Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng với đề tài "Nghiên cứu các nhân tố tác động đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam" được tác giả Phạm Thị Trúc Quỳnh thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân vào năm 2020.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Nợ xấu là một hiện tượng phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, gây rủi ro đối với sự an toàn của hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng, đồng thời đe dọa sự ổn định tài chính của doanh nghiệp và hộ gia đình (Karim và cộng sự, 2010; Kuo và cộng sự, 2010; Appiah, 2011; Awunyo-Vitor, 2012). Ở góc độ vĩ mô, nợ xấu làm méo mó cấu trúc phân bổ nguồn lực và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế (Stephen và cộng sự, 2011). Tại Việt Nam, sau khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, tỷ lệ nợ xấu báo cáo trước Quốc hội lên tới 10,31%. Đề án tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011–2015 (Quyết định số 254/QĐ-TTg) đã đưa tỷ lệ nợ xấu nội bảng về dưới 3%. Tuy nhiên, quy mô nợ xấu tuyệt đối vẫn lớn và tích tụ tại Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Giai đoạn 2017–2020 chuyển trọng tâm sang hình thành và phát triển thị trường mua bán nợ theo cơ chế thị trường.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy hoạt động của VAMC và Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp (DATC) chưa tạo ra sự chuyển biến căn bản; thị trường nợ xấu còn manh nha, thiếu vắng các chủ thể ngoài quốc doanh, thông tin hàng hóa nợ thiếu minh bạch và hành lang pháp lý chưa đồng bộ. Tổng quan tài liệu chỉ ra rằng các công trình quốc tế và trong nước chủ yếu tập trung vào nguyên nhân phát sinh nợ xấu, kỹ thuật chứng khoán hóa nợ hoặc xử lý nợ kỹ thuật nội bộ ngân hàng. Hoàn toàn vắng bóng các nghiên cứu định lượng phân tích các nhân tố tác động trực tiếp đến hành vi tham gia thị trường của bên mua, bên bán và phúc lợi xã hội trên thị trường nợ xấu tại một nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Hệ thống hóa và xây dựng khung lý thuyết cơ bản về thị trường nợ xấu cùng các nhân tố tác động đến thị trường này.
  • Xác định và đánh giá mức độ tác động của các nhân tố đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam.
  • Đề xuất các giải pháp và khuyến nghị nhằm gia tăng quyết định mua, quyết định bán và phát triển thị trường nợ xấu Việt Nam theo cơ chế thị trường.

Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi 1: Mô hình lý thuyết nào làm cơ sở cho nghiên cứu các nhân tố tác động đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam?
  • Câu hỏi 2: Những nhân tố nào tác động đến cung (quyết định tham gia thị trường của người bán) nợ xấu trên thị trường nợ xấu tại Việt Nam? Mức độ tác động của các nhân tố như thế nào?
  • Câu hỏi 3: Những nhân tố nào tác động đến cầu (quyết định tham gia thị trường của người mua) nợ xấu trên thị trường nợ xấu tại Việt Nam? Mức độ tác động của các nhân tố như thế nào?
  • Câu hỏi 4: Những nhân tố nào tác động đến phúc lợi xã hội (lợi ích của các thành phần tham gia thị trường) trên thị trường nợ xấu tại Việt Nam? Mức độ tác động của các nhân tố như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các nhân tố tác động đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam, cụ thể là các nhân tố tác động đến quyết định tham gia thị trường của người mua, quyết định tham gia thị trường của người bán và phúc lợi xã hội trên thị trường nợ xấu.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát chọn mẫu các doanh nghiệp, tổ chức tín dụng và cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội.
  • Phạm vi thời gian: Thu thập dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2010–2018 để đánh giá thực trạng nợ xấu và thị trường nợ xấu tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án đã hệ thống hóa các nhóm tài liệu học thuật theo các chủ đề chính:

