Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và giải pháp 7 Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ 2. Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ Cụm từ “Supporting Industry” (công nghiệp hỗ trợ) được trình bày lần đầu tiên trong “Sách trắng về Hợp tác kinh tế năm 1985” của Bộ công thương Nhật Bản - MITI (hiện tại là Bộ Kinh tế, Công nghiệp và Thương mại, METI). Trong tài liệu này, “CNHT được dùng để chỉ các doanh nghiệp có đóng góp cho việc phát triển cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á, hay các công ty sản xuất linh phụ kiện.
Năm 1987, MITI tiếp tục giới thiệu về thuật ngữ này với định nghĩa chính thức là các ngành cung cấp những gì cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh phụ kiện và hàng hoá, cho các ngành công nghiệp lắp ráp. Ở Việt Nam, từ năm 2007 trong “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT Việt Nam đến 2010, tầm nhìn đến 2020” do Bộ Công thương soạn thảo, CNHT được định nghĩa “là hệ thống các nhà sản xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng… cho khâu lắp ráp cuối” cùng. CNHT được phân chia thành hai mảng chính: “mảng phần cứng liên quan đến sản xuất và mảng phần mềm là hệ thống dịch vụ Công nghiệp và” marketing. Những nhóm “ ngành đã được Chính phủ chỉ định ưu tiên phát triển CNHT và được hoạch định kế hoạch phát triển cụ thể, đó” là: Điện tử, cơ khí chế tạo, ô tô, dệt may, da giày.
Trần Văn Thọ (2011) “đưa ra khái niệm CNHT là toàn bộ những sản phẩm công nghiệp có vai trò hỗ trợ cho việc sản xuất các thành phẩm chính. Cụ thể là những linh kiện, phụ liệu, phụ tùng, sản phẩm bao bì, nguyên liệu để sơn, nhuộm…Và cũng có thể bao gồm cả những sản phẩm trung gian, những nguyên liệu sơ chế. Nếu kể các sản phẩm tương tự thì phạm vi sẽ rất rộng nhưng nếu thêm một đặc tính nữa sẽ thấy phạm vi rõ ràng hơn: Sản phẩm CNHT thường được sản xuất với quy mô nhỏ, thực hiện bởi các DNNVV” ngành này. Đến năm 2011, Việt Nam mới có khái niệm chính thức về CNHT, khái niệm này được nêu trong Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 24/02/2011 của Thủ tướng 8 Chính Phủ, cụ thể như sau: “CNHT là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh từ tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả sử dụng khái niệm về CNHT theo Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ban hành ngày 24/02/2011 của Thủ tướng Chính Phủ: “Công nghiệp hỗ trợ là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng linh kiện, phụ kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng”. Đặc điểm của ngành công nghiệp hỗ trợ - Sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ là tất yếu trong quá trình phân công lao động xã hội. Theo nghiên cứu của Ohno K (2007), tại các nước phát triển, khi quy mô sản xuất ” cũng như sự phức tạp hóa của sản phẩm xã hội đạt đến một mức độ nhất định, quá trình phân loại các hoạt động lắp ráp và sản xuất linh kiện thành những công đoạn độc lập sẽ hình thành, chuyên môn hóa sẽ xuất hiện. Quá trình này là tất yếu và gắn liền với sự thay đổi trong phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa này là sự ra đời của các ngành CNHT.
Còn tại các nước đang phát triển, với sự đầu tư của các nước phát triển trong ngành Công nghiệp lắp ráp như ô tô, xe máy, điện, điện tử… sẽ kéo theo sự phát triển ngành CNHT. (Ohno K, 2007), [47] ” - CNHT là lĩnh vực công nghiệp đa dạng Ohno K (2007) cho rằng “Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, các sản phẩm sản xuất ra ngày càng tinh vi hơn, mỗi sản phẩm lại có vô số các chi tiết hợp thành. Một Doanh nghiệp dù lớn đến mức nào cũng không thể và không nên tự mình sản xuất khép kín một sản phẩm. Lợi thế cạnh tranh và quá trình chuyên môn hóa sản xuất không cho phép làm điều đó.
Do vậy, để sản xuất một loại sản phẩm hoàn chỉnh cần sự tham gia của nhiều Doanh nghiệp, nhiều ngành khác nhau. Điều đó dẫn đến CNHT có phạm vi rất rộng, cả về mặt liên kết ngành hay địa lý”. Các doanh nghiệp hỗ trợ có mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau, sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp này là nguyên liệu đầu vào của doanh nghiệp khác. Cứ 9 như vậy, để có hệ thống các ngành CNHT, ngoài việc phải phát triển các ngành công nghiệp cơ bản, cần có sự phát triển của các ngành CNHT khác nữa.
Như vậy, chỉ với một sản phẩm được tạo thành bởi những sản phẩm nhỏ đã tạo chuỗi giá trị kéo dài và mở rộng ra hầu hết các ngành công nghiệp cơ bản và ngành công nghiệp khác. Chính vì vậy, trên thực tế CNHT thường bị coi là ngành Công nghiệp phụ. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không hợp lý. Về mặt lý luận CNHT có thể được hiểu là ngành đối xứng với ngành Công nghiệp lắp ráp, có vai trò như những ngành Công nghiệp khác.
