phần mở đầu và kết luận, luận án đƣợc kết cấu bao gồm 4 chƣơng: chƣơng 1 tổng quan các công trình trong nƣớc và qu c tế liên quan tới chủ đề của luận án; chƣơng 2 trình bày cơ sở lý luận và các mô hình đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến việc làm; chƣơng 3 đánh giá thực trạng và phân tích tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến việc làm thông qua các phƣơng pháp định lƣợng; cu i c ng là chƣơng 4 đƣa ra những khuyến nghị giải pháp nhằm th c đẩy chuyển dịch cơ cấu ngành theo hƣớng tạo ra nhiều việc làm có chất lƣợng hơn cho ngƣời lao động. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. ổn quan các n h ên cứu trên thế ớ Đ i với các nghiên cứu trên thế giới, việc xem xét m i quan hệ giữa chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và việc làm đ đƣợc đặt ra từ lâu và họ đều c quan điểm chung là cơ cấu ngành kinh tế càng phát triển theo hƣớng hiện đại thì việc làm s tạo ra càng nhiều hơn. Tuy nhiên, nhƣ đ n i, đây thực sự là m i quan hệ phức tạp, bởi trong quá trình phân tích sự chuyển dịch của cơ cấu ngành kinh tế c ng với khả năng tạo việc làm cho ngƣời lao động, mỗi nghiên cứu đ đƣa đến những nhận định về các hƣớng đi và giải pháp khác nhau tại những khuôn khổ không gian và thời gian khác nhau.
N đƣợc thể hiện ở một s khía cạnh sau: 1. ác n h ên cứu lý thu ết về xu hướn CDCC ngành k nh tế v v ệc l m Một trong những tác phẩm thể hiện đƣợc tính quy luật của xu hƣớng chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế g n với việc làm là quy luật năng suất lao động của Fisher (1935). Ông cho rằng tiến bộ kỹ thuật đ c tác động đến sự thay đổi phân b lao động của ba ngành lớn trong nền kinh tế. Theo đ , khi khu vực nông nghiệp đƣợc ứng dụng máy móc vào sản xuất s làm tăng năng suất lao động nên s lƣợng lao động nông nghiệp s giảm dần để bổ sung cho hai khu vực còn lại, trong đ , khu vực dịch vụ có tỷ trọng lao động càng lớn khi nền kinh tế càng phát triển.
Trƣớc Fisher, Ricardo (1817) là ngƣời đầu tiên nghiên cứu vấn đề cơ cấu kinh tế, với quan điểm năng suất biên của lao động bằng 0 khi có sự dƣ thừa lao động, ông chủ trƣơng phát triển công nghiệp để thu h t lƣợng lao động dƣ thừa này. Dựa trên nhận định của Ricardo, Lewis (1954) đ phát triển mô hình hai khu vực, b t đầu từ khu vực nông nghiệp truyền th ng c đặc trƣng sản xuất trì trệ, năng suất lao động thấp và thiếu việc làm. Lao động ở khu vực truyền th ng s đƣợc thu hút sang khu vực công nghiệp có lợi nhuận cao hơn và công nghệ sản xuất hiện đại hơn, và đây chính là yếu t giúp cải thiện năng suất lao động của nền kinh tế. Lý thuyết Lewis tiếp tục đƣợc phân tích bởi John Fei và Gustar Ranis (1961).
Trong khi đ , Dale W. Jorgenson (1961) không ủng hộ quan điểm của Lewis – 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ranis – Fei nên đ nghiên cứu m i quan hệ giữa hai khu vực nông nghiệp – công nghiệp dựa trên nguyên lý tân cổ điển. Theo Jorgenson, khu vực nông thôn không dƣ thừa lao động nên nếu r t lao động nông nghiệp ra kh i nông thôn càng nhiều thì khu vực công nghiệp càng bất lợi. Do vậy, nhà nƣớc cần phải đầu tƣ cho cả hai khu vực cùng một lúc.
Lý thuyết Lewis (1954) sau một thời gian đi vào thực ti n đ thể hiện một s khiếm khuyết, Harris – Todaro (1970) đ bổ sung vào mô hình này bằng việc giải thích quyết định tìm việc làm của ngƣời lao động dựa trên sự khác biệt về thu nhập k vọng giữa nông thôn và thành thị. Nghiên cứu này cho rằng quá trình chuyển dịch lao động chỉ di n ra suôn sẻ khi tổng cung về lao động từ nông nghiệp phù hợp với tổng cầu về lao động từ công nghiệp. Sự di chuyển lao động này không những phụ thuộc vào chênh lệch thu nhập mà còn phụ thuộc vào xác suất tìm đƣợc việc làm đ i với lao động nông nghiệp. Ý tƣởng c t lõi của lý thuyết Harris – Todaro là việc di dân tới các thành ph có thể mang lại lợi ích cá nhân cho bản thân ngƣời nhập cƣ nếu dựa trên phân tích hợp lý về thu nhập k vọng, nhƣng đứng về mặt xã hội, nó có thể gây ra nhiều vấn đề không mong mu n mà xã hội phải trả giá đ t cho việc đ , bởi quá trình di chuyển lao động từ nông thôn lên thành thị không phải lúc nào cũng tạo ra sự phát triển kinh tế.