  1. Khái niệm và tiêu chí nhận diện nợ xấu:

    • Quốc tế: Tseganesh (2012) xác định nợ xấu dựa trên giá trị sổ sách của khoản vay quá hạn cả lãi và gốc; Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF, 2009) và Ủy ban Basel định nghĩa nợ xấu khi quá hạn trả lãi hoặc gốc từ 90 ngày trở lên hoặc có nghi ngờ chắc chắn về khả năng trả nợ; Machiraju (2010), Farlex Financial Dictionary (2012), C. Davies (2005) gắn nợ xấu với sự suy giảm chất lượng tín dụng và tổn thất chi phí thu hồi; Viện Tài chính Quốc tế (2010) phân loại nợ thành 5 nhóm, trong đó nợ xấu bao gồm nhóm 3 (Dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nghi ngờ), nhóm 5 (Mất vốn).
    • Việt Nam: Thông tư số 02/2013/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước quy định phân loại nợ xấu theo phương pháp định lượng (Điều 10: nhóm 3 từ 91-180 ngày, nhóm 4 từ 181-360 ngày, nhóm 5 trên 360 ngày) và phương pháp định tính (Điều 11: khả năng tổn thất và suy giảm khả năng thực hiện nghĩa vụ cam kết).
  2. Các nhân tố tác động đến phát sinh nợ xấu:

    • Nhóm nhân tố kinh tế vĩ mô: Tăng trưởng GDP có tương quan nghịch với nợ xấu (Salas & Saurina, 2002; Jimenez & Saurina, 2006; Khemraj & Pasha, 2009; Louzis và cộng sự, 2011; Nkusu, 2011; Beck và cộng sự, 2013). Lãi suất cho vay tác động thuận chiều làm tăng nợ xấu (Gorter & Bloem, 2001; Sakiru và cộng sự, 2013; Joseph, 2011; Daniel & Wandera, 2013). Tỷ lệ thất nghiệp tác động thuận chiều làm tăng rủi ro vỡ nợ (Bofondi & Ropele, 2011; Berge & Boye, 2007; Gambera và cộng sự, 2000). Lạm phát có thể tác động hai chiều (Nkusu, 2011; Fofack, 2005; Skarica, 2013). Biến động chu kỳ kinh doanh ảnh hưởng lớn đến chất lượng tín dụng (Fisher, 1933; Minsky, 1986; Kiyotaki & Moore, 1997; Geanakoplos, 2010).
    • Nhóm nhân tố vi mô từ hệ thống ngân hàng: Quy mô ngân hàng (Salas & Saurina, 2002; Swamy, 2012); cơ cấu sở hữu nhà nước (Micco và cộng sự, 2004; Hu và cộng sự, 2004); hệ số an toàn vốn CAR (Boudriga và cộng sự, 2009; Djiogap & Ngomsi, 2012); hiệu quả sinh lời ROA, ROE (Makri và cộng sự, 2014; Messai & Jouini, 2013; Ahmed & Bashir, 2013); thanh khoản và quản trị rủi ro (Hwan & Zhang, 2012; Wondimagegnehu, 2012).
  3. Các nghiên cứu về xử lý nợ xấu và thị trường nợ xấu:

    • Xử lý nợ qua thị trường quốc tế: Stifler & Parrish (2014), Rubin (2008), Terp & Bowne (2006) phân tích động cơ lợi nhuận của các công ty thu mua nợ tại Mỹ và Anh, đồng thời chỉ ra rủi ro thông tin bất cân xứng và gian lận hồ sơ nợ qua nhiều khâu trung gian.
    • Xử lý nợ tại Việt Nam: Phạm Thị Kim Ánh (2014) đề xuất trích lập dự phòng, xử lý bất động sản và chuyển nợ thành vốn góp; Lê Thị Thùy Vân (2014) chỉ rõ hạn chế nguồn vốn của VAMC và việc thiếu cơ chế phối hợp khiến nợ đã bán vẫn do tổ chức tín dụng tự xử lý; Đặng Ngọc Đức (2014) đề xuất chứng khoán hóa nợ thông qua trái phiếu chính phủ.
    • Nghiên cứu về thị trường mua bán nợ tại Việt Nam: Quách Mạnh Hào (2012) nhận định nợ xấu chỉ luân chuyển từ ngân hàng sang DATC/AMC mà chưa hình thành thị trường thực sự; Đào Duy Huận (2013), Hoàng Trần Hậu (2014), Phạm Mạnh Thường (2014), Nguyễn Quốc Hùng (2014), Lê Thị Thùy Vân & Vương Duy Lâm (2015) nghiên cứu thực trạng và khung thể chế nhưng chủ yếu dựa trên phân tích bàn giấy và tư duy kinh nghiệm, thiếu khung phân tích định lượng.