Ngành Công nghiệp chính, chỉ có thể phát triển khi ngành CNHT phát triển và ngược lại, khi ngành Công nghiệp chính đã phát triển sẽ tạo động lực thúc đẩy phát triển CNHT”. (Ohno K, 2007), [47] - CNHT thu hút số lượng lớn các doanh nghiệp tham gia, nhất là các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) Theo Ohno K (2007), “Một đặc điểm của CNHT là nó thu hút một số lượng doanh nghiệp lớn, với nhiều qui mô khác nhau trong đó có một số lượng lớn các DNNVV. Do tính chất đa cấp và phát triển theo hình cây của hệ thống CNHT, số lượng các doanh nghiệp ở các cấp thấp rất lớn, đa phần là các DNNVV”. Phân loại công nghiệp hỗ trợ 2.1 Phân loại dựa trên ngành sản xuất ra sản phẩm cuối (Hoàng Văn Châu, 2010) [21] Trong bài nghiên cứu của Hoàng Văn Châu (2010), CNHT là một hệ thống bao trùm “ chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, CNHT có thể phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩm cuối cùng như: Cơ khí, tin học, dệt may… ” Cách phân loại CNHT dựa trên ngành sản xuất ra sản phẩm cuối được sử dụng khá phổ biến.
Ưu điểm của nó là xác định rõ ràng các đối tượng tham gia một hệ thống ngành công nghệ, đóng góp vào chuỗi giá trị để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng. Khi đã xác định rõ ràng các đối tượng tham gia vào ngành CNHT của từng ngành, thì việc xây dựng và triển khai các chính sách hỗ trợ sẽ hiệu quả hơn. 10 Tuy nhiên nghiên cứu cũng cho thấy, cách phân loại này gặp phải khó khăn khi doanh nghiệp CNHT tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau thì khó có thể xác định nhà sản xuất này tham gia vào một ngành đơn nhất nào đó. Chính sự giao thoa này làm hạn chế khả năng tiếp cận doanh nghiệp CNHT, kể cả về mặt nghiên cứu và chính sách.2 Phân loại theo ngành/ công nghệ sản xuất linh phụ kiện (Hoàng Văn Châu, 2010) [21] Theo Hoàng Văn Châu (2010), phân loại theo ngành/ công nghệ sản xuất linh phụ kiện là cách phân loại căn cứ vào chủng loại sản phẩm doanh nghiệp sản xuất hoặc công nghệ mà Doanh nghiệp đó sử dụng.
Với cách tiếp cận phân loại này, có thể phân loại CNHT theo các ngành sản xuất liên quan tới các vật liệu điển hình: Linh kiện nhựa, gia công kim khí, linh kiện… Nghiên cứu chỉ ra nhược điểm của cách phân loại thứ nhất “Phân loại theo ngành sản xuất ra sản phẩm cuối là không bao trùm hết toàn bộ ngành CNHT, các nhà cung cấp trực tiếp cho các nhà sản xuất lắp ráp sản phẩm cuối cùng thường là những nhà sản xuất những cụm linh kiện với nhiều chi tiết khác nhau như nhựa, kim loại… Cách phân loại này theo qui trình công nghệ hay gia công nguyên liệu hạn chế khả năng tiếp cận những nhà cung cấp trên.” Theo Hoàng Văn Châu (2010), “theo lịch sử phát triển của thuật ngữ CNHT, có thể nói ngành này là một trong những đối tượng ưu tiên trong chính sách hợp tác phát triển của các nước đang phát triển với các nước phát triển, nhất là Nhật Bản. Bản thân khái niệm CNHT cũng từ yêu cầu xây dựng chính sách phát triển liên kết công nghiệp mà ra. Đứng từ góc nhìn từ các nhà đầu tư nước ngoài, đối tượng các nhà cung cấp mà họ thường nhắm tới là những nhà sản xuất với các công nghệ và sản phẩm cụ thể như rèn, dập, đúc…Việc phân loại CNHT theo công nghệ sản xuất cho phép các Doanh nghiệp mà người lập chính sách tại các nước đang phát triển xác định đúng đối tượng ưu tiên trong chính sách của mình. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.
Quan điểm về chất lượng tín dụng và chất lượng tín dụng đối với ngành công nghiệp hỗ trợ tại các ngân hàng thương mại 11 2. Quan điểm về tín dụng ngân hàng và chất lượng tín dụng ngân hàng ▪ Tín dụng ngân hàng Trong chủ đề kinh tế học hiện đại, Tín dụng là mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ “ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận tiền hoặc tài sản cam kết hoàn trả vốn gốc và lãi cho bên chuyển giao tiền hoặc tài sản vô điều kiện theo thời hạn đã thoả thuận. (Nguyễn Văn ” Dung, 2009), [30] Điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 Quy định “cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác”.