Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nợ công là nguồn tài chính bù đắp thâm hụt ngân sách và tài trợ cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế - xã hội tại nhiều quốc gia đang phát triển. Tuy nhiên, việc gia tăng quy mô vay nợ cùng những hạn chế trong công tác quản lý, giám sát nợ công tiềm ẩn rủi ro tài chính vĩ mô trên diện rộng, điển hình qua cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp, Ai Len và sự lan rộng sang Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia.

Tại Việt Nam, nhu cầu vay nợ của Chính phủ tăng nhanh trong khi nguồn thu từ thuế và khai thác tài nguyên tăng không tương ứng. Danh mục nợ ngày càng lớn và phức tạp đòi hỏi phải có một cơ quan chuyên môn độc lập thực hiện kiểm tra tài chính, giám sát và công khai thông tin nhằm bảo đảm tính bền vững của ngân sách nhà nước. Kiểm toán Nhà nước (KTNN) là cơ quan chuyên môn về kiểm tra tài chính nhà nước cao nhất do Quốc hội thành lập. Mặc dù hàng năm KTNN vẫn thực hiện kiểm toán quyết toán ngân sách nhà nước và các dự án sử dụng vốn vay, nhưng vai trò của KTNN trong quản lý nợ công chưa được xác lập một cách toàn diện; các nội dung kiểm toán nợ công mới dừng ở mức độ lồng ghép đơn giản, chưa có cuộc kiểm toán độc lập về quản lý nợ công và chất lượng công khai thông tin chưa cao. Đây là khoảng trống nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn cần được giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục tiêu tổng quát: Đánh giá thực trạng vai trò của KTNN trong quản lý nợ công trên cơ sở khoa học và thực tiễn, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm xác lập và nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công tại Việt Nam.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công.
    2. Đánh giá thực trạng vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam giai đoạn 2006–2013, chỉ rõ sự cần thiết, các điểm mạnh và điểm hạn chế.
    3. Đề xuất các giải pháp có cơ sở khoa học nhằm xác lập và nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội.

Câu hỏi nghiên cứu

  1. Câu hỏi 1: Tổ chức quản lý nợ công như thế nào? KTNN có vị trí, chức năng gì trong quản lý nợ công? Vai trò của KTNN trong quản lý nợ công là như thế nào?
  2. Câu hỏi 2: Thực trạng việc triển khai thực hiện vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam?
  3. Câu hỏi 3: Nhóm giải pháp nào cần đưa ra để nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở góc độ vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ. Luận án tập trung phân tích 3 vai trò chính từ góc độ nhiệm vụ: tổ chức kiểm toán quản lý nợ công; đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công; công khai kết quả kiểm toán về quản lý và sử dụng nợ công.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung vào 3 vai trò bắt nguồn từ nhiệm vụ của KTNN; không đi sâu vào việc xác định vị trí pháp lý độc lập hay chức năng kiểm tra giám sát vốn đã được Tổ chức các Cơ quan Kiểm toán Tối cao Quốc tế (INTOSAI) công nhận.
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn quản lý nợ công và hoạt động kiểm toán tại Việt Nam. Về kinh nghiệm quốc tế, luận án chọn mẫu khảo sát tại Hy Lạp (quốc gia chưa xác lập tốt vai trò KTNN dẫn đến đổ vỡ nợ), Mỹ (quốc gia xác lập tốt vai trò KTNN và quản lý nợ hiệu quả) và Trung Quốc (quốc gia có hệ thống chính trị tương đồng với Việt Nam).
  • Phạm vi thời gian: Giai đoạn đánh giá thực trạng từ năm 2006 (năm ban hành Luật KTNN) đến năm 2013 (thời điểm có số liệu nợ công chính thức được công bố). Đề xuất quan điểm, định hướng và giải pháp thực hiện đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

