CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ NỢ XẤU VÀ THỊ TRƯỜNG NỢ XẤU 1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu 1.1 Các quan điểm về nợ xấu Cho đến nay, đã có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu đã được đưa ra. Nợ xấu là các khoản cho vay chưa được thanh toán cả lãi lẫn gốc trong một thời gian dài, trái với các điều kiện và điều khoản trong hợp đồng của khoản vay. Hay nói các khác, bất kỳ khoản vay nào không được trả cả lãi lẫn gốc theo điều khoản của hợp đồng khi đến ngày phải trả đều được gọi là nợ xấu và lượng nợ xấu được đo bằng giá trị sổ sách của khoản vay (Tseganesh, 2012). Còn theo quỹ tiền tệ thế giới (IMF, 2009), về cơ bản nợ xấu là khoản nợ khi thời gian trả lãi và/hoặc gốc quá hạn trên 90 ngày, hoặc các khoản lãi chưa trả quá hạn từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn thanh toán dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ.
Trong hướng dẫn quản lý rủi ro tín dụng, Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: điều kiện thứ nhất là Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động thu hồi; điều kiện thứ hai là người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày. Do đó, có thể hiểu nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản nợ đã quá hạn trên 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Theo nhóm chuyên gia tư vấn định nghĩa “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ không được thanh toán đầy đủ”. Theo Machiraju (2010), nợ xấu là các khoản tiền cho vay không chắc chắn nhận được đến khi ngân hàng nhận lại chúng và các khoản cho vay mà tỷ lệ lãi suất được hạ thấp do ngày đáo hạn tăng bởi các vấn đề liên quan đến người vay.
Machiraju cũng nhấn mạnh rằng nợ xấu là chỉ số hàng đầu của chất lượng tín dụng. Còn theo quy định của ngân hàng Ethopia nợ xấu được xác định là khoản cho vay khó thu hồi và là khoản cho vay có chất lượng tín dụng thấp, việc thu gom cả lãi lẫn gốc theo các điều khoản trong hợp đồng được đặt trong tình trạng nghi ngờ (NBE, 2008). Theo Farlex Financial Dictionary (2012) nợ xấu còn được xác định là các khoản nợ từ việc bán tín dụng mà chủ nợ đã thực hiện mọi nỗ lực để thu hồi các khoản cho vay nhưng không thể thu hồi. Nợ xấu thường xuất hiện khi các con nợ công bố phá sản hoặc những nỗ lực thu gom đang theo đuổi tạo ra những khoản chi 7 phí lớn hơn bản thân của các khoản nợ đó.
Khi đó các doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng sẽ ghi các khoản nợ xấu như một khoản chi phí để giảm thuế thu nhập. Tuy nhiên, những khoản nợ xấu này làm mất đi nguồn vốn của các doanh nghiệp để duy trì kinh doanh[2]. Theo Viện Tài chính Quốc tế (2010), nợ được phân thành 05 nhóm, trong đó nợ xấu bao gồm các nhóm 3, 4, 5 cụ thể như sau: Nhóm 1 – “Nợ đủ tiêu chuẩn: Là nợ có gốc và lãi trong hạn, không có dấu hiệu khó khăn trong thanh toán nợ và dự báo có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn, đầy đủ theo cam kết”. Nhóm 2 – “Nợ cần chú ý: Là nợ trong tình trạng nếu không có các biện pháp xử lý có thể tăng nguy cơ không thanh toán đầy đủ gốc và lãi”.
