Luận án tiến sĩ: Vai trò của KTN trong quản lý nợ công ở Việt Nam

Chuyên khảo Vai trò của ktn trong quản lý nợ công tại việt nam phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực hiện nay

Trường đại học

trường đại học

Chuyên ngành

quản lý nợ công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2013

135
11
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

PHẦN MỞ ĐẦU

1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

1.1. Mục tiêu tổng quát

1.2. Mục tiêu cụ thể

2. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

2.1. Câu hỏi 1

2.2. Câu hỏi 2

2.3. Câu hỏi 3

3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

3.1. Đối tượng nghiên cứu

3.2. Phạm vi nghiên cứu

4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Khung lý thuyết

4.2. Quy trình nghiên cứu

4.3. Các phương pháp nghiên cứu

4.3.1. Phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử

4.3.2. Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp

4.3.3. Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp

4.4. Kỹ thuật xử lý số liệu

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI

5.1. Về mặt khoa học

5.2. Về mặt thực tiễn

Tóm tắt

I. Sự cần thiết của luận án

Luận án này được hình thành trong bối cảnh ngày càng gia tăng nợ công ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nợ công không chỉ là nguồn tài chính quan trọng để bù đắp thâm hụt ngân sách mà còn hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế xã hội. Tuy nhiên, việc lạm dụng nợ công và quản lý yếu kém đã dẫn đến những rủi ro tài chính vĩ mô. Khủng hoảng nợ công tại châu Âu đã cho thấy sự cần thiết phải có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả. Ở Việt Nam, nợ công cũng tăng nhanh do nhu cầu đầu tư phát triển, trong khi nguồn thu từ thuế không đáng kể. Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc quản lý nợ công, yêu cầu phải có một cơ quan độc lập như Kiểm toán Nhà nước (KTNN) để giám sát và công khai thông tin. KTNN đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và bền vững của tài chính ngân sách, từ đó ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai.

II. Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của luận án là nghiên cứu và đánh giá thực trạng vai trò của KTNN trong quản lý nợ công ở Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao vai trò này. Mục tiêu cụ thể bao gồm xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu, đánh giá thực trạng vai trò của KTNN trong giai đoạn 2006-2013 và đề xuất các giải pháp khoa học phù hợp với bối cảnh hội nhập kinh tế. Câu hỏi nghiên cứu được đặt ra nhằm làm rõ tổ chức quản lý nợ công, vai trò của KTNN trong quản lý nợ công, và những giải pháp cần thiết để nâng cao vai trò này. Việc xác định rõ vai trò của KTNN sẽ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công, đảm bảo an toàn tài chính quốc gia.

III. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu vai trò của KTNN trong quản lý nợ công từ góc độ vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của KTNN. Phạm vi nghiên cứu bao gồm việc xác định vị trí pháp lý của KTNN trong quản lý nợ công, chức năng kiểm toán và đánh giá nợ công, cùng với việc công khai kết quả kiểm toán. Nghiên cứu sẽ giới hạn trong bối cảnh Việt Nam, đồng thời tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia khác như Mỹ, Hy Lạp và Trung Quốc. Thời gian nghiên cứu sẽ được xem xét từ năm 2006 đến 2013, thời điểm có sự thay đổi lớn về luật pháp liên quan đến quản lý nợ công.

IV. Khung lý thuyết

Khung lý thuyết trong luận án sẽ được xây dựng dựa trên các định nghĩa về vai trò và chức năng của KTNN trong quản lý nợ công. KTNN cần được xác định là cơ quan độc lập, không nằm trong hệ thống quản lý nợ công nhưng có chức năng kiểm tra, giám sát và tư vấn về quản lý nợ công. Nghiên cứu sẽ phân tích ba vai trò chính của KTNN: tổ chức kiểm toán nợ công, đánh giá và kiến nghị quản lý nợ công, và công khai kết quả kiểm toán. Khung lý thuyết này sẽ làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao vai trò của KTNN trong quản lý nợ công tại Việt Nam.

V. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Phương pháp duy vật biện chứng sẽ giúp phân tích các nguyên lý cơ bản về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công. Dữ liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ các báo cáo, tài liệu và nghiên cứu trước đó, trong khi dữ liệu sơ cấp sẽ được thu thập thông qua phỏng vấn chuyên gia và khảo sát ý kiến từ các cơ quan liên quan. Kỹ thuật xử lý số liệu sẽ bao gồm phân tích thống kê mô tả để làm rõ thực trạng nợ công và vai trò của KTNN trong giai đoạn 2006-2013, từ đó đưa ra những nhận định và đánh giá cụ thể.

VI. Những đóng góp mới của đề tài

Luận án này không chỉ làm rõ lý luận về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công mà còn đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nợ công ở Việt Nam. Những đóng góp mới bao gồm việc xác định vai trò pháp lý của KTNN, chức năng kiểm tra và giám sát nợ công, và nhiệm vụ cụ thể của KTNN trong quản lý nợ công. Nghiên cứu cũng rút ra bài học kinh nghiệm từ các quốc gia khác, nhằm áp dụng vào bối cảnh Việt Nam. Điều này sẽ giúp nâng cao nhận thức về vai trò của KTNN và cải thiện hiệu quả quản lý nợ công, từ đó bảo đảm an ninh tài chính quốc gia.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 của Luận án đã làm rõ những nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, Luận án đã khái quát các công trình nghiên cứu ở trong nước theo những nội dung cơ bản rút ra trong lĩnh vực quản lý nợ công cũng như KTNN đối với quản lý nợ công. Các công trình nghiên cứu tập trung vào những vấn đề như sự cần thiết phải thiết lập vai trò của KTNN trong quản lý nợ công, cách thức tổ chức kiểm toán nợ công, thực trạng quản lý nợ công. Thứ hai, luận án đã khái quát được các công trình nghiên cứu ở nước ngoài theo lĩnh vực có liên quan như nợ công, quản lý nợ công và các vai trò của KTNN trong quản lý nợ công, khẳng định được sự cần thiết phải thiết lập vai trò của KTNN trong quản lý nợ công. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra một số vai trò của KTNN trong lĩnh vực quản lý nợ công.

Thứ ba, luận án xác định khoảng trống nghiên cứu về vai trò của KTNN trong quản lý nợ công theo hướng tiếp cận ba góc độ vị trí pháp lý, chức năng và nhiệm vụ của KTNN trong quản lý nợ công. Trong đó tập trung phân tích vai trò của KTNN trong quản lý nợ công trên góc độ nhiệm vụ của KTNN trong quản lý nợ công. 30 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA KIỂM TOÁN NHÀ NƯỚC TRONG QUẢN LÝ NỢ CÔNG 2. Nợ công và quản lý nợ công 2.

Khái niệm nợ công Cho đến nay các khái niệm liên quan đến nợ công vẫn còn rất nhiều tranh luận, vẫn chưa có sự thống nhất cao tại các quốc gia, nhất là các quốc gia đang phát triển, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đàn khoa học, nghị trường của Quốc hội hay các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới và các tổ chức quốc tế. Do vậy, để hiểu rõ hơn về nợ công, chúng ta phải xem xét một số khái niệm để có sự thống nhất trong cách sử dụng. Khái niệm nợ: Theo IMF [43], “Nợ là toàn bộ số dư còn lại tại một thời điểm nhất định của các khoản vay mà một đối tượng nào đó có nghĩa vụ phải thanh toán (cả gốc và lãi) vào một hoặc nhiều thời điểm trong tương lai” Theo định nghĩa của UNCTAD [55], “nợ là khoản mà người đi vay phải trả, trả vốn hoặc cả vốn lẫn lãi, trả bằng tiền hoặc bằng hàng hóa dịch vụ cho người cho vay ở một hoặc nhiều thời điểm trong tương lai”. Nợ như vậy bao gồm nợ vay, nợ từ việc bán trái phiếu, tiền trả trước của khách hàng, nghĩa vụ chi trả khách (như lương hưu).

