Luận án tiến sĩ về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ nghiên cứu tài chính ngân hàng nghiên cứu các nhân tố tác động đến thị trường nợ xấu tại việt nam, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2020

164
15
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NỢ XẤU VÀ THỊ TRƯỜNG NỢ XẤU

1.1. Tổng quan các tài liệu nghiên cứu

1.2. Các quan điểm về nợ xấu

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thị trường nợ xấu tại Việt Nam

Thị trường nợ xấu tại Việt Nam đã trở thành một vấn đề cấp bách trong bối cảnh kinh tế hiện nay. Nợ xấu tại Việt Nam không chỉ ảnh hưởng đến các ngân hàng thương mại mà còn tác động đến sự ổn định của nền kinh tế quốc dân. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà Nước, tỷ lệ nợ xấu đã từng lên tới 10,31% vào năm 2008, cho thấy sự cần thiết phải có những giải pháp quyết liệt để xử lý vấn đề này. Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu bao gồm các yếu tố kinh tế vĩ mô, chính sách tài chính và quản lý ngân hàng. Việc tìm hiểu và phân tích những tác động kinh tế từ thị trường nợ xấu sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách có cái nhìn rõ hơn về tình hình thực tế và đưa ra các giải pháp hợp lý để cải thiện tình hình.

1.1 Tình hình nợ xấu và tác động đến nền kinh tế

Nợ xấu là một trong những vấn đề nghiêm trọng mà hệ thống ngân hàng Việt Nam đang phải đối mặt. Theo các chuyên gia, nợ xấu không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động của các ngân hàng mà còn có thể dẫn đến sự sụp đổ của nhiều doanh nghiệp. Nghiên cứu cho thấy rằng tác động của chính sách tài chính và các biện pháp quản lý nợ xấu có thể làm giảm thiểu rủi ro tín dụng. Việc xây dựng một thị trường nợ xấu minh bạch và hiệu quả là rất cần thiết để khôi phục niềm tin của nhà đầu tư và tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi hơn.

II. Nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu

Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam rất đa dạng và phức tạp. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các yếu tố như tình hình kinh tế, chính sách tài chính, và khả năng thanh toán của người vay đều có tác động lớn đến quyết định tham gia thị trường nợ xấu. Đặc biệt, tín dụng xấurủi ro tín dụng là những yếu tố cần được xem xét kỹ lưỡng. Một số ngân hàng thương mại vẫn chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp quản lý rủi ro, dẫn đến tình trạng nợ xấu gia tăng. Việc phân tích các chiến lược quản lý nợ xấu hiện tại sẽ giúp các ngân hàng có những điều chỉnh cần thiết để cải thiện tình hình.

2.1 Tác động của chính sách tài chính

Chính sách tài chính có vai trò quan trọng trong việc điều tiết và quản lý thị trường nợ xấu. Các biện pháp như giảm lãi suất, tăng cường giám sát và kiểm soát hoạt động của các tổ chức tín dụng sẽ giúp giảm thiểu nợ xấu. Tác động của chính sách đến tín dụngkhả năng thanh toán của người vay là rất lớn. Nghiên cứu cho thấy rằng, khi chính sách tài chính linh hoạt và phù hợp, nó có thể tạo ra cơ hội cho các ngân hàng xử lý nợ xấu hiệu quả hơn.

III. Phân tích thực trạng thị trường nợ xấu

Thực trạng thị trường nợ xấu tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Mặc dù đã có những nỗ lực từ phía các cơ quan quản lý, nhưng hiệu quả hoạt động của thị trường nợ xấu vẫn còn hạn chế. Các cơ chế và hành lang pháp lý chưa đủ mạnh để tạo điều kiện cho các hoạt động mua bán nợ xấu diễn ra một cách minh bạch và hiệu quả. Việc thiếu thông tin về hàng hóa trên thị trường cũng là một trong những nguyên nhân khiến các nhà đầu tư không mặn mà tham gia vào thị trường này.

