Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chuyên khảo Tác động của rủi ro tín dụng đến lợi nhuận ngân hàng thương mại việt n phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

145
14
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

1.2. Tác động của rủi ro tín dụng nội bảng đến ROA, ROE

1.3. Tác động của rủi ro tín dụng nội bảng đến NIM

1.4. Tác động của rủi ro tín dụng ngoại bảng đến tỷ suất sinh lời

1.5. Tác động phi tuyến tính của rủi ro tín dụng đến ROA, ROE

1.6. Các phương pháp ước lượng

1.7. Khoảng trống nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại

2.2. Quan niệm về tỷ suất sinh lời

2.3. Các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại

2.4. Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại

2.4.1. Khái niệm rủi ro tín dụng

2.4.2. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng

2.5. Các nhân tố khác tác động đến tỷ suất sinh lời của ngân hàng thương mại

2.5.1. Các nhân tố đặc trưng của ngân hàng

2.5.2. Các nhân tố kinh tế vĩ mô

2.5.3. Các lý thuyết nền tảng

2.5.3.1. Lý thuyết đánh đổi rủi ro - lợi nhuận
2.5.3.2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng
2.5.3.3. Các giả thuyết khác

2.6. Khung mô hình nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình nghiên cứu

3.2. Lựa chọn biến phụ thuộc

3.3. Lựa chọn biến độc lập

3.4. Lựa chọn biến kiểm soát

3.5. Mô hình nghiên cứu

3.6. Dữ liệu nghiên cứu

3.6.1. Nguồn thu thập dữ liệu

3.6.2. Mô tả dữ liệu nghiên cứu

3.6.3. Kiểm định tính vững của dữ liệu nghiên cứu

3.7. Phương pháp ước lượng

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam

4.2. Kết quả ước lượng

4.2.1. Tác động tuyến tính của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời

4.2.2. Tác động phi tuyến tính của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời

4.2.3. Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời theo quy mô tổng tài sản của ngân hàng

4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.3.1. Giải thích kết quả ước lượng

4.3.2. Trả lời các câu hỏi nghiên cứu

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

5.1. Một số khuyến nghị đối với ngân hàng thương mại

5.1.1. Xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng chú trọng đến các hoạt động ngoại bảng

5.1.2. Thúc đẩy tăng trưởng quy mô cho vay

5.1.3. Xây dựng cấu trúc vốn hợp lý

5.1.4. Đa dạng hóa hoạt động phi tín dụng

5.1.5. Ước tính mức độ rủi ro tín dụng tối ưu

5.1.6. Một số khuyến nghị khác

5.2. Một số khuyến nghị đối với Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước

5.3. Những đóng góp của luận án

5.4. Những hạn chế của luận án

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về rủi ro tín dụng và lợi nhuận ngân hàng

Rủi ro tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng. Trong bối cảnh ngân hàng thương mại Việt Nam, rủi ro tín dụng không chỉ tác động đến khả năng sinh lời mà còn ảnh hưởng đến sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính. Theo lý thuyết đánh đổi rủi ro - lợi nhuận, mối quan hệ giữa rủi ro và lợi nhuận thường được coi là có tính chất thuận chiều. Tuy nhiên, một số nghiên cứu lại chỉ ra rằng khi rủi ro vượt quá một ngưỡng nhất định, nó có thể dẫn đến việc giảm sút lợi nhuận. Điều này đặc biệt đúng trong trường hợp tín dụng ngân hàng khi tỷ lệ nợ xấu gia tăng, buộc ngân hàng phải trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, làm giảm lợi nhuận. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy rằng rủi ro tín dụng có thể có tác động tiêu cực đến các chỉ số như ROA và ROE. Theo nghiên cứu của Trujillo-Ponce (2013), sự gia tăng của nợ xấu làm giảm hiệu quả hoạt động của ngân hàng, điều này cho thấy rằng quản lý rủi ro tín dụng là rất cần thiết để duy trì lợi nhuận.

II. Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng rủi ro tín dụng có tác động phi tuyến tính đến tỷ suất sinh lời tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong giai đoạn 2009-2018. Cụ thể, khi tín dụng ngân hàng ở mức thấp, rủi ro tín dụng có thể thúc đẩy lợi nhuận thông qua việc tăng cường khả năng cho vay. Tuy nhiên, khi rủi ro tín dụng tăng cao, hiệu quả sinh lời lại giảm sút. Điều này được minh chứng qua các số liệu thống kê cho thấy trong giai đoạn 2011-2014, tỷ lệ nợ xấu gia tăng đã dẫn đến sự sụt giảm mạnh của ROA và ROE. Theo nghiên cứu, các ngân hàng có quy mô tổng tài sản lớn có xu hướng có tỷ suất sinh lời thấp hơn do chi phí quản lý cao và các vấn đề về quan liêu. Nghiên cứu của Miller & Noulas (1997) cũng cho thấy rằng rủi ro tín dụng có thể dẫn đến những chi phí ẩn mà ngân hàng phải gánh chịu, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận.

III. Quản lý rủi ro tín dụng trong ngân hàng

Quản lý rủi ro tín dụng là một trong những yếu tố then chốt để duy trì hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại. Việc xây dựng một mô hình quản lý rủi ro hiệu quả không chỉ giúp ngân hàng kiểm soát các khoản vay có vấn đề mà còn tối ưu hóa lợi nhuận. Các ngân hàng cần áp dụng các phương pháp quản lý rủi ro tiên tiến, bao gồm phân tích tín dụng, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, và xây dựng các cơ chế dự phòng phù hợp. Theo PGS. Phan Thị Thu Hà, việc chú trọng đến quản lý rủi ro sẽ giúp ngân hàng duy trì được lợi nhuận ngân hàng ổn định và bền vững. Hơn nữa, các ngân hàng cũng cần phải tăng cường đa dạng hóa hoạt động phi tín dụng để giảm thiểu rủi ro và tăng cường nguồn thu nhập từ các nguồn khác.

IV. Kết luận và khuyến nghị

Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng rủi ro tín dụng có tác động lớn đến lợi nhuận ngân hàng tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam. Để cải thiện tình hình, các ngân hàng cần xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng một cách bài bản, chú trọng đến cả hoạt động nội bảng và ngoại bảng. Việc áp dụng các mô hình quản lý rủi ro hiện đại sẽ giúp ngân hàng không chỉ giảm thiểu rủi ro mà còn tối ưu hóa lợi nhuận. Ngoài ra, ngân hàng cũng nên chú trọng đến việc nâng cao năng lực phân tích và đánh giá rủi ro tín dụng, từ đó đưa ra các quyết định tín dụng chính xác và kịp thời. Điều này sẽ góp phần nâng cao tính bền vững và ổn định của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

20/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Giới thiệu Chương này trình bày tổng quan các nghiên cứu để làm nền tảng cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu ở chương tiếp theo, bao gồm các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại NHTM. Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, tác giả đưa ra các khoảng trống nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu cần được làm rõ trong luận án này. Tổng hợp các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Tác động của RRTD đến TSSL tại các NHTM đã được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là từ sau những cuộc đại khủng hoảng tài chính-tiền tệ lan rộng toàn cầu. Cooper & cộng sự (2003) cho rằng sự biến động về RRTD sẽ dẫn đến sự biến động về mức độ lành mạnh của danh mục cho vay và do đó sẽ ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của NH.

Ducas & McLaughlin (1990) cho rằng sự biến động về mức sinh lời của NH phần lớn là do RRTD, bởi vì những tổn thất tài chính do RRTD gây ra sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của NH. Heffernan (1996) nhấn mạnh rằng RRTD là rủi ro xảy ra khi một TS hoặc một khoản vay không thể thu hồi trong trường hợp KH vỡ nợ hoàn toàn hoặc rủi ro chậm trễ trong việc hoàn trả các khoản cho vay và ứng trước. Do vậy, khi rủi ro đó xảy ra hoặc kéo dài thì lợi nhuận hay khả năng sinh lời của NH sẽ bị ảnh hưởng. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy tác động của RRTD đến TSSL có kết quả trái chiều nhau do việc sử dụng các thước đo khả năng sinh lời khác nhau, hoặc do sự khác biệt về phạm vi nghiên cứu, đặc thù của ngành NH ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ.