  1. Các công trình nghiên cứu trong nước:

    • Đề tài khoa học cấp Bộ của TS. Lê Đình Thăng (2007/2008): “Tổ chức kiểm toán các khoản vay nợ của Chính phủ”, nghiên cứu các vấn đề kiểm toán nợ Chính phủ trước khi Luật Quản lý nợ công năm 2009 ra đời.
    • Đề tài khoa học cấp Bộ của PGS.TS. Nguyễn Đình Hòa (2012): “Các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài chính công sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 – 2009 và khủng hoảng nợ công tại một số nước Châu Âu dưới góc nhìn kiểm toán”, phân tích số liệu khủng hoảng nợ công châu Âu và vai trò của kiểm toán tài chính công.
    • Luận án tiến sĩ của TS. Vũ Thanh Hải (2013): “Hoàn thiện tổ chức kiểm toán nợ công tại Việt Nam”, hệ thống hóa lý luận về nợ công và kiểm toán nợ công giai đoạn 2006–2012 nhưng chưa đi sâu vào toàn diện vai trò của KTNN trong quản lý nợ công.
    • Luận án tiến sĩ của Đỗ Thị Ánh Tuyết (2013): “Các giải pháp tổ chức kiểm toán môi trường ở Việt Nam”.
    • Các bài viết và báo cáo chuyên đề: Dương Thị Bình Minh và Sử Đình Thành (2009) trên Tạp chí Kinh tế phát triển; Trần Văn Giao (2010) trên Tạp chí Cộng sản; Hoàng Hải (2010) trên Tạp chí Tài chính điện tử; Vũ Thành Tự Anh (2010); Thịnh Văn Vinh (2010); Hoàng Ngọc Nắng Hồng (2013); báo cáo đánh giá của UNDP (2004) và Ủy ban Kinh tế của Quốc hội kết hợp cùng UNDP (2013).
    • Kỷ yếu các hội thảo chuyên đề: Hội thảo của Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội (9/2010) về “Nợ công – kinh nghiệm quốc tế và những bài học cho Việt Nam”; Hội thảo của KTNN (12/2010) về “Tổ chức kiểm toán đối với việc quản lý và sử dụng các khoản nợ công”; Hội thảo quốc tế do Bộ Tài chính, UNCTAD và WB tổ chức (10/2011) về “Quản lý nợ công và nợ nước ngoài quốc gia”.
  2. Các công trình và hướng dẫn quốc tế:

    • Nghiên cứu về khái niệm và tính bền vững của nợ: Benedict Clement, Rina Bhattacharya, Toan Quoc Nguyen (2003); Claudio M. Loser (UN, 2004); Nouriel Roubini (2001); Abdul Abiad và Jonathan D. Ostry (IMF, 2003); Marco Arnone và Andrea F. Presbitero (2006); Eduardo Ley (WB, 2009); Marco Arnone, Luca Bandiera và Andrea F. Presbitero (2007).
    • Hướng dẫn và chuẩn mực kiểm toán nợ công: Hướng dẫn quản lý nợ của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2001, 2003); Hướng dẫn kiểm toán nợ công cho các nước đang phát triển của Hiệp hội các Cơ quan Kiểm toán Tối cao châu Á (ASOSAI, 2009); Hướng dẫn kiểm toán nợ công và kiểm toán hoạt động nợ công của INTOSAI (2007, 2009) và chuẩn mực ISSAI (2007).