Khoảng trống luận án giải quyết

Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu then chốt: Chưa có công trình nào xây dựng mô hình định lượng đánh giá các nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định bán nợ (cung), quyết định mua nợ (cầu) và phúc lợi xã hội của các bên tham gia trên thị trường mua bán nợ xấu tại Việt Nam.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Lý thuyết Cung - Cầu (Varian, 1999): Ứng dụng để phân tích hành vi của chủ thể bán nợ (tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại có nợ xấu cần thanh lý) và chủ thể mua nợ (nhà đầu tư, công ty quản lý tài sản, doanh nghiệp thu mua nợ). Điểm đặc thù được xác định là lượng cầu nợ xấu bị giới hạn bởi tổng lượng nợ xấu phát sinh trên thị trường tín dụng.
  • Lý thuyết Phúc lợi xã hội (Hansson, 2005): Sử dụng để thiết lập thước đo tổng thể về lợi ích ròng của các thành phần tham gia thị trường nợ xấu, chia thành 3 kịch bản tương ứng với 3 khoảng phúc lợi khác nhau.
  • Lý thuyết Hành vi tham gia thị trường: Giải thích các yếu tố tác động đến động cơ chấp nhận tham gia giao dịch mua bán nợ xấu dựa trên kỳ vọng lợi nhuận, chi phí giao dịch, rủi ro pháp lý và mức độ minh bạch thông tin.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp định tính và định lượng:

  1. Phương pháp thu thập dữ liệu:

    • Nghiên cứu tại bàn (Secondary Research): Thu thập tài liệu, dữ liệu thống kê từ Ngân hàng Nhà nước, VAMC, Bộ Tài chính, các báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại, các tổ chức quốc tế (IMF, WB) giai đoạn 2010–2018.
    • Khảo sát điều tra bảng hỏi (Primary Research): Thực hiện qua hai giai đoạn. Giai đoạn 1 xây dựng bảng hỏi sơ bộ và tham vấn ý kiến chuyên gia sâu trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng để hiệu chỉnh thang đo. Giai đoạn 2 triển khai phát phiếu khảo sát trực tiếp tới 500 đối tượng gồm các tổ chức tín dụng, doanh nghiệp, nhà đầu tư và cá nhân trên địa bàn thành phố Hà Nội thông qua nhóm 10 điều tra viên được đào tạo chuyên sâu.
  2. Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu:

    • Sử dụng phần mềm thống kê SPSS 21.0.
    • Thống kê mô tả và phân tích so sánh thực trạng.
    • Mô hình Logistic nhị phân (Binary Logistic Model) ước lượng bằng phương pháp hợp lý cực đại (Maximum Likelihood Estimation) nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng và mức độ tác động đến quyết định tham gia thị trường của người bán và người mua.
    • Mô hình Logistic đa thức (Multinomial Logistic Model) nhằm phân tích các nhân tố tác động đến phúc lợi xã hội trên thị trường mua bán nợ xấu theo các cấp độ phúc lợi.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về nợ xấu và thị trường nợ xấu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện các khái niệm nợ xấu theo chuẩn mực quốc tế (IMF, Basel) và văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam (Thông tư 02/2013/TT-NHNN). Tác giả tổng hợp các bằng chứng thực nghiệm về tác động của các biến số kinh tế vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát, thất nghiệp, tỷ giá, lãi suất) và các biến vi mô của ngân hàng (quy mô, hệ số CAR, ROA, ROE, chất lượng quản trị) đối với nợ xấu. Đồng thời, chương này phân tích các cơ chế xử lý nợ trực tiếp và qua thị trường, chỉ ra khoảng trống về mặt học thuật trong nghiên cứu hành vi các chủ thể trên thị trường nợ xấu.

Chương 2: Thực trạng thị trường nợ xấu tại Việt Nam và mô hình xử lý nợ các nước

Chương này cung cấp bức tranh chi tiết về cấu trúc hệ thống tổ chức tín dụng, biến động lãi suất và thực trạng nợ xấu tại Việt Nam giai đoạn 2009–2018.

Bảng: Thống kê số lượng các tổ chức tín dụng tại Việt Nam (Nguồn: NHNN, 2018)

Loại tổ chức tín dụng Số lượng Vốn điều lệ / Tỷ lệ vốn
Ngân hàng TMNN chiếm 50% vốn điều lệ 04 39,27%
Ngân hàng TMCP ngoài quốc doanh 31 297,88 nghìn tỷ đồng
Ngân hàng 100% vốn nước ngoài 08 30,41 nghìn tỷ đồng
Ngân hàng liên doanh 02 7,63 nghìn tỷ đồng
Các công ty tài chính 16 15.584,2 tỷ đồng (3,29%)
Các công ty cho thuê tài chính 11 4.616,7 tỷ đồng (0,98%)
Các tổ chức tín dụng phi ngân hàng 03 157,4 tỷ đồng (0,033%)
Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam 51 75.549,96 tỷ đồng