3.1 Đánh giá hiệu quả hoạt động của thị trường

Đánh giá hiệu quả hoạt động của thị trường nợ xấu là rất cần thiết để có những giải pháp cải thiện tình hình. Theo nghiên cứu, hiệu quả của các chủ thể tham gia vào thị trường còn thấp, do thiếu các lựa chọn và thông tin minh bạch. Do đó, việc xây dựng một hệ thống thông tin đầy đủ và chính xác sẽ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường nợ xấu tại Việt Nam.

IV. Giải pháp phát triển thị trường nợ xấu

Để phát triển thị trường nợ xấu tại Việt Nam, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Các cơ quan quản lý nhà nước cần xây dựng các chính sách và quy định rõ ràng để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và nhà đầu tư tham gia vào thị trường. Việc cải thiện tín dụng xấuquản lý nợ xấu cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường. Các giải pháp cần được thực hiện đồng thời để đảm bảo thị trường nợ xấu phát triển bền vững và hiệu quả.

4.1 Khuyến nghị đối với cơ quan quản lý

Cần có các khuyến nghị cụ thể đối với cơ quan quản lý nhà nước nhằm phát triển thị trường nợ xấu. Việc thiết lập một khung pháp lý rõ ràng và minh bạch sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động mua bán nợ xấu. Hơn nữa, cần tăng cường các chương trình đào tạo và nâng cao nhận thức cho các tổ chức tín dụng về quản lý nợ xấu để từ đó có thể nâng cao chất lượng tín dụng và giảm thiểu rủi ro.

21/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NỢ XẤU VÀ THỊ TRƯỜNG NỢ XẤU 1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 1.1 Các quan điểm về nợ xấu Cho đến nay, đã có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu đã được đưa ra. Nợ xấu là các khoản cho vay chưa được thanh toán cả lãi lẫn gốc trong một thời gian dài, trái với các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng của khoản vay. Hay nói các khác, bất kỳ khoản vay nào không được trả cả lãi lẫn gốc theo điều khoản của hợp đồng khi đến ngày phải trả đều được gọi là nợ xấu và lượng nợ xấu được đo bằng giá trị sổ sách của khoản vay (Tseganesh, 2012). Còn theo quỹ tiền tệ thế giới (IMF, 2009), về cơ bản nợ xấu là khoản nợ khi thời gian trả lãi và/hoặc gốc quá hạn trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả quá hạn từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn thanh toán dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ.

Trong hướng dẫn quản lý rủi ro tín dụng, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: điều kiện thứ nhất là Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động thu hồi; điều kiện thứ hai là người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày. Do đó, có thể hiểu nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Theo nhóm chuyên gia tư vấn định nghĩa “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”. Theo Machiraju (2010), nợ xấu là các khoản tiền cho vay không chắc chắn nhận được đến khi ngân hàng nhận lại chúng và các khoản cho vay mà tỷ lệ lãi suất được hạ thấp do ngày đáo hạn tăng bởi các vấn đề liên quan đến người vay.

Machiraju cũng nhấn mạnh rằng nợ xấu là chỉ số hàng đầu của chất lượng tín dụng. Còn theo quy định của ngân hàng Ethopia nợ xấu được xác định là khoản cho vay khó thu hồi và là khoản cho vay có chất lượng tín dụng thấp, việc thu gom cả lãi lẫn gốc theo các điều khoản trong hợp đồng được đặt trong tình trạng nghi ngờ (NBE, 2008). Theo Farlex Financial Dictionary (2012) nợ xấu còn được xác định là các khoản nợ từ việc bán tín dụng mà chủ nợ đã thực hiện mọi nỗ lực để thu hồi các khoản cho vay nhưng không thể thu hồi. Nợ xấu thường xuất hiện khi các con nợ công bố phá sản hoặc những nỗ lực thu gom đang theo đuổi tạo ra những khoản chi 7 phí lớn hơn bản thân của các khoản nợ đó.