Hiện nay các tổ chức quốc tế trong đó có UNCTAD khuyến cáo các nước nên tính toán và theo dõi nợ công theo nghĩa rộng này, bởi vì tại nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, khu vực quốc doanh rất lớn. Theo Luật Quản lý nợ công [29], thì Nợ được hiểu là “khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định của pháp luật Việt Nam” Theo cách hiểu này, nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh và liên quan đến việc vay của người vay. Khái niệm nợ công: Hiện nay trên thế giới tồn tại hai cách quan niệm về nợ công: theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng và theo chuẩn quốc tế được IMF định nghĩa thì nợ công là 31 Nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của các tổ chức sau: - Chính phủ trung ương và các cơ quan của nó; - Chính quyền địa phương các cấp như bang, tỉnh, thành phố; - Ngân hàng trung ương; - Các tổ chức độc lập (Các công ty tài chính và phi tài chính; các ngân hàng thương mại, các đơn vị công ích…) khi: + Ngân sách của tổ chức đó là do Chính phủ báo cáo phê duyệt; + Chính phủ sở hữu hơn 50% số cổ phần có quyền biểu quyết hay hơn nửa số thành viên ban giám đốc là các đại diện của Chính phủ; +Khi vỡ nợ, nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ của tổ chức đó.

(IMF, 2001, Guidelines for Public dept management) Theo cách tính của UNCTAD thì nợ công, ngoài nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của các chính quyền địa phương còn bao gồm khoản nợ của các doanh nghiệp Nhà nước theo cơ chế tự vay tự trả (có thể là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, Tập đoàn kinh tế của Nhà nước, các Tổng công ty của Nhà nước, các khoản nợ tương ứng với tỷ lệ % phần góp vốn của Nhà nước tại các Công ty cổ phần; nếu các công ty này phá sản Nhà nước sẽ mất đi phần vốn này) với quỹ bảo hiểm xã hội mà Nhà nước sử dụng để mua trái phiếu, công trái Chính phủ, hay đầu tư vào các công trình kinh tế trọng điểm của quốc gia và khoản tiền này Nhà nước phải chi trả cho người lao động nghỉ hưu trong tương lai. Trong hướng dẫn chung về khái niệm nợ công được phát hành bởi Hiệp hội các cơ quan Kiểm toán tối cao INTOSAI đã định nghĩa nợ công như sau: (1) Khoản phải trả hay các cam kết khác được gánh chịu trực tiếp bởi các cơ quan công quyền như là: Chính phủ trung ương, hay một Chính phủ liên bang, tùy thuộc vào thể chế chính trị của từng nước; Các Chính phủ bang, tỉnh, đô thị, khu vực và địa phương khác; Các doanh nghiệp, đơn vị kinh doanh do Nhà nước sở hữu hay quản lý; Các đơn vị Nhà nước khác. (2) Khoản phải trả hay các cam kết khác mà các cơ quan Nhà nước phải gánh vác với vai trò đại diện cho các doanh nghiệp tư nhân hay các đơn vị khác. 32 (3) Việc xử lý đối với các khản phải trả của Ngân hàng trung ương tùy thuộc vào địa vị rõ ràng của các ngân hàng và mức độ độc lập của chúng từ Chính phủ trung ương.