Bảng: Diễn biến lãi suất huy động và cho vay giai đoạn 2009–2017 (Nguồn: NHNN)

Chỉ tiêu / Năm 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2017
Huy động < 1 tháng (%) 2,40–3,00 2,40–8,00 6,00 1,00–2,00 1,0–1,2 0,8–1,0 0,8–1,0 0,8–1,0
Huy động 1–6 tháng (%) 10,0–10,3 12,0–13,5 14,0 7,80–8,00 5,0–7,0 5,0–5,5 4,5–5,4 4,5–5,4
Cho vay NHTM Nhà nước - SXKDTT (%) 12,0 15,0–16,0 19,0 14,6–16,5 11,5–12,8 9,5–11,0 9,3–10,5 9,3–10,3
Cho vay NHTMCP - SXKDTT (%) 12,0 16,0–18,0 20,0 16,0–17,5 12,0–13,0 10,0–11,0 10,0–11,0 10,0–11,0

Nợ xấu phân bổ tập trung vào các ngành: Công nghiệp chế biến, chế tạo (21,2%); bán buôn và bán lẻ (16,9%); hoạt động dịch vụ (12,5%); bất động sản (11,4%); xây dựng và vật liệu xây dựng (10,1%); vận tải kho bãi (9,4%).

Bảng: Kết quả xử lý nợ xấu ngân hàng qua VAMC (Đơn vị: Tỷ đồng; Nguồn: NHNN và VAMC)

Chỉ tiêu Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018
Tỷ lệ nợ xấu các TCTD báo cáo (%) 2,55% 2,46% 1,99% 1,89%
Nợ xấu các TCTD báo cáo 118.725 135.432 129.546 136.000
Nợ xấu VAMC đã mua lũy kế 245.049 282.000 313.132 344.049
Nợ xấu VAMC đã thu hồi lũy kế 22.800 50.300 81.488 119.000
Nợ xấu còn lại tại VAMC chưa xử lý 222.049 231.700 231.644 225.049
Tổng nợ xấu báo cáo và nợ tại VAMC 340.945 367.666 361.190 361.340
Tỷ lệ nợ xấu gộp cả VAMC (%) 7,32% 6,68% 5,55% 5,55%
Tỷ lệ nợ xấu đã bán cho VAMC / Tổng nợ xấu 32,6% 67,6% 70,7% 71,6%
Tỷ lệ nợ xấu chưa xử lý / Nợ VAMC đã mua 90,7% 82,2% 74,0% 65,4%

Bảng: Kết quả kinh doanh mua bán nợ của VAMC (Đơn vị: Triệu đồng; Nguồn: NHNN và VAMC)

Chỉ tiêu Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Lãi từ mua nợ bằng Trái phiếu đặc biệt (TPĐB) 19.680 45.348 45.269 57.000
Doanh thu mua nợ theo giá thị trường 0 0 0 2.100.000
Tỷ lệ doanh thu mua nợ thị trường / Tổng DT 0% 0% 0% 97,8%
Lãi từ mua nợ theo giá thị trường 0 0 0 10.792
Tổng lãi từ hoạt động mua bán nợ 19.680 45.348 45.269 67.792

Chương 2 cũng chỉ rõ sự thiếu hụt về chủ thể tham gia thị trường ngoài VAMC, DATC (vốn điều lệ 6.000 tỷ đồng) và hơn 20 AMC trực thuộc ngân hàng; những hạn chế của phương thức mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt (TCTD vẫn phải trích lập dự phòng 20%/năm); sự thiếu minh bạch thông tin nợ xấu (sai lệch số liệu giữa NHNN với Fitch Ratings và Moody's) và các rào cản định giá khoản nợ.

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Chương 3 thiết kế quy trình nghiên cứu, xây dựng các bảng hỏi khảo sát, xác định thang đo cho các nhóm biến số tác động đến cung, cầu và phúc lợi xã hội. Tác giả thiết lập phương trình hồi quy Logistic nhị phân cho quyết định bán và quyết định mua nợ xấu, đồng thời xây dựng mô hình Logistic đa thức cho các mức độ phúc lợi xã hội trên thị trường nợ xấu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày kết quả phân tích thống kê mô tả từ 500 mẫu phiếu điều tra tại Hà Nội bằng phần mềm SPSS 21.0. Chương này lượng hóa mức độ tác động của các nhân tố đến quyết định tham gia của bên bán, bên mua và chứng minh sự tồn tại của 3 kịch bản tác động của các nhóm nhân tố đến phúc lợi xã hội trên thị trường nợ xấu tại Việt Nam.

