CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ NGÀNH THỦY SẢN VÀ CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU LỚN CỦA THỦY SẢN VIỆT NAM I. ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA NGÀNH THỦY SẢN VIỆT NAM 1. Lợi thế của ngành thủy sản Việt Nam Việt Nam có bờ biển dài 3260 km, 112 cửa sông lạch, vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1triệu km2 với 4000 hòn đảo lớn nhỏ tạo nên, nhiều eo, vịnh, vụng, đầm, phá và nhiều ngư trường, trữ lượng hải sản gần 3 triệu tấn. Thềm lục địa nước ta rộng hơn 1 triệu km2 (gấp 3 lần diện tích đất liền), diện tích mặt nước 1triệu km2, trong đó diện tích khai thác đạt 553.000 km, nhưng hiện tại mới chỉ khai thác được khoảng 65% nguồn lực hải sản cho phép.
Theo đánh giá của Bộ Thủy Sản, tiềm năng phát triển nuôi trồng thủy sản nước ta rất lớn với 1,4 triệu ha mặt nước nội địa, 300.000 ha hồ chứa, sông suối, 600.000 ha ao hồ nhỏ ruộng trũng, có thể đưa vào sử dụng để nuôi trồng thủy sản. Năng suất nuôi trồng thủy sản mới chỉ bằng 10%- 25% năng suất của các nước trong khu vực. Đội tàu thuyền đánh bắt có khoảng 75.000 chiếc với công suất là 1,8 triệu CV, bình quân 20- 25 CV/tàu, 187 nhà máy chế biến được xây dựng từ những năm thập kỷ 80. Cũng theo Bộ Thủy sản, Việt Nam có trên 2000 loài cá, trong đó có khoảng 130 loài có giá trị kinh tế cao.
Bước đầu đánh giá trữ lượng cá biển trong vùng thềm lục địa khoảng trên 4,2 triệu tấn. Khả năng khai thác hàng năm khoảng 1,7 triệu tấn/năm. Tình hình cụ thể của các loài cá: - Cá tầng đáy: 856. - Cá nổi đại dương (chủ yếu là cá ngừ): 120.
Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Ngoài cá biển, Việt Nam còn có nhiều nguồn lợi tự nhiên khác như: trên 1600 loài giáp xác, sản lượng cho phép khai thác 50-60 nghìn tấn/năm, có giá trị cao là tôm biển, tôm hùm, tôm mũ ni, cua, ghẹ… và khoảng 2500 loài động vật thân mềm, trong đó có ý nghĩa cao nhất là mực và bạch tuộc, cho phép khai thác 60-70 nghìn tấn/năm. Hằng năm, biển còn có thể cho phép khai thác từ 45-50 nghìn tấn rong biển có giá trị kinh tế như rong câu, rong mơ. Bên cạnh có, còn có rất nhiều loài đặc sản quý như bào ngư, vích, đồi mồi, tổ yến, chim biển và có thể khai thác vây cá, bóng cá, ngọc trai. Việt Nam tuy có vùng biển trải dài khắp cả nước nhưng sản lượng khai thác không đồng đều ở các vùng.
Theo ước tính, vùng biển đặc quyền kinh tế của Việt Nam có tổng trữ lượng trên 3 triệu tấn cá, 50. Trong đó, phân bố trữ lượng và khả năng khai thác thủy sản giữa các vùng như sau: - Vịnh Bắc Bộ: trữ lượng 681.166 tấn, khả năng khai thác 271.467 tấn (16,3%) - Biển Trung Bộ: trữ lượng 606.399 tấn, khả năng khai thác 242.560 tấn(14,3%) - Biển Đông Nam Bộ: trữ lượng 2.889 tấn, khả năng khai thác 830. - Biển Tây Nam Bộ: trữ lượng: 506.679 tấn, khả năng khai thác 202. Từ tính chất đặc thù của vùng biển Việt Nam, là vùng biển nhiệt đới, nguồn lợi thủy sản rất đa dạng, phong phú về chủng loại với nhiều loài thủy sản quý hiếm có giá trị kinh tế cao.