Tuy nhiên, cách lý giải của Harris - Todaro lại chỉ mới dựa vào mỗi yếu t thu nhập, trong khi nhiều nghiên cứu khác, điển hình nhƣ nghiên cứu của Malcolm Gillis at al (1990) đ chỉ ra có những trƣờng hợp di cƣ, yếu t thu nhập không phải là tác động quan trọng duy nhất, mà còn có cả những yếu t về khoảng cách, tâm lý, văn h a, chính trị, xã hội… ũng đề cập đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nhƣng H. Oshima (1989) tiến hành nghiên cứu cho các nƣớc châu Á gi m a, ông không đồng ý với quan điểm của Lewis vì ông cho rằng việc dƣ thừa lao động nông nghiệp không phải l c nào cũng xảy ra ở các nƣớc này. Từ đấy, ông đề xuất con đƣờng phát triển kinh tế theo ba giai đoạn: (1) phát triển nông nghiệp để tạo việc làm cho thời gian nhàn rỗi ở nông thôn; (2) đầu tƣ đồng thời cả nông nghiệp và công nghiệp theo chiều rộng để hƣớng tới toàn dụng việc làm; (3) phát triển kinh tế theo chiều sâu nhằm giảm cầu lao động. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Justin Yifu Lin (2010) đƣa ra những luận cứ của lý thuyết kinh tế cơ cấu mới dựa trên ba giả định: (1) cấu trúc t i ƣu kinh tế (nhƣ cấu trúc công nghiệp, công nghệ, tài chính, luật pháp.) là khác nhau ở các giai đoạn phát triển khác nhau; (2) phát triển kinh tế là một quá trình liên tục chứ không thể chia thành các giai đoạn cứng nh c hoặc cụ thể theo đề nghị của Rostow (1990); (3) tại bất k giai đoạn phát triển nhất định nào, thị trƣờng là cơ chế cơ bản để phân bổ nguồn lực hiệu quả, nhƣng nhà nƣớc cần đ ng vai tr chủ động tạo thuận lợi trong chuyển đổi từ một giai đoạn thấp hơn đến một giai đoạn cao hơn.
Phƣơng pháp tiếp cận kinh tế cơ cấu mới nhận ra rằng thay thế nhập khẩu là một hiện tƣợng tự nhiên của một nƣớc đang phát triển mu n đi lên nấc thang công nghiệp hóa trong tiến trình phát triển, nó phản ánh sự tích lũy v n con ngƣời, v n vật chất và thay đổi trong cơ cấu các yếu t đầu vào. Đồng thời, lý thuyết kinh tế cơ cấu mới nhấn mạnh vai trò trung tâm của thị trƣờng trong việc phân bổ nguồn lực và c vấn cho nhà nƣớc đóng vai trò tạo điều kiện để hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển. Theo đ , Lin kết luận vai trò của nhà nƣớc trong việc đa dạng hóa và nâng cấp công nghiệp nên đƣợc giới hạn ở việc cung cấp các thông tin về các ngành công nghiệp mới, ph i hợp các khoản đầu tƣ liên quan qua các công ty khác nhau trong cùng một ngành công nghiệp, khuyến khích đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, đồng thời cải thiện cơ sở hạ tầng cứng và mềm để giảm chi phí giao dịch và tạo thuận lợi cho quá trình phát triển công nghiệp. ác n h ên cứu thực n h ệm về xu hướn CDCC n nh k nh tế v v ệc l m Không chỉ nghiên cứu trên g c độ lý thuyết, chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và việc làm cũng đƣợc phân tích trong thực ti n của các nƣớc thông qua nhiều phƣơng pháp định lƣợng.
Nghiên cứu cụ thể của G. Jomini (2012) về chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế và việc làm ở Úc bằng các quan sát th ng kê. Nghiên cứu cho rằng xu hƣớng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Úc là hệ quả tự nhiên của sự gia tăng thu nhập, nhƣng trong quá trình chuyển dịch cũng phải mất một khoản phí khá lớn cho việc đào tạo lại, di chuyển và các chi phí hành chính. Kinh nghiệm thành công của Úc nhằm giảm các chi phí phát sinh, đồng thời CCKT chuyển dịch nhanh và tạo thêm đƣợc nhiều việc làm là áp dụng chế độ thả nổi tỷ giá h i đoái, giảm dần 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thuế quan và các chính sách hỗ trợ công nghiệp, cải cách doanh nghiệp nhà nƣớc, thiết kế các chính sách gi p những lao động thất nghiệp tìm đƣợc việc làm.
thể n i năng suất lao động là một trong những thƣớc đo quan trọng của việc làm xét ở khía cạnh chất lƣợng. Để đánh giá mức độ đ ng g p của chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến tăng trƣởng năng suất lao động ở nhiều nƣớc khác nhau, các tác giả Ark B. V (1995) đ phân tích tăng trƣởng năng suất lao động của 8 nền kinh tế Tây u (bao gồm Đan Mạch, Tây Đức, Ý, Hà Lan, Thụy Điển, Tây an Nha, nh, Pháp) và Mỹ trong thời k 1950 – 1990, đƣợc chia thành hai giai đoạn 1950 – 1973 và 1973 – 1990. Nghiên cứu đ chỉ ra trong cả hai giai đoạn trên, hiệu ứng nội sinh c đ ng g p nhiều nhất vào tăng trƣởng năng suất lao động tổng thể, và bởi vì các nƣớc này thƣờng ít áp dụng chính sách ngành nhƣ bảo hộ sản xuất trong nƣớc, hạn chế gia nhập thị trƣờng.
nên c thể khẳng định trình độ lao động, tiến bộ công nghệ và các yếu t thể chế trong hiệu ứng nội sinh là động lực của sự tăng trƣởng. ên cạnh đ , đ ng g p của hiệu ứng tĩnh đều c dấu dƣơng ở tất cả các nƣớc trong cả hai giai đoạn phân tích, chứng t sự chuyển dịch của lao động từ ngành c năng suất lao động thấp sang ngành c mức năng suất lao động cao hơn đ c tác động t t đến tăng trƣởng năng suất lao động n i chung.