CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC CÓ CHỦ ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Nghiên cứu trong nước 1. Nhóm 1: Các công trình khoa học nghiên cứu về quan hệ thương mại quốc tế nói chung và quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN nói riêng Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này như: “Thương mại Việt Nam - ASEAN trong bối cảnh triển khai thực hiện CEPT/AFTA” (Vũ Khoan- 2001); “5 năm thực hiện CEPT/AFTA và những vấn đề đặt ra với Việt Nam” (Trần Xuân Thắng - 2001); “Việt Nam – ASEAN quan hệ đa phương và song phương” (Vũ Dương Ninh, 2004); “Quan hệ thương mại ASEAN-Trung Quốc: cơ hội và thách thức đối với sự phát triển thương mại Việt Nam” (Đặng Đình Đào -2005); “ASEAN-Thị trường lớn trong thương mại của Việt Nam” (Hồng Vân – 2007); “Hợp tác thương mại nội khối ASEAN: Phần thắng và phần thua” (Võ Văn Quyền – 2009); Đồng thời, một số tác giả cũng đã nghiên cứu về thương mại song phương giữa các quốc gia khác như: Lưu Ngọc Trịnh, Nguyễn Ngọc Mạnh (2010) “Quan hệ Việt Nam – Mỹ hướng tới một tầm cao mới”; Đồng Thị Thùy Linh (2010) “Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các quốc gia mới gia nhập EU từ năm 2004 đến nay”; Lê Thị Ngọc Lan, Nguyễn Hữu Thật, Ngô Thị Minh Nguyệt (2009)“Quan hệ thương mại Việt Nam – Hàn Quốc cơ hội và thách thức”; Nguyễn Hồng Thu (2009), “Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc tới thương mại Việt – Trung”; Nguyễn Thị Quỳnh Nga (2009), “Quan hệ thương mại Việt Nam - Ấn Độ: Cơ hội và thách thức”; Nguyễn Xuân Thiên, Trần Văn Tùng (2009), “Quan hệ thương mại Việt Nam – Campuchia”; Lê Khương Thùy (2008) “35 năm quan hệ 6 Việt Nam – Canada”. Dưới đây là nội dung cụ thể của một số công trình tiêu biểu: * Nghiên cứu về quan hệ giữa Việt Nam với ASEAN nói chung Cuốn sách “Việt Nam – ASEAN quan hệ song phương và đa phương” (Vũ Dương Ninh, 2004) phân tích khái quát tiềm năng, thế mạnh và cả những mặt hạn chế và tồn tại của từng quốc gia (Bruney, Campuchia, Indonesia, Malaysia, Myanmar, Lào, Philippines, Thái Lan, Singapore).
Cuốn sách cũng khái quát mối quan hệ giữa nước ta với tổ chức khu vực (ASEAN), với từng nước thành viên trên nhiều lĩnh vực: chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hóa, từ đó nêu lên một số suy nghĩ về hướng phát triển tiếp theo. Cùng chủ đề nghiên cứu về quan hệ hợp tác Việt Nam – ASEAN trên các phương diện hợp tác chính trị - an ninh và quan hệ đối ngoại; hợp tác và liên kết kinh tế; hợp tác chuyên ngành và các vấn đề văn hóa – xã hội [28]. Cuốn sách “Quan hệ quốc tế Việt Nam trong ASEAN: nhìn lại và hướng tới” (Phạm Đức Thành, Trần Khánh, 2006) đã trình bày những thành tựu, phân tích những thách thức, triển vọng của Việt Nam sau 10 năm gia nhập ASEAN trên các mặt: hợp tác chính trị - an ninh và quan hệ đối ngoại, hợp tác liên kết kinh tế, hợp tác chuyên ngành và các vấn đề văn hóa xã hội. Đưa ra những khuyến nghị Việt Nam nên tiếp tục làm gì để đóng góp phần mình vào tiến trình xây dựng và phát triển của ASEAN [43].
