Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong những năm qua

Phân tích thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang EU. Đánh giá thách thức, cơ hội và đề xuất giải pháp phát triển bền vững. Xem ngay!

Trường đại học

Khoa Kinh Tế Ngoại Thương

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khoá luận tốt nghiệp

2003

110
75
1

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI NÓI ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN CỦA THỦY SẢN VIỆT NAM

1.1. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM

1.2. Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế

1.3. Vai trò của ngành thủy sản đối với hoạt động xuất khẩu

2. CHƯƠNG II

2.1. Thực trạng xuất khẩu của thuỷ sản Việt nam sang EU trong những năm qua

2.1.1. Giới thiệu chung về thị trường EU

2.1.2. Thực trạng XKTS của Việt nam sang EU giai đoạn 1997 - 2002

2.1.3. Đánh giá kết quả hoạt động XKTS sang EU giai đoạn 1997-2000

2.1.4. Các vấn đề đặt ra với hàng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam sang EU

3. CHƯƠNG III

3.1. Định hướng và những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang EU trong những năm tới

3.1.1. Định hướng và mục tiêu phát triển XKTS

3.1.2. Những giải pháp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU trong những năm tới

3.1.2.1. Những giải pháp chủ yếu đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU
3.1.2.2. Một số giải pháp tài chính tín dụng khuyến khích XKTS sang EU
3.1.2.3. Các giải pháp khác nhằm đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU

Danh mục tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan về ngành thủy sản Việt Nam và thị trường EU

Ngành thủy sản Việt Nam có lợi thế bờ biển dài, nguồn lợi hải sản phong phú và đa dạng. Ngành đóng góp đáng kể vào GDP, tạo việc làm cho hàng triệu người và cung cấp nguồn thực phẩm quan trọng. Tuy nhiên, xuất khẩu thủy sản vẫn chủ yếu là nguyên liệu thô, giá trị gia tăng thấp, hiệu quả chưa cao. "Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu km2... trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn." Tiềm năng nuôi trồng thủy sản rất lớn nhưng năng suất chưa cao so với các nước trong khu vực. EU là thị trường tiềm năng với gần 400 triệu dân, yêu cầu chất lượng cao và là thị trường chiến lược cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam. "EU được coi là thị trường chiến lược trong hoạt động xuất khẩu của Việt Nam... khi mà nhập khẩu thủy sản của thị trường Nhật Bản có dấu hiệu chững lại và Mỹ đặt ra những quy định pháp lý..." Việc đáp ứng các tiêu chuẩn của EU là thách thức nhưng cũng là cơ hội để nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm thủy sản Việt Nam.

II. Thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU

Xuất khẩu thủy sản sang EU tuy chưa chiếm tỷ trọng lớn nhưng có tốc độ tăng trưởng đáng kể. "Giá trị xuất khẩu sang thị trường EU trong 10 tháng đầu năm 2003 tăng 70% so với cùng kì năm ngoái." Các sản phẩm chính xuất khẩu sang EU bao gồm tôm, cá đông lạnh, mực, bạch tuộc đông lạnh. "Các mặt hàng chính xuất khẩu vào EU là: cá đông lạnh... mực, bạch tuộc đông lạnh... Tôm đông lạnh..." EU đòi hỏi tiêu chuẩn chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm rất cao, đòi hỏi Việt Nam phải nỗ lực đáp ứng. Việc EU công nhận Việt Nam vào danh sách các nước được phép xuất khẩu thủy sản là bước tiến quan trọng, mở ra nhiều cơ hội. "Ngày 16/11/1999, Cộng đồng Châu Âu (EC) đã ký Quyết định đưa Việt Nam vào danh sách I - các nước được phép xuất khẩu thủy sản vào EU."

III. Các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn khác của Việt Nam

Ngoài EU, các thị trường xuất khẩu thủy sản lớn của Việt Nam bao gồm Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore... Mỗi thị trường có đặc điểm và yêu cầu riêng. "Năm 2002 cơ cấu thị trường xuất khẩu thủy sản của Việt Nam như sau: Mỹ 32,87%, Nhật 26,57%, Trung Quốc 8,54%, Hồng Kông 6,39%, EU 3,65%..." Thị trường Nhật Bản và Mỹ tuy lớn nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro do khủng hoảng kinh tế, cạnh tranh gay gắt và các rào cản thương mại. Các thị trường khác như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đông Nam Á cũng có tiềm năng nhưng cần đa dạng hóa sản phẩm và mở rộng thị trường. "Để tăng thị phần của thủy sản Việt Nam tại Trung Quốc, các doanh nghiệp của chúng ta cần đa dạng hoá các mặt hàng..."