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào việc mô tả thực trạng nợ công, sự cần thiết của việc kiểm toán hoặc kỹ thuật tổ chức cuộc kiểm toán các khoản nợ Chính phủ riêng lẻ. Chưa có công trình nào tiếp cận và làm rõ vai trò của KTNN trong quản lý nợ công một cách có hệ thống dưới 3 góc độ: vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ; đồng thời chưa phân tích đầy đủ các nhân tố tác động cũng như chưa xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả việc thực hiện vai trò này tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Khái niệm nợ và nợ công:
    • Theo IMF (2001): Nợ là toàn bộ số dư còn lại tại một thời điểm nhất định của các khoản vay mà một đối tượng có nghĩa vụ thanh toán cả gốc và lãi trong tương lai. Nợ công là nghĩa vụ nợ của khu vực công (Chính phủ trung ương, chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương, các tổ chức độc lập khi vỡ nợ Nhà nước chịu trách nhiệm trả nợ).
    • Theo UNCTAD và INTOSAI: Nợ công được tính theo nghĩa rộng, bao gồm cả nợ của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tự vay tự trả và nghĩa vụ chi trả bảo hiểm xã hội.
    • Theo Luật Quản lý nợ công Việt Nam (2009): Nợ công tiếp cận theo nghĩa hẹp, gồm 3 bộ phận: (1) Nợ Chính phủ; (2) Nợ được Chính phủ bảo lãnh; (3) Nợ chính quyền địa phương.
Tiêu chí phân loại phạm vi nợ công Theo quy định Việt Nam Theo WB, UNCTAD, INTOSAI
1. Nợ Chính phủ
- Tín phiếu Kho bạc Nhà nước, Trái phiếu Chính phủ, công trái Có Có
- Vay từ Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ lãi suất Không tính Có
- Vay Quỹ Bảo hiểm xã hội, SCIC Có Có
- Nợ nước ngoài (đa phương, song phương, thương mại) Có Có
2. Nợ được Chính phủ bảo lãnh
- Bảo lãnh vay trong nước (VDB, NHCSXH, TCT Đường cao tốc...) Có Có
- Bảo lãnh doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vay nước ngoài Có Có
3. Nợ chính quyền địa phương
- Trái phiếu chính quyền địa phương Có Có
- Vay tồn ngân Kho bạc Nhà nước Có Không tính
4. Nợ của doanh nghiệp Nhà nước
- Các khoản vay, phát hành trái phiếu của VDB không bảo lãnh Không tính Có
- Khoản vay trong nước của NHCSXH, TCT Đường cao tốc, Vinashin... không bảo lãnh Không tính Có
  • Khung lý thuyết vai trò của KTNN: Dựa trên Từ điển Oxford (2007) và Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), luận án xác lập khung lý thuyết tiếp cận vai trò của KTNN theo 3 khía cạnh:
    • Vị trí pháp lý: Cơ quan chuyên môn hoạt động độc lập, nằm ngoài hệ thống cơ quan quản lý nợ công trực thuộc Chính phủ.
    • Chức năng: Đánh giá, xác nhận tính trung thực, hợp pháp của báo cáo nợ công; tư vấn và kiến nghị về quản lý nợ công với Quốc hội và Chính phủ.
    • Nhiệm vụ (3 vai trò chính): (1) Tổ chức kiểm toán quản lý nợ công; (2) Đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công; (3) Công khai kết quả kiểm toán về quản lý và sử dụng nợ công.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích định tính kết hợp thống kê mô tả:

  • Quy trình nghiên cứu 4 bước:
    • Bước 1: Nghiên cứu lý thuyết về nợ công, quản lý nợ công, chức năng nhiệm vụ của KTNN, xây dựng khung lý thuyết.
    • Bước 2: Thu thập và xử lý dữ liệu thứ cấp và sơ cấp.
    • Bước 3: Phân tích kết quả thực hiện vai trò của KTNN giai đoạn 2006–2013, chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân.
    • Bước 4: Đề xuất định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của KTNN đến năm 2020.
  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Báo cáo kiểm toán tổng quyết toán NSNN (2006–2013), báo cáo kiểm toán chuyên đề Trái phiếu Chính phủ (2010), báo cáo nhanh nợ công của KTNN (2013); báo cáo quyết toán NSNN và quản lý nợ của Bộ Tài chính (2006–2013); báo cáo dư nợ của Ngân hàng Nhà nước; niên giám thống kê tài khoản quốc gia và GDP của Tổng cục Thống kê.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Phát phiếu điều tra và phỏng vấn trực tiếp chuyên gia:
    • Chuyên gia hoạch định chính sách: TS. Đoàn Ngọc Xuân (Ban Kinh tế Trung ương), ThS. Nguyễn Hoàng Việt (Văn phòng Chính phủ), ThS. Nguyễn Hoàng Hương (Bộ Tài chính), TS. Vũ Đình Ánh (Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương), TS. Lê Anh Minh (Bộ Tài nguyên và Môi trường).
    • Đại diện cơ quan quản lý nợ: TS. Nguyễn Thành Đô, ThS. Nguyễn Anh Tuấn (Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại - Bộ Tài chính).
    • Kiểm toán viên trực tiếp thực hiện kiểm toán: TS. Vũ Thanh Hải, TS. Lê Đình Thăng, TS. Hoàng Văn Lương, ThS. Nguyễn Minh Giang, ThS. Lại Khánh Chi. Dữ liệu phỏng vấn được mã hóa và tổng hợp phân tích định tính.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng kết hệ thống công trình nghiên cứu liên quan đến nợ công, kiểm toán nợ công trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các kết quả đạt được của các đề tài cấp Bộ (Lê Đình Thăng, Nguyễn Đình Hòa), luận án tiến sĩ (Vũ Thanh Hải) và các hướng dẫn của WB, IMF, INTOSAI, ASOSAI. Chương 1 chỉ rõ các nghiên cứu trước đây chưa tiếp cận vai trò của KTNN dưới góc độ kết hợp cả vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ, khẳng định việc nghiên cứu vai trò của KTNN trong quản lý nợ công là một khoảng trống khoa học cần được thực hiện.

Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong quản lý nợ công

Chương 2 trình bày bản chất kinh tế của nợ công, vai trò bù đắp bội chi, tài trợ đầu tư phát triển và kích thích tăng trưởng. Về quản lý nợ công, chương phân tích các nguyên tắc: phân định rõ trách nhiệm; bảo đảm công khai, minh bạch; bảo đảm an toàn nợ; bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn vay.

Về mô hình tổ chức quản lý nợ, chương phân biệt mô hình tập trung (Cơ quan Quản lý nợ - DMO trực thuộc Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước hoặc hoạt động độc lập như Ireland, Bồ Đào Nha) và mô hình phi tập trung.

Chương 2 cụ thể hóa 3 vai trò của KTNN trong quản lý nợ công:

  1. Tổ chức kiểm toán quản lý nợ công: Gồm 3 giai đoạn (chuẩn bị, thực hiện, lập báo cáo) với 16 nội dung kiểm toán thuộc 7 hợp phần theo hướng dẫn của ASOSAI (2009):
Hợp phần kiểm toán nợ công Nội dung kiểm toán chi tiết
1. Quản lý nhà nước và chiến lược - Kiểm toán khung pháp lý về nợ công
- Kiểm toán cơ cấu quản lý về nợ công
- Kiểm toán chiến lược quản lý nợ công
2. Hoạt động quản lý nợ - Kiểm toán hoạt động quản lý nợ công
- Kiểm toán hệ thống kiểm tra, giám sát nợ công
3. Phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô - Kiểm toán việc phối hợp giữa chính sách nợ công với chính sách tài khóa
- Kiểm toán việc phối hợp giữa chính sách nợ công với chính sách tiền tệ
4. Vay nợ và hoạt động tài chính - Kiểm toán việc vay nợ thị trường trong nước
- Kiểm toán việc vay nợ thị trường nước ngoài
- Kiểm toán bảo lãnh cho vay, cho vay lại vốn vay và tài sản phái sinh
5. Quản lý rủi ro và ngân lưu - Kiểm toán việc dự báo ngân lưu và quản lý số dư tiền mặt
- Kiểm toán quản lý rủi ro hoạt động
6. Quản trị dữ liệu và nhân lực - Kiểm toán việc quản trị nợ và an toàn dữ liệu
- Kiểm toán việc phân định nhiệm vụ, năng lực nhân sự và liên tục hoạt động
7. Ghi chép, báo cáo và sử dụng nợ - Kiểm toán các ghi chép nợ và báo cáo nợ
- Kiểm toán việc sử dụng nợ công
  1. Đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công: Đánh giá chỉ tiêu an toàn (nợ/GDP, nợ/thu ngân sách), đánh giá tính kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn ODA, trái phiếu Chính phủ, cảnh báo sớm rủi ro vĩ mô, phát hiện kẽ hở pháp luật để kiến nghị Quốc hội, Chính phủ hoàn thiện cơ chế.
  2. Công khai kết quả kiểm toán: Bảo đảm tính xác thực của thông tin nợ công cho Quốc hội, công chúng, nhà đầu tư và các tổ chức quốc tế (IMF, WB).

