối của tốc độ giảm hàng năm tỷ giá hối đoái của tháng 12. Chỉ số này cao cho thấy mức độ ổn định của tỷ giá hối đoái với chính sách tiền tệ của nước cơ sở.
ERS cho kết quả càng cao thì biểu thị mức độ ổn định của tỷ giá và ngược lại.3 Chỉ số mở cửa tài chính (OPEN) Để phân tích tác động của tự do hóa tài khoản vốn đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, tác giả sử dụng mô hình sau: REAL _GDPt = α + β1 FDIt + β2 OPENt + β3 GEt + Ut 123doc 10 Trong đó: REAL _GDP : Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. α : hệ số tự do β1, β2, β3 : hệ số hồi qui FDI : Luồng vốn FDI giải ngân từ các nhà đầu tư nước ngoài. OPEN : Mức độ mở cửa nền kinh tế, là tỷ lệ của tổng xuất khẩu nhập khẩu trên GDP. GE : Chi tiêu chính phủ Ut : Độ nhiễu Giá trị Open càng cao cho thấy việc chuyển giao vốn giữa các quốc gia càng tăng.4 Mặt tích cực của tự do hóa tài khoản vốn Tự do hóa tài khoản vốn là một xu hướng khó có thể cưỡng lại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Lợi ích của việc tự do hóa tài khoản vốn đó là giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn và phân bổ nguồn lực tốt hơn, giải quyết việc làm, giúp doanh nghiệp trong nước nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao giá trị doanh nghiệp và các mục tiêu tài chính khác. Có thể nói vốn đầu tư nước ngoài mang lại lợi ích cho cả doanh nghiệp và nền kinh tế: - Việc mở rộng cửa đối với dòng vốn nước ngoài cho phép nền kinh tế tăng tỷ lệ đầu tư mà không chỉ hoàn toàn dựa vào nguồn tiết kiệm trong nước. - Đầu tư nước ngoài thúc đẩy quá trình sử dụng vốn nội địa linh hoạt và có hiệu quả hơn.