IV. Định hướng và giải pháp phát triển xuất khẩu thủy sản sang EU

Để đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản sang EU, Việt Nam cần tập trung vào các giải pháp: nâng cao chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn của EU; đa dạng hóa sản phẩm, phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng; tăng cường xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm; "...cần phải tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật trực tiếp phục vụ sản xuất kinh doanh của ngành, đồng thời Nhà nước cần ban hành những chính sách mới để khuyến khích, kêu gọi đầu tư..." Đẩy mạnh đầu tư, đổi mới công nghệ; hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách hỗ trợ; tăng cường hợp tác quốc tế. Khoá luận này cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng và tiềm năng xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đặc biệt là thị trường EU, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xuất khẩu, góp phần phát triển bền vững ngành thủy sản Việt Nam.

18/11/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN CỦA THỦY SẢN VIỆT NAM I. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM 1. Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1triệu km2 với 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên, nhiều eo, vịnh, vụng, đầm, phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn. Thềm lục địa nước ta rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1triệu km2, trong đó diện tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép.

Theo đánh giá của Bộ Thủy Sản, tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản. Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng 10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực. Đội tàu thuyền đánh bắt có khoảng 75.000 chiếc với công suất là 1,8 triệu CV, bình quân 20- 25 CV/tàu, 187 nhà máy chế biến được xây dựng từ những năm thập kỷ 80. Cũng theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế cao.

Bước đầu đánh giá trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địa khoảng trên 4,2 triệu tấn. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1,7 triệu tấn/năm. Tình hình cụ thể của các loài cá: - Cá tầng đáy: 856. - Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.

Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Ngoài cá biển, Việt Nam còn có nhiều nguồn lợi tự nhiên khác như: trên 1600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ… và khoảng 2500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa cao nhất là mực và bạch tuộc, cho phép khai thác 60-70 nghìn tấn/năm. Hằng năm, biển còn có thể cho phép khai thác từ 45-50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ. Bên cạnh có, còn có rất nhiều loài đặc sản quý như bào ngư, vích, đồi mồi, tổ yến, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai. Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản lượng khai thác không đồng đều ở các vùng.

Theo ước tính, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá, 50. Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác thủy sản giữa các vùng như sau: - Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng 681.166 tấn, khả năng khai thác 271.467 tấn (16,3%) - Biển Trung Bộ: trữ lượng 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(14,3%) - Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng 2.889 tấn, khả năng khai thác 830. - Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác 202. Từ tính chất đặc thù của vùng biển Việt Nam, là vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thủy sản rất đa dạng, phong phú về chủng loại với nhiều loài thủy sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao.

Hơn nữa, với vị trí địa lý nằm gần những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn như Trung Quốc, Nhật Bản. lại có khả năng giao lưu bằng đường bộ, đường thủy, đường không đều rất thuận lợi nên ngành kinh tế thủy sản Việt Nam có điều điều kiện để phát triển nhanh và bền vững. Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Theo ước tính ở Việt Nam, phần diện tích vùng biển có khả năng tiềm tàng lớn để gia tăng khai thác trong giai đoạn 1999- 2000 là 414.436 km2, chiếm 42,6% diện tích vùng đặc quyền kinh tế nước ta. Trong đó: - Vùng Bắc Bộ có diện tích: 47.

- Biển Nam Bộ: 233. Nhìn chung, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng như đã nêu trên, trong thời gian hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam, đứng trước nhu cầu mạnh mẽ của thị trường thế giới cũng như nhu cầu về thực phẩm của đất nước đã có những bước phát triển ngoạn mục và trở thành một trong những ngành kinh tế then chốt của đất nước. Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân Thủy sản là một ngành kinh tế- kỹ thuật đặc trưng gồm có các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng của đất nước. Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, hải quan.

Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng của ngành thủy sản trong sự phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong 20 năm qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngành kinh tế thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Ngành thủy sản được xác định là giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, bởi vì nó khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có thể tái sinh của đất nước. Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp 2.

Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, thủy sản được coi là một ngành hàng thiết yếu và được ưa chuộng ở khắp nơi trên thế giới. Với tiềm năng thiên nhiên rộng lớn, ngành thủy sản Việt nam đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Theo thống kê của Bộ Thương Mại, thì sự đóng góp của ngành Nông Lâm Nghiệp và Thủy sản trong GDP qua các năm như sau: Bảng 1.