Tác động của rủi ro tín dụng nội bảng đến ROA, ROE Với TSSL được đo lường bởi ROA, ROE và RRTD nội bảng được đo lường bởi tỷ lệ nợ xấu hoặc tỷ lệ DP RRTD, đa số các nghiên cứu trước đây đều cho thấy tác động ngược chiều giữa RRTD và TSSL. Bourke (1989) đã chỉ ra rằng mức độ RRTD có ảnh hưởng tiêu cực đến TSSL của các NH ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Úc. Ducas & McLaughlin (1990) cũng cho rằng mức sinh lời của NH bị ảnh hưởng theo hướng tiêu cực bởi những tổn thất do RRTD gây ra. Khi nghiên cứu các nhân tố tác động đến TSSL của các NHTM ở 18 quốc gia Châu Âu, Molyneux & Thornton (1992) cũng cho kết quả tương tự về tác động ngược chiều giữa hai biến số này.

Dư nợ cho vay cao sẽ làm tăng khả năng xảy ra các khoản vay không thể hoàn trả được, gây ra những thiệt hại về tài chính và do đó có tác động tiêu cực đến lợi nhuận của NH (Miller & Noulas, 1997). Mặc khác, Ahmed & 9 cộng sự (1998) cho rằng dự phòng RRTD có quan hệ thuận chiều với tỷ lệ NX, do vậy khi DP RRTD tăng lên chứng tỏ RRTD cũng tăng lên, chất lượng của các khoản vay giảm và dẫn đến sự xói mòn về lợi nhuận trước thuế của NH. Khi xem xét tác động của RRTD đến TSSL tại các NH ở Hy Lạp, Athanasoglou & cộng sự (2008) cũng chỉ ra rằng tổn thất do RRTD gây ra sẽ có ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của NH. Các NH ở Hy Lạp vì muốn tối đa hóa lợi nhuận mà theo đuổi chiến lược né tránh rủi ro, do vậy họ mất rất nhiều chi phí để quản lý và kiểm soát RRTD.

Bên cạnh đó, để giảm thiểu tác động của RRTD, các NH thường trích lập dự phòng RRTD, điều này cũng làm cho ROA của NH giảm đi (Kosmidou, 2008). Sự gia tăng của quy mô cho vay và sự suy giảm của chất lượng quản lý khoản vay sẽ dẫn đến RRTD, từ đó làm suy giảm TSSL (ROA) tại các NHTM ở Thổ Nhĩ Kỳ (Anbar & Alper, 2011). RRTD có thể dẫn đến rủi ro thanh khoản vì khi các khoản vay không thu hồi được hoặc chậm thu hồi sẽ ảnh hưởng đến việc hoàn trả tiền đã huy động từ khách hàng, dẫn đến những khó khăn về tài chính và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của NH (Kargi, 2011). Một hệ thống quản trị RRTD hiệu quả là hết sức cần thiết cho các NHTM để giảm thiểu những nguy cơ và mối đe dọa từ các khoản nợ xấu đến lợi nhuận (Felix & Claudine, 2008).

Nghiên cứu của Aremu & cộng sự (2010) chỉ ra rằng nợ xấu và dự phòng RRTD là mối đe dọa chính đối với TSSL của các NH ở Nigeria. Khi RRTD xảy ra, các NH có thể gặp rủi ro thanh khoản và những rắc rối tài chính khác, cho nên việc cung cấp thông tin về lịch sử tín dụng của KH để giảm thiểu RRTD là điều cần thiết đối với quốc gia này. Nghiên cứu của Million & cộng sự (2015) tại các NHTM ở Ethiopia cũng cho thấy mối quan hệ tiêu cực giữa nợ xấu và TSSL, do vậy các NH cần phải cải thiện hệ thống quản trị RRTD và dịch vụ cho vay để duy trì mức TSSL cao. Các NH có mức dự phòng lớn so với quy mô cho vay, hoặc không chú trọng việc nhận diện, phân loại, đo lường và quản lý RRTD thì thường sẽ có TSSL thấp (Maja Pervan & cộng sự, 2015).