Chương 2 cũng nêu 3 tiêu chí đánh giá vai trò KTNN (kết quả xử lý tài chính, phát hiện sai phạm tham nhũng lãng phí, kiến nghị chấn chỉnh chính sách); phân tích các yếu tố ảnh hưởng nội tại (chất lượng kiểm toán, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực) và yếu tố bên ngoài (môi trường pháp luật, kinh tế, xã hội). Luận án phân tích bài học từ Tòa thẩm kế Hy Lạp (GHCA - thành lập ngày 27/9/1833 theo mô hình Pháp, quy định tại Điều 98 Hiến pháp 1975) trong bối cảnh Hy Lạp rơi vào khủng hoảng nợ công với quy mô nợ 320 tỷ Euro (2010), đạt 172% GDP (2012), 189% GDP (2013), thâm hụt ngân sách 13,6% (2010) và thâm hụt vãng lai 9% GDP.

Chương 3: Phân tích thực trạng vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong quản lý nợ công ở Việt Nam

Chương 3 phân tích thực tế thực hiện vai trò của KTNN giai đoạn 2006–2013. Kết quả chỉ ra các hạn chế căn bản:

  • Khuôn khổ pháp lý chưa quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của KTNN trong việc giám sát nợ công và trách nhiệm báo cáo định kỳ/đột xuất của cơ quan quản lý nợ cho KTNN.
  • KTNN chưa thành lập đơn vị chuyên trách riêng chịu trách nhiệm kiểm toán nợ công hàng năm; chưa có quy trình, chuẩn mực kiểm toán nợ công chuyên biệt.
  • Nguồn nhân lực chuyên sâu về nợ công rất mỏng. Tại thời điểm nghiên cứu, KTNN Việt Nam chỉ có khoảng 20 kiểm toán viên có chuyên môn về nợ công trên tổng số 1.800 kiểm toán viên (phục vụ quy mô dân số hơn 90 triệu người), thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác:
Quốc gia Số lượng kiểm toán viên nợ công / Tổng số KTV Quy mô dân số
Việt Nam 20 / 1.800 Hơn 90 triệu người
Trung Quốc 15.000 (tổng KTV) 1,32 tỷ người
Ấn Độ 12.000 (tổng KTV) 1,28 tỷ người
Malaysia 280 / 3.500 29,72 triệu người
Thái Lan 300 / 2.300 67 triệu người
  • Nhận thức của các cấp, các ngành và xã hội về vai trò kiểm toán nợ công của KTNN còn chưa đầy đủ.
  • Cơ chế phối hợp công tác giữa KTNN với các cơ quan quản lý nợ (Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước) và cơ quan thanh tra còn chồng chéo, chưa hiệu quả.

Chương 4: Quan điểm, định hướng và giải pháp nâng cao vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong quản lý nợ công ở Việt Nam

Chương 4 xác lập các định hướng phát triển đến năm 2020 và đề xuất 5 nhóm giải pháp:

  1. Nâng cao vị trí pháp lý của KTNN trong quản lý nợ công: Luật hóa quy định bắt buộc kiểm toán nợ công và thẩm quyền tiếp cận thông tin nợ.
  2. Nâng cao chất lượng và hiệu lực kiểm toán: Xây dựng và ban hành quy trình, cẩm nang, tiêu chí kiểm toán nợ công theo chuẩn mực quốc tế INTOSAI/ASOSAI; chuyển dịch mạnh sang kiểm toán hoạt động.
  3. Hoàn thiện bộ máy, tuyển dụng và đào tạo nhân lực: Thành lập bộ phận chuyên trách kiểm toán nợ công, tổ chức đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ tài chính - nợ quốc tế cho kiểm toán viên.
  4. Phát triển cơ sở vật chất, thông tin tuyên truyền và công nghệ thông tin: Hiện đại hóa hạ tầng phân tích dữ liệu nợ công, công khai minh bạch kết quả kiểm toán trên các phương tiện truyền thông.
  5. Tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế: Tiếp thu kinh nghiệm, tài liệu hướng dẫn và chương trình đào tạo từ INTOSAI, ASOSAI, WB, IMF.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận và khoa học