Cuốn sách “Quá trình triển khai thực hiện chích sách đối ngoại của Đại hội IX Đảng Cộng sản Việt Nam” (Nguyễn Danh Quỳnh, 2005) đề cập đến Quan hệ Việt Nam - ASEAN từ sau Đại hội IX của Đảng đến 2005. Nghiên cứu trình bày quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN từ sau Đại hội IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực an ninh - chính trị, hợp tác kinh tế - thương mại và chuyên ngành; Nêu lên những kết quả đã đạt được trong quan hệ Việt Nam - ASEAN từ năm 2001 đến nay; Đưa ra phương hướng hoạt động đối ngoại của Việt Nam đối với ASEAN trong thời gian tới [37]. 7 Đề tài “Từ Hiệp hội (ASEAN) đến Cộng đồng (AC): những vấn đề nổi bật trong giai đoạn 2011 – 2020 và tác động đến Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Dũng đã tập trung phân tích và đánh giá quá trình hình thành và xây dựng Cộng đồng AC trong thời gian qua; Phân tích những vấn đề nổi bật đang và sẽ đặt ra trong quá trình chuyển từ Hiệp hội (ASEAN) thành Cộng đồng (AC); Đánh giá những tác động chủ yếu đến Việt Nam và đề xuất các gợi ý về chính sách nhằm thúc đẩy liên kết và gia tăng vai trò của Việt Nam trong Cộng đồng kinh tế ASEAN hiện nay và thời gian tới [9]. Cũng là vấn đề tác động của việc hình thành Cộng đồng ASEAN đến quá trình phát triển của Việt Nam, một nghiên cứu khác của Vũ Dương Ninh (2001) lại đề cập đến những vấn đề đặt ra với Việt Nam trong 5 năm thực hiện Hiệp định về thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT)/Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) trong cuốn sách “Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và doanh nghiệp Việt Nam”.
Những vấn đề được tác giả đề cập như: Giới thiệu chung về CEPT/AFTA và lộ trình thực hiện của Việt Nam; Giới thiệu các mặt hàng đã được đưa vào thực hiện trong chương trình CEPT và lịch trình giảm thuế; Trình bày những khó khăn và những vấn đề đặt ra cho Chính phủ Việt Nam và cho các doanh nghiệp Việt Nam khi tham gia vào AFTA; Đánh giá bước đầu về tác động thực tế của AFTA đối với kinh tế Việt Nam sau 5 năm thực hiện [30]. Một số công trình nghiên cứu khác như “Thành tựu và thách thức trong hội nhập Việt Nam – ASEAN hiện nay” (Phan Thị Thu Hằng, 2005). Bài viết khái quát những thành tựu trong quan hệ hợp tác và hội nhập giữa Việt Nam và ASEAN trong thời gian qua thể hiện trong các quan hệ chính trị - ngoại giao, quan hệ kinh tế - thương mại và đầu tư; Nêu lên những thách thức trong quan hệ hợp tác và hội nhập Việt Nam - ASEAN hiện nay. Cuốn sách “Một số vấn đề về sự phát triển của các nước ASEAN” (Vũ Dương Ninh, 1993).
Dưới góc độ nghiên cứu sử học, cuốn sách tập trung trình bày một số vấn đề chủ yếu về sự 8 phát triển của các nước ASEAN, nguyên nhân dẫn đến thành công về mặt kinh tế của các nước này và sự hòa nhập của Việt Nam vào ASEAN [28]. Đồng tác giả Vũ Dương Ninh, trong cuốn sách Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và doanh nghiệp Việt Nam (2001) có bài viết “Hội nhập Việt Nam - ASEAN. Chặng đường đã qua và năm tháng sắp tới”. Bài viết khái quát những thành tựu đạt được trong mối quan hệ Việt Nam - ASEAN trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá sau 5 năm Việt Nam gia nhập ASEAN (1990 - 1995) và những đóng góp của Việt Nam trong việc mở rộng ASEAN; Giới thiệu định hướng phát triển và đẩy mạnh hơn mối quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và các nước ASEAN trong thời gian tới [30].