Kết quả nghiên cứu tại Nhật Bản của Hong Liu & Wilson (2010), tại Thụy Sỹ của Dietrich & Wanzenried (2011), tại Tây Ban Nha của Trujillo-Ponce (2013), tại Mỹ của Kashian & Tao (2014), tại Croatia của Maja Pervan & cộng sự (2015), tại Châu Phi của Peterson (2017), tại 42 quốc gia ở khu vực châu Á của Lee & Hsieh (2013) đều cho thấy tác động ngược chiều của RRTD đo lường bởi tỷ lệ NX hoặc tỷ lệ DP RRTD đến ROA, ROE. Các nghiên cứu ở các nước đang phát triển ở khu vực châu Á cho thấy có sự tương đồng về chiều hướng tác động ngược chiều của RRTD đến ROA, ROE. Nghiên cứu của Ghalib (2018) tại Indonesia cho thấy tỷ lệ nợ xấu có tác động tiêu cực đến ROA và ROE. Ở quốc gia này, tỷ lệ NX tối đa là 5%, nếu vượt qua mức này thì các NH sẽ 10 được đưa vào diện giám sát đặc biệt và bắt buộc phải thực hiện các biện pháp giảm thiểu RRTD.

Các NH lớn ở Indonesia thường có tỷ lệ cho vay trên tổng TS thấp hơn so với các NH nhỏ và RRTD cũng có tác động xấu đến TSSL (Abdul & Muazaroh, 2017). Sufian & Chong (2008) chỉ ra rằng các NH ở Philippin với tỷ lệ dự phòng RRTD cao thường sẽ có TSSL (ROA) thấp do sự yếu kém trong việc quản lý RRTD và sự không minh bạch về thông tin tại quốc gia này, đặc biệt là việc các NH không nhận ra sự giảm giá của các TS thế chấp và đã sử dụng DP để bù đắp cho sự sụt giảm này. Nghiên cứu của Ivan & cộng sự (2018) cho thấy tỷ lệ NX cũng có tác động nghịch biến với ROE tại các NH ở Malaysia giai đoạn 2010-2015, vì các NH thường gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa người đi vay có năng lực trả nợ tốt và không tốt. Việc cho vay đối với khách hàng không đủ khả năng trả nợ đã làm cho tỷ lệ NX tại các NH ở nước này tăng và ảnh hưởng xấu đến TSSL.

Với thời gian nghiên cứu từ 2003 đến 2016, Lee (2018) cũng cho thấy tỷ lệ NX tại các NH ở Malaysia có tác động âm đến ROA nhưng không có ý nghĩa thống kê trong mô hình ước lượng. Tan & Floros (2012) cũng tìm thấy tỷ lệ dự phòng RRTD có tác động tiêu cực đến ROA tại các NHTM ở Trung Quốc. Sufian & Habibullah (2009b) chỉ ra rằng tỷ lệ dự phòng RRTD có chiều hướng tác động tiêu cực đối với ROA, ROE tại các NH tư nhân và NH quy mô nhỏ ở địa phương tại quốc gia này. Các nghiên cứu tại Việt Nam cũng cho thấy kết quả tác động ngược chiều giữa RRTD và TSSL đo lường bởi ROA, ROE (Phạm Hữu Hồng Thái, 2014; Trịnh Quốc Trung & Nguyễn Văn Sang, 2013; Phạm Thị Kiều Khanh & Phạm Thị Bích Duyên, 2018; Nguyen Hien & Nguyen Dung, 2018).