Như vậy, so với khái niệm nợ công mà các tổ chức quốc tế như WB, UNCTAD, INTOSAI khuyến cáo các nước nên theo, khái niệm nợ công của Việt Nam chưa bao gồm các khoản vay của Chính phủ đối với Ngân hàng Nhà nước và các khoản vay của khối các doanh nghiệp Nhà nước đối với các tổ chức trong nước và nước ngoài có bảo lãnh và không có bảo lãnh của Chính phủ. Để hiểu rõ hơn, ta có thể xem bảng: Bảng 2.1: Phân biệt phạm vi nợ công theo cách tính của WB, UNCTAD, INTOSAI và Việt Nam WB, Chỉ tiêu được tính trong nợ công VN UNCTAD, INTOSAI 1. Nợ Chính phủ a. Nợ trong nước - Tín phiếu KBNN x x - Trái phiếu Chính phủ, công trái x x - Vay từ NHNN để hỗ trợ lãi suất không tính x - Vay Quỹ BHXH, SCIC x x b.

Nợ nước ngoài - Nợ các chủ nợ đa phương x x - Nợ các chủ nợ song phương x x - Nợ thương mại x x 2. Nợ được Chính phủ bảo lãnh - Bảo lãnh vay trong nước (Bảo lãnh cho VDB, NHCSXH, x x TCT đường cao tốc và các doanh nghiệp khác) 33 - Bảo lãnh cho các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng vay nước x x ngoài 3. Nợ Chính quyền địa phương - Trái phiếu chính quyền địa phương x x - Vay tồn ngân kho bạc x không tính 4. Nợ của doanh nghiệp Nhà nước - Các khoản vay, phát hành trái phiếu của VDB không có bảo không tính x lãnh của Chính phủ - Các khoản vay trong nước của các tổ chức khác: NHCSXH, TCT đường cao tốc, Vinashin… không có bảo lãnh của Chính không tính x phủ Nguồn: Nghiên cứu sinh tự tổng hợp Có thể do thể chế chính trị hay do quan điểm điều hành mà xuất hiện những định nghĩa khác nhau theo các cách hiểu khác nhau về nợ công.

Tuy nhiên, nếu định nghĩa không chính xác dẫn đến việc thống kê không đầy đủ các khoản nợ công. Điều này sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô và xác định nghĩa vụ thanh toán đối với ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, việc thống kê không đầy đủ các khoản nợ công cũng dễ dẫn đến các rủi ro tài chính, mất lòng tin đối với các chủ nợ, có khả năng bị các tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế đánh giá thấp dẫn đến tăng chi phí lãi vay và ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia. Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả vẫn thống nhất với định nghĩa nợ công theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ và nợ của chủ thể khác (doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…) nhưng được Chính phủ bảo lãnh thanh toán, và nợ của chính quyền địa phương.

Phân loại nợ công Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công. Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại: nợ trong nước và nợ nước ngoài. Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam. Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, 34 vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải là nợ trong nước. Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ. Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế. Và ở một số khía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác.

Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ. Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay. Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Vai trò của KTN trong quản lý nợ công ở Việt Nam" nghiên cứu sâu về vai trò của Kế toán Nhà nước (KTN) trong việc quản lý nợ công tại Việt Nam. Bài viết chỉ ra rằng KTN không chỉ là công cụ quan trọng trong việc theo dõi và kiểm soát nợ công, mà còn đóng vai trò quyết định trong việc đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả của quản lý tài chính nhà nước. Độc giả sẽ nhận thấy lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức KTN có thể cải thiện quy trình quản lý nợ công, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các khía cạnh liên quan đến quản lý nhà nước và tài chính công, hãy tham khảo thêm bài viết "Luận văn thạc sĩ hoàn thiện quản lý chi thường xuyên ngân sách nhà nước tỉnh Đắk Nông", trong đó thảo luận về quản lý ngân sách nhà nước và vai trò của KTN trong việc tối ưu hóa chi tiêu công. Ngoài ra, bài viết "Luận văn quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay" cũng cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục, một phần không thể thiếu trong quản lý tài chính công. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về "Luận văn thạc sĩ kinh tế quản lý nhà nước về đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ từ ngân sách nhà nước tại tỉnh Quảng Nam" để thấy rõ hơn về vai trò của KTN trong việc quản lý đầu tư công. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến quản lý tài chính và nợ công ở Việt Nam.