Cuốn sách “Quan hệ EU - ASEAN và vai trò của Việt Nam, (Nguyễn Quang Thuấn, 2006). Nghiên cứu tập trung phân tích 5 nhân tố tác động đến quan hệ EU - ASEAN trong những năm đầu thế kỷ XXI đó là: Chủ nghĩa khủng bố quốc tế xuất hiện, vấn đề toàn cầu hoá, liên minh châu Âu phát triển mạnh nảy sinh nhiều vấn đề cần giải quyết, khối ASEAN không ngừng phát triển hình thành nên khu vực mậu dịch tự do ASEAN, quan hệ hợp tác Á - Âu ngày càng phát triển. Đồng thời, cuốn sách trình bày quan hệ EU - ASEAN hiện nay và vai trò của Việt Nam trong mối quan hệ này [48]. Nguyễn Thu Mỹ, Lê Phương Hòa (2008) trình bày quan điểm, nhận thức của Việt Nam về cộng đồng ASEAN (AC) và các trụ cột của cộng đồng; Những đóng góp của Việt Nam trong thời gian qua vào việc chuẩn bị chương trình nghị sự, xây dựng nội dung và triển khai thực hiện các văn kiện có liên quan đến tiến trình xây dựng Cộng đồng ASEAN [26].
Bài viết “Tiến trình xây dựng cộng đồng ASEAN và vai trò của Việt Nam” (Hà Anh Tuấn, 2007) giới thiệu tóm lược quá trình phát triển quan hệ hợp tác của ASEAN trong suốt 40 năm tồn tại và mục tiêu hướng tới xây dựng cộng đồng ASEAN năm 2020; Về hai quan điểm khác nhau giải thích cơ sở bảo đảm cho sự duy trì, phát triển của ASEAN 9 cũng như bản chất hợp tác của Hội hiệp và tương lai của các yếu tố đó đối với quá trình hợp tác sâu hơn của ASEAN trong thời gian tới. Những đóng góp của Việt Nam với Hội hiệp và sự ủng hộ mạnh mẽ của các nước thành viên đối với Việt Nam kể từ khi Việt Nam gia nhập ASEAN năm 1995 [51]. * Nghiên cứu về quan hệ thương mại giữa Việt Nam – ASEAN nói riêng Về tình hình hợp tác kinh tế và quan hệ thương mại Việt Nam – ASEAN đã có khá nhiều tác giả tập trung nghiên cứu, phân tích vấn đề này. Trong ấn phẩm Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và doanh nghiệp Việt Nam (2001), tác giả Vũ Dương Ninh đã khái quát tình hình quan hệ thương mại Việt Nam - ASEAN trong bối cảnh thực hiện các quy định của Hiệp định CEPT và thời hạn hoàn thành AFTA 2006, thể hiện ở những cam kết chính và tình hình thực hiện CEPT/AFTA; Về tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN và những thuận lợi, khó khăn trong quá trình thực hiện CEPT/AFTA của Việt Nam [30].
Hay trong cuốn sách “Hợp tác kinh tế Việt Nam với ASEAN và ASEAN mở rộng” của Bộ Công thương (2010), các tác giả đã trình bày quá trình hình thành và phát triển của Tổ chức ASEAN, rồi từ đó mở rộng ra ASEAN+3 (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) và ASEAN+6 (Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, New Zealand). Thông qua tiến trình mở rộng ASEAN, cuốn sách cũng phân tích quá trình hợp tác kinh tế giữa các nước ASEAN và ASEAN mở rộng trên tất cả các lĩnh vực và đưa ra triển vọng phát triển trong thời gian tới. Chương cuối của cuốn sách tập trung phân tích để cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quát về quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam với ASEAN và ASEAN mở rộng [4].