  • Xây dựng khung lý thuyết tiếp cận vai trò của KTNN trong quản lý nợ công trên 3 bình diện: vị trí pháp lý độc lập ngoài hệ thống quản lý nợ; chức năng kiểm tra, giám sát, xác nhận và tư vấn; nhiệm vụ với 3 vai trò cụ thể (tổ chức kiểm toán, đánh giá kiến nghị, công khai kết quả kiểm toán).
  • Hệ thống hóa 16 nội dung kiểm toán nợ công thuộc 7 hợp phần theo chuẩn mực ASOSAI và bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả thực hiện vai trò của KTNN.
  • Phân tích kinh nghiệm quốc tế (Hy Lạp, Mỹ, Trung Quốc) để rút ra bài học thực tiễn cho các nước đang phát triển trong việc thiết lập vị thế pháp lý của cơ quan kiểm toán tối cao đối với an ninh tài chính quốc gia.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phân tích và chỉ rõ 5 nhóm nguyên nhân, điểm nghẽn hạn chế vai trò của KTNN tại Việt Nam giai đoạn 2006–2013 (về pháp lý, cơ cấu tổ chức, quy trình kỹ thuật, số lượng nhân sự 20/1.800 KTV và cơ chế phối hợp liên ngành).
  • Đề xuất hệ thống 5 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng thực tế nhằm nâng cao vị thế pháp lý, hoàn thiện quy trình kiểm toán chuyên đề nợ công, xây dựng bộ máy chuyên trách và tăng cường đào tạo kiểm toán viên đáp ứng yêu cầu quản lý nợ công đến năm 2020.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu

  • Phạm vi số liệu thực chứng nợ công dừng ở năm 2013 do tính sẵn có của dữ liệu công khai tại thời điểm nghiên cứu; chưa có số liệu chính thức của năm 2014 trở đi.
  • Về phạm vi khái niệm nợ công, luận án nghiên cứu theo quy định của Luật Quản lý nợ công 2009 (nghĩa hẹp), chưa bao gồm toàn bộ nợ tự vay tự trả của các doanh nghiệp nhà nước và các nghĩa vụ dự phòng theo thông lệ quốc tế rộng hơn của WB, IMF.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Nghiên cứu áp dụng quy trình kiểm toán hoạt động chuyên sâu đối với từng loại công cụ nợ cụ thể (trái phiếu quốc tế, các hợp đồng vay phái sinh).
  • Nghiên cứu mở rộng khung đánh giá kiểm toán sang khu vực nợ của doanh nghiệp nhà nước và nợ tiềm ẩn nhằm đánh giá rủi ro tài khóa toàn diện khi các quy định pháp luật về nợ công được sửa đổi.

Giá trị tham khảo

  • Đối với Kiểm toán Nhà nước: Cung cấp cơ sở khoa học để nghiên cứu xây dựng cẩm nang, quy trình kiểm toán nợ công chuyên biệt; làm tài liệu tham khảo để xây dựng kế hoạch kiểm toán chuyên đề và đào tạo đội ngũ kiểm toán viên chuyên sâu.
  • Đối với Cơ quan quản lý nợ (Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước): Cung cấp tài liệu tham khảo để hoàn thiện mô hình tổ chức DMO, thống nhất tiêu chí giám sát và cải thiện quy trình phối hợp, cung cấp thông tin nợ công minh bạch.
  • Đối với Quốc hội và Chính phủ: Cung cấp luận cứ thực tiễn để sửa đổi, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến Luật KTNN, Luật Quản lý nợ công và Luật Ngân sách nhà nước.
  • Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành: Cung cấp hệ thống tài liệu tổng quan, dữ liệu khảo sát chuyên gia và khung lý thuyết phục vụ cho việc giảng dạy, nghiên cứu sâu hơn về kiểm toán tài chính công.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án tiếp cận vai trò của KTNN trong quản lý nợ công theo những góc độ nào?