Chương 5: Kết luận và khuyến nghị

Tổng kết các phát hiện chính của luận án, đề xuất hệ thống giải pháp chính sách cho cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính), các tổ chức tín dụng, VAMC, DATC và các doanh nghiệp nhằm phát triển thị trường nợ xấu vận hành theo cơ chế thị trường.


Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và học thuật

  • Xây dựng mô hình nghiên cứu mới về thị trường nợ xấu: Đề xuất mô hình phân tích các nhân tố tác động đến thị trường nợ xấu dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết cung - cầu (Varian, 1999) và lý thuyết phúc lợi xã hội (Hansson, 2005). Luận án xác lập đặc thù lý thuyết của thị trường nợ xấu: Lượng cầu về nợ xấu bị giới hạn trên bởi tổng lượng nợ xấu phát sinh trên thị trường tín dụng.
  • Xây dựng thước đo phúc lợi xã hội đa cấp độ: Thiết lập thước đo phúc lợi trên thị trường nợ xấu và khám phá ra 3 kịch bản khác nhau về sự tác động của các nhóm nhân tố đến phúc lợi xã hội, làm cơ sở cho việc thiết kế chính sách theo từng cấp độ khoảng phúc lợi.

Đóng góp thực tiễn và nhóm giải pháp đề xuất

  • Giải pháp thúc đẩy quyết định bán nợ: Hoàn thiện cơ chế định giá tài sản bảo đảm sát giá thị trường; giải tỏa vướng mắc về thủ tục chuyển nhượng tài sản thế chấp; giảm áp lực trích lập dự phòng kỹ thuật bằng cách chuyển đổi từ phương thức bán nợ lấy trái phiếu đặc biệt sang bán đứt theo giá thị trường.
  • Giải pháp gia tăng quyết định mua nợ: Mở rộng thành phần chủ thể tham gia thị trường, cho phép và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tư nhân, các quỹ đầu tư tài chính trong và ngoài nước tham gia thu mua nợ; công khai, minh bạch hóa cơ sở dữ liệu nợ xấu và tình trạng pháp lý của tài sản đảm bảo.
  • Giải pháp gia tăng phúc lợi xã hội trên thị trường nợ xấu: Xây dựng khung chính sách đồng bộ theo 3 cấp độ phúc lợi; hoàn thiện hành lang pháp lý (nâng cao hiệu lực của Nghị quyết số 42/2017/QH14 và Quyết định số 1058/QĐ-TTg); nâng cao năng lực định giá và năng lực tài chính cho các định chế xử lý nợ chuyên nghiệp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án

  • Phạm vi không gian khảo sát: Dữ liệu điều tra sơ cấp bằng bảng hỏi mới chỉ được thực hiện đối với mẫu khảo sát gồm 500 đối tượng trên địa bàn thành phố Hà Nội, chưa bao phủ toàn bộ các trung tâm kinh tế lớn khác như Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng kinh tế trọng điểm.
  • Giới hạn chuỗi dữ liệu thời gian: Dữ liệu thứ cấp phục vụ đánh giá thực trạng nợ xấu và hoạt động của VAMC, DATC tập trung trong giai đoạn 2010–2018.

Hướng nghiên cứu tiếp theo

  • Mở rộng phạm vi khảo sát điều tra trên quy mô toàn quốc để so sánh sự khác biệt về hành vi tham gia thị trường nợ xấu giữa các vùng miền.
  • Cập nhật chuỗi dữ liệu thứ cấp trong các giai đoạn tiếp theo để đánh giá tác động dài hạn của các khuôn khổ pháp lý mới (như việc tổng kết thực hiện Nghị quyết 42/2017/QH14 và hoàn thiện Luật Các tổ chức tín dụng).