Hơn nữa, với vị trí địa lý nằm gần những thị trường tiêu thụ thủy sản lớn như Trung Quốc, Nhật Bản. lại có khả năng giao lưu bằng đường bộ, đường thủy, đường không đều rất thuận lợi nên ngành kinh tế thủy sản Việt Nam có điều điều kiện để phát triển nhanh và bền vững. Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Theo ước tính ở Việt Nam, phần diện tích vùng biển có khả năng tiềm tàng lớn để gia tăng khai thác trong giai đoạn 1999- 2000 là 414.436 km2, chiếm 42,6% diện tích vùng đặc quyền kinh tế nước ta. Trong đó: - Vùng Bắc Bộ có diện tích: 47.
- Biển Nam Bộ: 233. Nhìn chung, với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng như đã nêu trên, trong thời gian hơn một thập kỷ qua, ngành thủy sản Việt Nam, đứng trước nhu cầu mạnh mẽ của thị trường thế giới cũng như nhu cầu về thực phẩm của đất nước đã có những bước phát triển ngoạn mục và trở thành một trong những ngành kinh tế then chốt của đất nước. Vai trò của ngành thủy sản trong nền kinh tế quốc dân Thủy sản là một ngành kinh tế- kỹ thuật đặc trưng gồm có các lĩnh vực: khai thác, nuôi trồng, chế biến, cơ khí hậu cần, dịch vụ thương mại, là một trong những ngành kinh tế biển quan trọng của đất nước. Sản xuất kinh doanh thủy sản dựa trên khai thác có hiệu quả, lâu bền nguồn lợi thủy sinh, tiềm năng các vùng nước, do vậy có mối liên ngành rất chặt chẽ với sản xuất nông nghiệp, vận tải, dầu khí, hải quan.
Xuất phát từ tiềm năng thiên nhiên to lớn, vai trò quan trọng của ngành thủy sản trong sự phát triển kinh tế- xã hội, nhất là trong 20 năm qua, với tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Ngành kinh tế thủy sản ngày càng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn và là một trong những hướng ưu tiên của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay. Ngành thủy sản được xác định là giữ vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, bởi vì nó khai thác và phát triển một trong những nguồn tài nguyên có thể tái sinh của đất nước. Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp 2.
Đóng góp của ngành thủy sản trong tổng sản phẩm quốc dân và sự tăng trưởng kinh tế. Hiện nay, thủy sản được coi là một ngành hàng thiết yếu và được ưa chuộng ở khắp nơi trên thế giới. Với tiềm năng thiên nhiên rộng lớn, ngành thủy sản Việt nam đã đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Theo thống kê của Bộ Thương Mại, thì sự đóng góp của ngành Nông Lâm Nghiệp và Thủy sản trong GDP qua các năm như sau: Bảng 1.