Luận án tiếp cận vai trò của KTNN dưới 3 góc độ:

  • Vị trí pháp lý: Cơ quan chuyên môn độc lập, nằm ngoài hệ thống quản lý nợ công của Chính phủ.
  • Chức năng: Kiểm tra, xác nhận tính trung thực, hợp pháp của báo cáo nợ công và tư vấn, kiến nghị chính sách.
  • Nhiệm vụ (3 vai trò chính): Tổ chức kiểm toán quản lý nợ công; đánh giá, kiến nghị quản lý nợ công; công khai kết quả kiểm toán về quản lý và sử dụng nợ công.

2. Sự khác biệt căn bản giữa phạm vi nợ công của Việt Nam và thông lệ quốc tế (WB, UNCTAD, INTOSAI) là gì?

Theo Luật Quản lý nợ công 2009 của Việt Nam, nợ công chỉ gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Trong khi đó, chuẩn quốc tế của WB, UNCTAD, INTOSAI tính thêm các khoản vay từ Ngân hàng Nhà nước để hỗ trợ lãi suất và các khoản nợ của doanh nghiệp nhà nước tự vay tự trả không có bảo lãnh của Chính phủ.

3. Thực trạng đội ngũ kiểm toán viên nợ công của KTNN Việt Nam giai đoạn nghiên cứu như thế nào?

Số lượng kiểm toán viên có chuyên môn sâu về nợ công rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 20 người trên tổng số 1.800 kiểm toán viên của toàn ngành (phục vụ dân số hơn 90 triệu người), thấp hơn nhiều so với các nước như Thái Lan (300/2.300 KTV) hay Malaysia (280/3.500 KTV).

4. Báo cáo kiểm toán nợ công của KTNN bao gồm những nội dung chính nào theo chuẩn ASOSAI?

Kiểm toán nợ công gồm 16 nội dung thuộc 7 hợp phần: quản lý nhà nước và phát triển chiến lược; hoạt động quản lý nợ; phối hợp chính sách kinh tế vĩ mô (tài khóa, tiền tệ); hoạt động vay nợ và tài chính; dự báo ngân lưu và quản lý rủi ro; quản trị dữ liệu và nhân lực; ghi chép, báo cáo và sử dụng nợ công.

5. Bài học kinh nghiệm từ cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp được luận án chỉ ra là gì?

Hy Lạp rơi vào khủng hoảng với mức nợ công lên tới 320 tỷ Euro (2010), đạt 172% GDP (2012) và 189% GDP (2013), thâm hụt ngân sách kéo dài do việc ngụy tạo số liệu kinh tế. Tòa thẩm kế Hy Lạp (GHCA) chưa phát huy hiệu quả vai trò giám sát, cảnh báo sớm độc lập, cho thấy sự cần thiết phải xác lập cơ chế kiểm toán độc lập, công khai minh bạch thông tin nợ công để bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.


Kết luận

Luận án “Vai trò của KTNN trong việc quản lý nợ công ở Việt Nam” đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và xây dựng khung phân tích toàn diện về vai trò của cơ quan kiểm toán tối cao đối với an ninh tài chính quốc gia. Thông qua việc phân tích thực trạng giai đoạn 2006–2013 và khảo sát kinh nghiệm quốc tế, công trình đã chỉ rõ những hạn chế mang tính cấu trúc về pháp lý, bộ máy và năng lực kiểm toán nợ công tại Việt Nam. Các giải pháp đề xuất có giá trị thực tiễn cao, đóng góp cơ sở khoa học cho việc hoàn thiện thể chế quản lý tài chính công và nâng cao hiệu lực kiểm toán nợ công đến năm 2020.