Cơ cấu đóng góp của các ngành trong GDP qua các năm Năm Cơ cấu (tính theo giá thực tế) Nông lâm Công nghiệp- nghiệp – Tổng số thủy sản Xây dựng Dịch vụ 1990 100,00 38,74 22,67 38,59 1991 100,00 40,49 23,79 35,27 1992 100,00 33,94 27,29 38,80 1993 100,00 29,87 28,90 41,23 1994 100,00 27,43 28,87 43,70 1995 100,00 27,18 28,76 44,06 1996 100,00 27,76 29,73 42,51 1997 100,00 25,77 32,08 42,15 1998 100,00 25,78 32,49 41,73 1999 100,00 25,43 34,49 40,08 2000 100,00 24,53 36,73 38,74 2001 100,00 23,25 38,12 38,63 2002 100,00 22,99 38,55 38,46 Nguồn: Thống kê của Bộ Thương Mại năm 2002 Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Qua bảng số liệu 1 ta thấy, mặc dù tỉ trọng đóng góp của của ngành Nông Lâm Nghiệp và Thủy Sản trong GDP có giảm đi qua các năm, từ 40,49% năm 1991 xuỗng còn 22,99% năm 2002 nhưng nhìn chung vẫn chiếm một tỉ trọng tương đối lớn tạo nên sự tăng trưởng đều đặn của GDP trong thập niên vừa qua. Sự đóng góp của ngành thủy sản đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước được thể hiện cụ thể như sau: - Nghề nuôi trồng thủy sản từ tự cung tự cấp đã đáp ứng được nhu cầu cho tiêu dùng trong và ngoài nước, đáng kể là sản lượng tôm sú nuôi phục vụ xuất khẩu của nước ta đứng vào khoảng thứ 3 trên thế giới (sản lượng năm 2001 đạt 105 nghìn tấn) xếp sau Thái Lan (năm 2001 đạt 250 nghìn tấn) và Indonexia (năm 2001 đạt 110 nghìn tấn); thủy sản xuất khẩu cũng đã được xác định là đối tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng. - Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp đông lạnh thủy sản đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. - Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ.

Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ. - Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ. Từ cơ chế “lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng”, qua các thời kỳ Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 60 nước và vùng lãnh thổ với một số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng. Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Theo Bộ Thủy sản, dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với nền kinh tế quốc dân sẽ tăng từ mức hiện nay năm 2003 là 30.628 tỷ đồng lên 40.000 tỷ đồng vào năm 2010 với tốc độ phát triển trên dưới 20%/năm.

Tỷ trọng tương ứng của ngành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong các ngành khác của nền kinh tế. Song sự đóng góp của ngành thủy sản đối với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng phân phối thu nhập của ngành thủy sản ở các vùng nông thôn. Một bộ phận dân cư ở nông thôn, thường là các vùng nghèo vẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả thiểu số ở vùng cao. Việc đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hóa nghề cá và nuôi trồng thủy sản sẽ tăng cường năng lực của ngành này.

Bằng cách đó sẽ tăng cường sự đóng góp của ngành đối với xã hội. Hiện đại hóa và phát triển sẽ giúp thiết lập các ngành công nghiệp mới và những ngành công nghiệp đã hoàn thiện tại các vùng ven biển mà sẽ nâng cao vai trò của ngành thủy sản đối với việc phát triển kinh tế - xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Luận văn thực trạng xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang EU trong những năm qua" của tác giả Đỗ Thị Kim Thoa, dưới sự hướng dẫn của Thạc Sĩ Phạm Thị Hồng Yến, tập trung vào việc phân tích tình hình xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường EU trong những năm gần đây. Bài luận văn không chỉ nêu rõ thực trạng mà còn chỉ ra những thách thức và cơ hội mà ngành thủy sản Việt Nam đang phải đối mặt khi thâm nhập vào thị trường châu Âu. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến xuất khẩu, từ quy định pháp lý đến sự cạnh tranh từ các quốc gia khác, qua đó có thể áp dụng kiến thức này vào thực tiễn kinh doanh hoặc nghiên cứu thêm về lĩnh vực xuất khẩu.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến xúc tiến thương mại, hãy tham khảo bài viết Nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến thương mại của sở công thương Hải Dương đến 2020 luận văn ths để hiểu rõ hơn về cách thức nâng cao hiệu quả trong lĩnh vực này. Ngoài ra, bài viết Luận văn vấn đề đầu tư trực tiếp nước ngoài của liên minh châu âu vào việt nam trong những năm gần đây sẽ cung cấp thêm thông tin về đầu tư từ EU, một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến xuất khẩu. Cuối cùng, bài viết Luận án tiến sĩ về thương mại hàng hóa giữa Việt Nam và các nước ASEAN phát triển cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về bối cảnh thương mại của Việt Nam trong khu vực, từ đó có thể so sánh và đối chiếu với tình hình xuất khẩu thủy sản sang EU.