Nhóm 3 – “Nợ dưới tiêu chuẩn: Là khoản nợ nghi ngờ về khả năng thanh toán đầy đủ gốc, lãi theo cam kết, hoặc gốc hoặc/và lãi quá hạn trên 90 ngày, hoặc tài sản đảm bảo giảm giá trị dẫn đến nguy cơ giảm giá trị khoản vay nếu không xử lý kịp thời”. Nhóm 4 – “Nợ nghi ngờ: Là nợ được xác định không thể thu hồi đầy đủ gốc, lãi trong điều kiện hiện hành hoặc lãi hoặc/và gốc quá hạn trên 180 ngày. Nợ nhóm này đã bị giảm giá trị nhưng chưa mất vốn hoàn toàn vì còn có những nhân tố được xác định có thể tác động cải thiện chất lượng nợ”. Nhóm 5 – “Nợ mất vốn: Là nợ được xác định không có khả năng thu hồi hoặc gốc hoặc/và lãi quá hạn trên 1 năm”.
Tại Việt Nam, khái niệm nợ xấu được đề cập trong Điều 10, Điều 11, Thông tư số 02/2013/ TT- NHNN ngày 21/1/2013 của Ngân hàng nhà nước Việt Nam quy định việc phân loại tài sản có mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Cụ thể: - Tại Điều 10 của Thông tư 02 quy định việc phân loại nợ tại các tổ chức tín dụng theo tiêu thức định lượng trong đó “Nợ xấu” là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5. + Nợ nhóm 3, bao gồm: “(i) Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; (ii) Nợ gia hạn nợ lần đầu; (iii) Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; (iv) Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra; (v) Nợ thuộc một trong các trường hợp sau đây: Nợ của khách hàng hoặc bên bảo đảm là tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng mà tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài [2] C. Davies, (2005) "Bad Debt." Collins Dictionary of Economics, 4th ed.
2016 8 không được cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; Nợ được bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng hoặc tiền vay được sử dụng để góp vốn vào một tổ chức tín dụng khác trên cơ sở tổ chức tín dụng cho vay nhận tài sản bảo đảm bằng cổ phiếu của chính tổ chức tín dụng nhận vốn góp; Nợ không có bảo đảm hoặc được cấp với điều kiện ưu đãi hoặc giá trị vượt quá 5% vốn tự có của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi cấp cho khách hàng thuộc đối tượng bị hạn chế, cấp tín dụng theo quy định của pháp luật; Nợ cấp cho các công ty con, công ty liên kết của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát có giá trị vượt các tỷ lệ giới hạn theo quy định của pháp luật; Nợ có giá trị vượt quá các giới hạn cấp tín dụng, trừ trường hợp được phép vượt giới hạn, theo quy định của pháp luật; Nợ vi phạm các quy định của pháp luật về cấp tín dụng, quản lý ngoại hối và các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Nợ vi phạm các quy định nội bộ về cấp tín dụng, quản lý tiền vay, chính sách dự phòng rủi ro của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”. + Nợ nhóm 4, bao gồm: “(i) Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; (iv) Khoản nợ quy định tại Điểm C, Khoản 1, Điều này quá hạn từ 30 ngày đến 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; (v) Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vi) Nợ được phân loại vào nhóm 4 theo quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này”. + Nợ nhóm 5, bao gồm: “(i) Nợ quá hạn trên 360 ngày; (ii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; (iii) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; (iv) Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; (v) Khoản nợ quy định tại Điểm C, Khoản 1 Điều này quá hạn trên 60 ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; (vii) Nợ của khách hàng là tổ chức tín dụng được Ngân hàng nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản; (viii) Nợ được phân loại vào nhóm 5, bao gồm: các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu; các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng”. - Tại Điều 11, Thông tư 02 các khoản nợ được phân loại theo phương pháp định tính và nợ xấu bao gồm các khoản nợ thuộc các nhóm nhóm 3, nhóm 4 và nhóm 5.
Trong đó 9 + Nợ nhóm 3, bao gồm: “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất. Các cam kết ngoại bảng được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết”. + Nợ nhóm 4, bao gồm: “Các khoản nợ được tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là có khả năng tổn thất cao; Các cam kết ngoại bảng mà khả năng khách hàng không thực hiện cam kết là rất cao”.