Cơ cấu đóng góp của các ngành trong GDP qua các năm Năm Cơ cấu (tính theo giá thực tế) Nông lâm Công nghiệp- nghiệp – Tổng số thủy sản Xây dựng Dịch vụ 1990 100,00 38,74 22,67 38,59 1991 100,00 40,49 23,79 35,27 1992 100,00 33,94 27,29 38,80 1993 100,00 29,87 28,90 41,23 1994 100,00 27,43 28,87 43,70 1995 100,00 27,18 28,76 44,06 1996 100,00 27,76 29,73 42,51 1997 100,00 25,77 32,08 42,15 1998 100,00 25,78 32,49 41,73 1999 100,00 25,43 34,49 40,08 2000 100,00 24,53 36,73 38,74 2001 100,00 23,25 38,12 38,63 2002 100,00 22,99 38,55 38,46 Nguồn: Thống kê của Bộ Thương Mại năm 2002 Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Qua bảng số liệu 1 ta thấy, mặc dù tỉ trọng đóng góp của của ngành Nông Lâm Nghiệp và Thủy Sản trong GDP có giảm đi qua các năm, từ 40,49% năm 1991 xuỗng còn 22,99% năm 2002 nhưng nhìn chung vẫn chiếm một tỉ trọng tương đối lớn tạo nên sự tăng trưởng đều đặn của GDP trong thập niên vừa qua. Sự đóng góp của ngành thủy sản đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước được thể hiện cụ thể như sau: - Nghề nuôi trồng thủy sản từ tự cung tự cấp đã đáp ứng được nhu cầu cho tiêu dùng trong và ngoài nước, đáng kể là sản lượng tôm sú nuôi phục vụ xuất khẩu của nước ta đứng vào khoảng thứ 3 trên thế giới (sản lượng năm 2001 đạt 105 nghìn tấn) xếp sau Thái Lan (năm 2001 đạt 250 nghìn tấn) và Indonexia (năm 2001 đạt 110 nghìn tấn); thủy sản xuất khẩu cũng đã được xác định là đối tượng chủ yếu để phát triển nuôi trồng. - Công nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu mà chủ yếu là công nghiệp đông lạnh thủy sản đã đóng vai trò to lớn hàng đầu về công nghiệp chế biến thực phẩm trong cả nước và thu hút nguyên liệu để sản xuất hàng hóa xuất khẩu. - Sự đóng góp đáng kể của khoa học công nghệ, trước hết phải kể đến kỹ thuật sinh sản nhân tạo để tạo nguồn tôm giống vào cuối những năm 80, cung cấp hơn 1 tỷ tôm giống các cỡ.
Trong công nghiệp đánh cá, dần dần tạo ra các công nghệ để chuyển dịch cơ cấu nghề khai thác theo hướng hiệu quả cao, du nhập nghề mới từ nước ngoài để có thể vươn ra khai thác xa bờ. - Hoạt động hợp tác quốc tế trên cả ba mặt: thị trường xuất khẩu, nguồn vốn nước ngoài và chuyển giao công nghệ đều đạt những kết quả khích lệ. Từ cơ chế “lấy phát triển xuất khẩu để tự cân đối, tự trang trải, tạo vốn đầu tư cho khai thác và nuôi trồng”, qua các thời kỳ Nhà nước thực hiện chính sách mở cửa đến nay, sản phẩm thủy sản nước ta đã có mặt tại hơn 60 nước và vùng lãnh thổ với một số sản phẩm bắt đầu có uy tín trên các thị trường quan trọng. Đỗ Thị Kim Thoa - Lớp Anh 6-K38_Khoa Kinh Tế Ngoại Thương Khoá luận tốt nghiệp Theo Bộ Thủy sản, dự tính toàn bộ sự đóng góp của ngành thủy sản đối với nền kinh tế quốc dân sẽ tăng từ mức hiện nay năm 2003 là 30.628 tỷ đồng lên 40.000 tỷ đồng vào năm 2010 với tốc độ phát triển trên dưới 20%/năm.
Tỷ trọng tương ứng của ngành thủy sản trong GDP sẻ giảm do có sự tăng trưởng mạnh trong các ngành khác của nền kinh tế. Song sự đóng góp của ngành thủy sản đối với ổn định xã hội và an toàn quốc gia là quan trọng vì tiềm năng phân phối thu nhập của ngành thủy sản ở các vùng nông thôn. Một bộ phận dân cư ở nông thôn, thường là các vùng nghèo vẫn tiếp tục sống dựa vào nghề cá và nuôi trồng thủy sản, bao gồm cả thiểu số ở vùng cao. Việc đẩy mạnh hiện đại hóa và công nghiệp hóa nghề cá và nuôi trồng thủy sản sẽ tăng cường năng lực của ngành này.
Bằng cách đó sẽ tăng cường sự đóng góp của ngành đối với xã hội. Hiện đại hóa và phát triển sẽ giúp thiết lập các ngành công nghiệp mới và những ngành công nghiệp đã hoàn thiện tại các vùng ven biển mà sẽ nâng cao vai trò của ngành thủy sản đối với việc phát triển kinh tế - xã hội.