Nguyen Thi Hong Vinh (2017) nghiên cứu về ảnh hưởng của nợ xấu đến TSSL tại 34 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2005-2015 cũng chỉ ra rằng các NHTM Việt Nam có mức sinh lời thấp do sự gia tăng của tỷ lệ nợ xấu. Chất lượng nợ giảm đã làm tăng chi phí DP rủi ro và giảm thu nhập từ lãi do những ràng buộc về các điều kiện an toàn vốn của NH. Tương tự, Nguyen Thi Canh & cộng sự (2018) cũng tìm thấy tác động tiêu cực của tỷ lệ NX đến ROA và ROE với mẫu nghiên cứu là 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2005-2013. RRTD sẽ càng tăng cao khi các ngân hàng theo đuổi chính sách lãi suất cho vay cao, đặc biệt khi nền kinh tế và thị trường bất động sản có sự tăng trưởng mạnh mẽ sẽ càng làm cho RRTD trở nên trầm trọng (Lê Bá Trực, 2018).

Khi RRTD tăng 1% thì hiệu quả kinh doanh (đầu ra) của các NH ở Việt Nam sẽ giảm 0,586% (Nguyễn Thu Nga, 2017). Tác động tiêu cực của RRTD đến TSSL có xu hướng mạnh mẽ hơn sau khi Chính phủ thành lập VAMC (Phạm Thị Kiều Khanh & Phạm Thị Bích Duyên, 2018). Với thước đo RRTD là tỷ lệ nợ xấu, dữ liệu giai đoạn 2010-2018 và phương pháp ước lượng 11 GMM, Khanh Ngoc Nguyen (2019) đã tìm thấy tác động tiêu cực của tỷ lệ NX với ROA, ROE đối với mẫu nghiên cứu gồm 26 NHTM Việt Nam, tuy nhiên, tỷ lệ NX lại có tác động tích cực (có ý nghĩa thống kê) đến ROA tại nhóm các NHTM không niêm yết. Trong giai đoạn này, nợ xấu vẫn còn khá cao, thị trường mua bán nợ vẫn chưa hình thành, trong khi đó việc xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi vốn cho các khoản nợ mất vốn vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn do những biến động của thị trường bất động sản.

Các NH vẫn phải trích lập dự phòng RRTD rất cao nên ảnh hưởng xấu đến mức sinh lời. Tổng hợp các nghiên cứu về tác động tiêu cực của RRTD nội bảng đến ROA, ROE Thời gian Phương Tác giả Phạm vi NC Kết quả nghiên cứu NC pháp NC Bourke (1989) Bắc Mỹ, Úc, 1972-1981 OLS Tỷ lệ DP RRTD có tác động ngược Châu Âu chiều với ROA của NH. Miller & Noulas Mỹ 1984-1990 OLS, FEM Sự gia tăng tỷ lệ dự phòng RRTD (1997) hoặc tỷ lệ khoản cho vay được xóa nợ sẽ làm giảm ROA của NH.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ "Tác động của rủi ro tín dụng đến tỷ suất sinh lời tại ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam" của tác giả Trần Thị Thanh Diệu, dưới sự hướng dẫn của PGS. Phan Thị Thu Hà, đã phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Nghiên cứu chỉ ra rằng rủi ro tín dụng có ảnh hưởng đáng kể đến tỷ suất sinh lời, từ đó cung cấp những kiến thức quý giá cho các nhà quản lý ngân hàng trong việc xây dựng chiến lược quản lý rủi ro hiệu quả, nhằm tối ưu hóa lợi nhuận.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản trị rủi ro tín dụng, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam, nơi trình bày cách quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Ngoài ra, bài viết Luận văn chất lượng tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh tỉnh thái nguyên cũng mang đến những góc nhìn về chất lượng tín dụng và tác động của nó đến hoạt động ngân hàng. Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về hiệu quả hoạt động cho vay, bạn có thể xem xét bài viết Luận văn hiệu quả hoạt động cho vay tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn việt nam chi nhánh huyện thống nhất tỉnh đồng nai. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại tại Việt Nam.