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung lý thuyết về cung, cầu và phúc lợi xã hội áp dụng cho thị trường mua bán nợ xấu; tài liệu tham khảo về phương pháp ứng dụng mô hình Logistic nhị phân và đa thức trong kinh tế lượng ứng dụng ngành ngân hàng.
  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài chính): Cung cấp cơ sở thực chứng để xây dựng chính sách phát triển thị trường mua bán nợ tập trung, hoàn thiện quy định về định giá nợ và cơ chế chia sẻ thông tin tín dụng minh bạch.
  • Đối với các tổ chức tín dụng và công ty xử lý nợ (VAMC, DATC, các AMC): Cung cấp các phân tích về hạn chế của phương thức mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt, từ đó định hướng chuyển dịch sang mua bán nợ theo giá thị trường và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ.

Câu hỏi thường gặp

1. Tại sao nợ xấu báo cáo của các tổ chức tín dụng dưới 3% nhưng nợ xấu thực tế vẫn ở mức cao giai đoạn 2015–2018?

Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước và VAMC, tỷ lệ nợ xấu nội bảng do các TCTD báo cáo giảm từ 2,55% (năm 2015) xuống 1,89% (năm 2018). Tuy nhiên, nếu tính cả các khoản nợ xấu đã bán cho VAMC nhưng chưa thu hồi và xử lý được (nợ xấu tích tụ tại VAMC năm 2015 là 222.049 tỷ đồng; năm 2018 là 225.049 tỷ đồng), tổng tỷ lệ nợ xấu thực tế của toàn hệ thống là 7,32% (năm 2015) và 5,55% (năm 2017–2018), cao gấp gần 3 lần so với tỷ lệ báo cáo.

2. Hai phương thức mua nợ chính của VAMC được luận án phân tích là gì và có đặc điểm ra sao?

Hai phương thức gồm:

  • Mua nợ bằng Trái phiếu đặc biệt (TPĐB): Mua theo giá trị ghi sổ, thanh toán bằng TPĐB để TCTD tái cấp vốn tại NHNN. Hạn chế là TCTD vẫn phải trích lập dự phòng rủi ro 20%/năm trong 5 năm và bản chất chỉ mang tính chất giãn nợ.
  • Mua nợ theo giá trị thị trường: Thực hiện từ tháng 8/2017 theo Quyết định 618/QĐ-NHNN trên nguyên tắc thỏa thuận và chấp nhận rủi ro thị trường. Trong năm 2017, doanh thu từ mua nợ theo giá thị trường đạt 2.100 tỷ đồng (chiếm 97,8% tổng doanh thu mua nợ) và mang lại lợi nhuận 10.792 triệu đồng.

3. Những hạn chế lớn nhất của thị trường nợ xấu tại Việt Nam được chỉ ra trong luận án là gì?

Các hạn chế gồm: Chủ thể tham gia thị trường còn đơn điệu (chủ yếu là VAMC, DATC và hơn 20 AMC của các ngân hàng); thiếu sự tham gia của nhà đầu tư tư nhân và quốc tế; việc mua bán còn mang tính chỉ định; chưa có sự thống nhất trong phương pháp định giá nợ; thông tin nợ xấu thiếu minh bạch và có sự sai lệch giữa số liệu trong nước với đánh giá của các tổ chức quốc tế (như Fitch Ratings, Moody's).

4. Luận án sử dụng phương pháp định lượng và phần mềm nào để phân tích dữ liệu khảo sát?

Luận án sử dụng phần mềm SPSS 21.0 để phân tích 500 phiếu khảo sát thu thập tại Hà Nội. Kỹ thuật phân tích gồm: Thống kê mô tả; mô hình Logistic nhị phân (Binary Logistic) ước lượng hợp lý cực đại để đánh giá các nhân tố tác động đến quyết định mua và bán nợ; mô hình Logistic đa thức (Multinomial Logistic) để phân tích các nhân tố tác động đến 3 kịch bản phúc lợi xã hội trên thị trường nợ xấu.


Kết luận

Luận án của tác giả Phạm Thị Trúc Quỳnh đã làm rõ các nhân tố tác động đến quyết định tham gia thị trường nợ xấu của bên mua, bên bán và phúc lợi xã hội tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp nghiên cứu thực trạng hệ thống dữ liệu giai đoạn 2010–2018 và phân tích định lượng mô hình Logistic trên mẫu khảo sát 500 đối tượng tại Hà Nội, luận án đã chỉ ra các nút thắt trong cơ chế mua nợ bằng trái phiếu đặc biệt cũng như tính thiếu minh bạch của thị trường. Các kết quả nghiên cứu và giải pháp đề xuất cung cấp căn cứ phục vụ quá trình chuyển đổi hoạt động xử lý nợ xấu từ biện pháp hành chính kỹ thuật sang cơ chế thị trường hoàn chỉnh.