CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Giới thiệu Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu để làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương tiếp theo, bao gồm các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại NHTM. Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, tác giả đưa ra các khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu cần được làm rõ trong luận án này. Tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Tác động của RRTD đến TSSL tại các NHTM đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là từ sau những cuộc đại khủng hoảng tài chính-tiền tệ lan rộng toàn cầu. Cooper & cộng sự (2003) cho rằng sự biến động về RRTD sẽ dẫn đến sự biến động về mức độ lành mạnh của danh mục cho vay và do đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NH.
Ducas & McLaughlin (1990) cho rằng sự biến động về mức sinh lời của NH phần lớn là do RRTD, bởi vì những tổn thất tài chính do RRTD gây ra sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của NH. Heffernan (1996) nhấn mạnh rằng RRTD là rủi ro xảy ra khi một TS hoặc một khoản vay không thể thu hồi trong trường hợp KH vỡ nợ hoàn toàn hoặc rủi ro chậm trễ trong việc hoàn trả các khoản cho vay và ứng trước. Do vậy, khi rủi ro đó xảy ra hoặc kéo dài thì lợi nhuận hay khả năng sinh lời của NH sẽ bị ảnh hưởng. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động của RRTD đến TSSL có kết quả trái chiều nhau do việc sử dụng các thước đo khả năng sinh lời khác nhau, hoặc do sự khác biệt về phạm vi nghiên cứu, đặc thù của ngành NH ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ.
Tác động của rủi ro tín dụng nội bảng đến ROA, ROE Với TSSL được đo lường bởi ROA, ROE và RRTD nội bảng được đo lường bởi tỷ lệ nợ xấu hoặc tỷ lệ DP RRTD, đa số các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tác động ngược chiều giữa RRTD và TSSL. Bourke (1989) đã chỉ ra rằng mức độ RRTD có ảnh hưởng tiêu cực đến TSSL của các NH ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc. Ducas & McLaughlin (1990) cũng cho rằng mức sinh lời của NH bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực bởi những tổn thất do RRTD gây ra. Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến TSSL của các NHTM ở 18 quốc gia Châu Âu, Molyneux & Thornton (1992) cũng cho kết quả tương tự về tác động ngược chiều giữa hai biến số này.
Dư nợ cho vay cao sẽ làm tăng khả năng xảy ra các khoản vay không thể hoàn trả được, gây ra những thiệt hại về tài chính và do đó có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của NH (Miller & Noulas, 1997). Mặc khác, Ahmed & 9 cộng sự (1998) cho rằng dự phòng RRTD có quan hệ thuận chiều với tỷ lệ NX, do vậy khi DP RRTD tăng lên chứng tỏ RRTD cũng tăng lên, chất lượng của các khoản vay giảm và dẫn đến sự xói mòn về lợi nhuận trước thuế của NH. Khi xem xét tác động của RRTD đến TSSL tại các NH ở Hy Lạp, Athanasoglou & cộng sự (2008) cũng chỉ ra rằng tổn thất do RRTD gây ra sẽ có ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của NH. Các NH ở Hy Lạp vì muốn tối đa hóa lợi nhuận mà theo đuổi chiến lược né tránh rủi ro, do vậy họ mất rất nhiều chi phí để quản lý và kiểm soát RRTD.
Bên cạnh đó, để giảm thiểu tác động của RRTD, các NH thường trích lập dự phòng RRTD, điều này cũng làm cho ROA của NH giảm đi (Kosmidou, 2008). Sự gia tăng của quy mô cho vay và sự suy giảm của chất lượng quản lý khoản vay sẽ dẫn đến RRTD, từ đó làm suy giảm TSSL (ROA) tại các NHTM ở Thổ Nhĩ Kỳ (Anbar & Alper, 2011). RRTD có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản vì khi các khoản vay không thu hồi được hoặc chậm thu hồi sẽ ảnh hưởng đến việc hoàn trả tiền đã huy động từ khách hàng, dẫn đến những khó khăn về tài chính và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của NH (Kargi, 2011). Một hệ thống quản trị RRTD hiệu quả là hết sức cần thiết cho các NHTM để giảm thiểu những nguy cơ và mối đe dọa từ các khoản nợ xấu đến lợi nhuận (Felix & Claudine, 2008).
Nghiên cứu của Aremu & cộng sự (2010) chỉ ra rằng nợ xấu và dự phòng RRTD là mối đe dọa chính đối với TSSL của các NH ở Nigeria. Khi RRTD xảy ra, các NH có thể gặp rủi ro thanh khoản và những rắc rối tài chính khác, cho nên việc cung cấp thông tin về lịch sử tín dụng của KH để giảm thiểu RRTD là điều cần thiết đối với quốc gia này. Nghiên cứu của Million & cộng sự (2015) tại các NHTM ở Ethiopia cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa nợ xấu và TSSL, do vậy các NH cần phải cải thiện hệ thống quản trị RRTD và dịch vụ cho vay để duy trì mức TSSL cao. Các NH có mức dự phòng lớn so với quy mô cho vay, hoặc không chú trọng việc nhận diện, phân loại, đo lường và quản lý RRTD thì thường sẽ có TSSL thấp (Maja Pervan & cộng sự, 2015).
Kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản của Hong Liu & Wilson (2010), tại Thụy Sỹ của Dietrich & Wanzenried (2011), tại Tây Ban Nha của Trujillo-Ponce (2013), tại Mỹ của Kashian & Tao (2014), tại Croatia của Maja Pervan & cộng sự (2015), tại Châu Phi của Peterson (2017), tại 42 quốc gia ở khu vực châu Á của Lee & Hsieh (2013) đều cho thấy tác động ngược chiều của RRTD đo lường bởi tỷ lệ NX hoặc tỷ lệ DP RRTD đến ROA, ROE. Các nghiên cứu ở các nước đang phát triển ở khu vực châu Á cho thấy có sự tương đồng về chiều hướng tác động ngược chiều của RRTD đến ROA, ROE. Nghiên cứu của Ghalib (2018) tại Indonesia cho thấy tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến ROA và ROE. Ở quốc gia này, tỷ lệ NX tối đa là 5%, nếu vượt qua mức này thì các NH sẽ 10 được đưa vào diện giám sát đặc biệt và bắt buộc phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu RRTD.
Các NH lớn ở Indonesia thường có tỷ lệ cho vay trên tổng TS thấp hơn so với các NH nhỏ và RRTD cũng có tác động xấu đến TSSL (Abdul & Muazaroh, 2017). Sufian & Chong (2008) chỉ ra rằng các NH ở Philippin với tỷ lệ dự phòng RRTD cao thường sẽ có TSSL (ROA) thấp do sự yếu kém trong việc quản lý RRTD và sự không minh bạch về thông tin tại quốc gia này, đặc biệt là việc các NH không nhận ra sự giảm giá của các TS thế chấp và đã sử dụng DP để bù đắp cho sự sụt giảm này. Nghiên cứu của Ivan & cộng sự (2018) cho thấy tỷ lệ NX cũng có tác động nghịch biến với ROE tại các NH ở Malaysia giai đoạn 2010-2015, vì các NH thường gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa người đi vay có năng lực trả nợ tốt và không tốt. Việc cho vay đối với khách hàng không đủ khả năng trả nợ đã làm cho tỷ lệ NX tại các NH ở nước này tăng và ảnh hưởng xấu đến TSSL.
Với thời gian nghiên cứu từ 2003 đến 2016, Lee (2018) cũng cho thấy tỷ lệ NX tại các NH ở Malaysia có tác động âm đến ROA nhưng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình ước lượng. Tan & Floros (2012) cũng tìm thấy tỷ lệ dự phòng RRTD có tác động tiêu cực đến ROA tại các NHTM ở Trung Quốc. Sufian & Habibullah (2009b) chỉ ra rằng tỷ lệ dự phòng RRTD có chiều hướng tác động tiêu cực đối với ROA, ROE tại các NH tư nhân và NH quy mô nhỏ ở địa phương tại quốc gia này. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy kết quả tác động ngược chiều giữa RRTD và TSSL đo lường bởi ROA, ROE (Phạm Hữu Hồng Thái, 2014; Trịnh Quốc Trung & Nguyễn Văn Sang, 2013; Phạm Thị Kiều Khanh & Phạm Thị Bích Duyên, 2018; Nguyen Hien & Nguyen Dung, 2018).
Nguyen Thi Hong Vinh (2017) nghiên cứu về ảnh hưởng của nợ xấu đến TSSL tại 34 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015 cũng chỉ ra rằng các NHTM Việt Nam có mức sinh lời thấp do sự gia tăng của tỷ lệ nợ xấu. Chất lượng nợ giảm đã làm tăng chi phí DP rủi ro và giảm thu nhập từ lãi do những ràng buộc về các điều kiện an toàn vốn của NH. Tương tự, Nguyen Thi Canh & cộng sự (2018) cũng tìm thấy tác động tiêu cực của tỷ lệ NX đến ROA và ROE với mẫu nghiên cứu là 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2013. RRTD sẽ càng tăng cao khi các ngân hàng theo đuổi chính sách lãi suất cho vay cao, đặc biệt khi nền kinh tế và thị trường bất động sản có sự tăng trưởng mạnh mẽ sẽ càng làm cho RRTD trở nên trầm trọng (Lê Bá Trực, 2018).
Khi RRTD tăng 1% thì hiệu quả kinh doanh (đầu ra) của các NH ở Việt Nam sẽ giảm 0,586% (Nguyễn Thu Nga, 2017). Tác động tiêu cực của RRTD đến TSSL có xu hướng mạnh mẽ hơn sau khi Chính phủ thành lập VAMC (Phạm Thị Kiều Khanh & Phạm Thị Bích Duyên, 2018). Với thước đo RRTD là tỷ lệ nợ xấu, dữ liệu giai đoạn 2010-2018 và phương pháp ước lượng 11 GMM, Khanh Ngoc Nguyen (2019) đã tìm thấy tác động tiêu cực của tỷ lệ NX với ROA, ROE đối với mẫu nghiên cứu gồm 26 NHTM Việt Nam, tuy nhiên, tỷ lệ NX lại có tác động tích cực (có ý nghĩa thống kê) đến ROA tại nhóm các NHTM không niêm yết. Trong giai đoạn này, nợ xấu vẫn còn khá cao, thị trường mua bán nợ vẫn chưa hình thành, trong khi đó việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi vốn cho các khoản nợ mất vốn vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do những biến động của thị trường bất động sản.
Các NH vẫn phải trích lập dự phòng RRTD rất cao nên ảnh hưởng xấu đến mức sinh lời. Tổng hợp các nghiên cứu về tác động tiêu cực của RRTD nội bảng đến ROA, ROE Thời gian Phương Tác giả Phạm vi NC Kết quả nghiên cứu NC pháp NC Bourke (1989) Bắc Mỹ, Úc, 1972-1981 OLS Tỷ lệ DP RRTD có tác động ngược Châu Âu chiều với ROA của NH. Miller & Noulas Mỹ 1984-1990 OLS, FEM Sự gia tăng tỷ lệ dự phòng RRTD (1997) hoặc tỷ lệ khoản cho vay được xóa nợ sẽ làm giảm ROA của NH.