Khi đó các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng sẽ ghi các khoản nợ xấu như một khoản chi phí để giảm thuế thu nhập. Tuy nhiên, những khoản nợ xấu này làm mất đi nguồn vốn của các doanh nghiệp để duy trì kinh doanh[2]. Theo Viện Tài chính Quốc tế (2010), nợ được phân thành 05 nhóm, trong đó nợ xấu bao gồm các nhóm 3, 4, 5 cụ thể như sau: Nhóm 1 – “Nợ đủ tiêu chuẩn: Là nợ có gốc và lãi trong hạn, không có dấu hiệu khó khăn trong thanh toán nợ và dự báo có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ theo cam kết”. Nhóm 2 – “Nợ cần chú ý: Là nợ trong tình trạng nếu không có các biện pháp xử lý có thể tăng nguy cơ không thanh toán đầy đủ gốc và lãi”.

Nhóm 3 – “Nợ dưới tiêu chuẩn: Là khoản nợ nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ gốc, lãi theo cam kết, hoặc gốc hoặc/và lãi quá hạn trên 90 ngày, hoặc tài sản đảm bảo giảm giá trị dẫn đến nguy cơ giảm giá trị khoản vay nếu không xử lý kịp thời”. Nhóm 4 – “Nợ nghi ngờ: Là nợ được xác định không thể thu hồi đầy đủ gốc, lãi trong điều kiện hiện hành hoặc lãi hoặc/và gốc quá hạn trên 180 ngày. Nợ nhóm này đã bị giảm giá trị nhưng chưa mất vốn hoàn toàn vì còn có những nhân tố được xác định có thể tác động cải thiện chất lượng nợ”. Nhóm 5 – “Nợ mất vốn: Là nợ được xác định không có khả năng thu hồi hoặc gốc hoặc/và lãi quá hạn trên 1 năm”.

Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đề cập trong Điều 10, Điều 11, Thông tư số 02/2013/ TT- NHNN ngày 21/1/2013 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc phân loại tài sản có mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Cụ thể: - Tại Điều 10 của Thông tư 02 quy định việc phân loại nợ tại các tổ chức tín dụng theo tiêu thức định lượng trong đó “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. + Nợ nhóm 3, bao gồm: “(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; (v) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài [2] C. Davies, (2005) "Bad Debt." Collins Dictionary of Economics, 4th ed.

2016 8 không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp; Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế, cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. + Nợ nhóm 4, bao gồm: “(i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Khoản nợ quy định tại Điểm C, Khoản 1, Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này”. + Nợ nhóm 5, bao gồm: “(i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Khoản nợ quy định tại Điểm C, Khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản; (viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5, bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng”. - Tại Điều 11, Thông tư 02 các khoản nợ được phân loại theo phương pháp định tính và nợ xấu bao gồm các khoản nợ thuộc các nhóm nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5.

Trong đó 9 + Nợ nhóm 3, bao gồm: “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết”. + Nợ nhóm 4, bao gồm: “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao; Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam" của tác giả Phạm Thị Trúc Quỳnh, được thực hiện tại Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân vào năm 2020, tập trung nghiên cứu các yếu tố tác động đến thị trường nợ xấu tại Việt Nam. Bài luận án này không chỉ phân tích tình hình nợ xấu mà còn đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và quản lý hiệu quả hơn trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Đối với những ai quan tâm đến việc hiểu rõ hơn về nợ xấu và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, bài viết này sẽ cung cấp những thông tin quý giá và cái nhìn sâu sắc về vấn đề này.

Ngoài ra, bạn có thể khám phá thêm những tài liệu liên quan như Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam, nơi phân tích sự ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng, hay Phân Tích Các Nhân Tố Ảnh Hưởng Đến Hiệu Quả Hoạt Động Của Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam, giúp bạn hiểu rõ hơn về các yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về nâng cao chất lượng tín dụng cho ngành công nghiệp hỗ trợ tại ngân hàng thương mại Việt Nam cũng sẽ là một nguồn tài liệu hữu ích để bạn tìm hiểu thêm về việc nâng cao chất lượng tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường nợ xấu và các yếu tố liên quan trong ngành tài chính - ngân hàng.